
Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh: TS.BS Hà Anh Đức
Trải qua 70 năm, một chặng đường vượt qua mọi khó khăn, gian khổ không ngừng phấn đấu, xây dựng và phát triển. Hệ thống quản lý khám, chữa bệnh của ngành Y tế Việt Nam đã thu được những thành tựu rất đáng tự hào góp phần quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân mặc dù vẫn còn những thách thức cần được giải quyết.
Cách mạng Tháng Tám thành công (1945) Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được thành lập bao gồm 15 Bộ trong đó có Bộ Y tế. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, bộ máy Bộ Y tế chỉ có Văn phòng với 3 phòng: Phòng 1 (Hành chính – Quản trị), Phòng 2 (Kế toán – Tài vụ), Phòng 3 (Nhân sự) do một Đổng Lý Văn phòng phụ trách. Các công việc chuyên môn do một Đổng Lý Sự vụ phụ trách
Đến năm 1953 hai vụ đầu tiên của Bộ Y tế được thành lập là Vụ Phòng bệnh chữa bệnh và Vụ Bào Chế. Trải qua các tên gọi khác nhau theo từng giai đoạn: Vụ Phòng bệnh, chữa bệnh (Năm 1953); Vụ Chữa bệnh (Năm 1956); Cục Phòng bệnh, chữa bệnh (Năm 1967); Vụ Quản lý sức khỏe (Năm 1984); Vụ Điều trị (Năm 1995); Cục Quản lý Khám bệnh, chữa bệnh (Năm 2008). Cục quản lý Khám, chữa bệnh tiền thân là Vụ Phòng bệnh chữa bệnh, tuy trải qua nhiều tên gọi khác nhau nhưng vẫn chung một nhiệm vụ giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác khám bệnh, chữa bệnh, điều dưỡng, phục hồi chức năng, giám định y khoa, giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần trong cả nước.
Dưới sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Ban cán sự Đảng và lãnh đạo Bộ Y tế trong suốt 60 năm qua, cùng với sự nỗ lực không ngừng của các thế hệ lãnh đạo và chuyên viên của Cục Quản lý Khám, chữa bệnh hệ thống quản lý khám, chữa bệnh ngày càng được củng cố và phát triển. Các bác sỹ, các cán bộ quản lý đã dày công suy nghĩ xây dựng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực khám, chữa bệnh đã khá hoàn chỉnh: Từ Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân (năm 1989) đến nay là Luật Khám bệnh, chữa bệnh (năm 2011); Luật Hiến ghép mô, bộ phận cơ thể người; Luật Bảo hiểm y tế; Luật Người cao tuổi; Luật người khuyết tật; Luật giám định tư pháp; Luật PCTH thuốc lá cùng với hệ thống các Nghị định, Thông tư, Quyết định, Quy chế … Với 38 bệnh viện trực thuộc Bộ; 63 Sở Y tế; 1.162 bệnh viện công lập; 157 bệnh viện ngoài công lập; hơn 10.000 trạm y tế xã trong đó gần 70% số trạm có bác sỹ và 30.000 phòng khám tư, đã đáp ứng cơ bản nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân. Bên cạnh đó, cơ sở vật chất, trang thiết bị các bệnh viện được đầu tư, phát triển; nhiều kỹ thuật, công nghệ y học tiên tiến được áp dụng giúp người dân trong nước được tiếp cận với những dịch vụ y tế ngang tầm thế giới.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, hệ thống khám, chữa bệnh vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, bất cập, thách thức, đòi hỏi sự quan tâm hơn nữa của toàn xã hội và sự nỗ lực vươn lên của chính những người thầy thuốc làm việc trong lĩnh vực quản lý và thực hành lâm sàng.
Nhân dịp kỷ niệm 60 năm xây dựng và phát triển hệ thống quản lý khám, chữa bệnh thay mặt Ban biên soạn, Tôi xin trân trọng giới thiệu Trang tin của Cục quản lý khám chữa bệnh giới thiệu lịch sử 60 năm xây dựng và phát triển hệ thống quản lý khám, chữa bệnh. Thông qua Trang tin này, bạn đọc có thể thấu hiểu và chia sẻ những công việc mà những người làm công tác quản lý và các thày thuốc trực tiếp khám, chữa bệnh đã thực hiện trong suốt 60 năm qua.
Cũng nhân dịp này, Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các đồng chí Lãnh đạo Bộ Y tế, Lãnh đạo các Vụ, Cục, Thanh tra, Văn phòng Bộ, Lãnh đạo các cơ sở khám, chữa bệnh và những người thầy thuốc, bạn đọc đã ủng hộ và đồng hành với Cục Quản lý Khám, chữa bệnh trong suốt 70 năm qua.
Xin trân trọng cảm ơn!
Cục Quản lý Khám chữa bệnh tiền thân là Vụ Phòng bệnh, chữa bệnh được thành lập từ năm 1953 do bác sỹ Nguyễn Văn Tín giữ chức Giám đốc Vụ. Đây là một trong hai vụ đầu tiên được thành lập của Bộ Y tế, khi trụ sở Bộ Y tế đóng tại thôn An Bảo, xã Tân Long, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Đến năm 1954 BS. Võ Tố được tăng cường làm Phó giám đốc Vụ. Lúc đó, bộ máy của Vụ Phòng bệnh chữa bệnh gồm phòng Y chính và phòng Điều trị. Nhiệm vụ của Vụ Phòng bệnh, chữa bệnh thời kỳ này là chỉ đạo công tác phòng bệnh, chữa bệnh; chỉ đạo các hoạt động của hệ thống các bệnh viện, bệnh xá tuyến Trung ương tỉnh, huyện cho đến trạm y tế xã.
Năm 1956, dựa trên thực tiễn hoạt động của ngành, Vụ Phòng bệnh, chữa bệnh được tách ra thành Vụ chữa bệnh và Vụ phòng bệnh. Vụ Chữa bệnh vẫn do Bs. Nguyễn Văn Tín làm giám đốc và được bổ sung thêm hai phó giám đốc là BS. Nguyễn Kinh Chi – Nguyên là giám đốc Sở y tế liên khu 4 và BS Lê Văn Cơ – nguyên là trưởng ty y tế tỉnh Quảng Yên
Tháng 6/1961, phòng Đông Y thuộc Vụ Khám bệnh được tách ra và thành lập Vụ Đông y. Cuối năm 1961, BS. Nguyễn Văn Tín được bổ nhiệm giữ chức Giám đốc Sở Y tế Hà Nội. Bộ Y tế đã quyết định bổ nhiệm BS. Lê Văn Phụng giữ chức Vụ trưởng Vụ Chữa bệnh. Các BS. Trần Bảo, BS. Chu Văn Tích, BS. Lê Việt giữ chức Phó Vụ trưởng.
Năm 1967, Bộ Y tế quyết định đổi tên Vụ Chữa bệnh thành Cục Phòng bệnh, chữa bệnh và giao thêm quyền hạn cho Cục. Sau 3 năm hoạt động, mô hình tổ chức Cục trong Bộ Y tế gặp nhiều trở ngại. Năm 1970, Cục Phòng bệnh, chữa bệnh trở lại tên Vụ Phòng bệnh, chữa bệnh. Lúc này BS. Lâm Bạch Mẫu Đơn và BS. Đào Bá Khu được cử giữ chức Phó vụ trưởng.
Năm 1976, Bộ Y tế bổ nhiệm BS. Nguyễn Công Thắng giữ chức Phó Vụ trưởng, sau đó là Vụ trưởng; Bổ sung BS. Trần Văn Huyền, BS. Nguyễn Khánh Dư, BS. Phan Trinh, BS. Nguyễn Kim Phong, BS. Nguyễn Thế Thạch giữ chức Phó Vụ trưởng. Cũng trong thời gian này Vụ chữa bệnh được đổi tên thành Vụ Điều trị.
Năm 1984, Cục Quản lý sức khỏe trung ương sáp nhập vào Vụ Điều trị, thành lập Vụ Quản lý sức khỏe. BS. Nguyễn Kim Đương được Bộ trưởng Bộ Y tế bổ nhiệm Vụ trưởng Vụ Quản lý sức khỏe thay BS. Nguyễn Công Thắng lên làm Thứ trưởng. TS. Đào Văn Trân, TS. Lê Đức Chính, BS Đỗ Chí Ngạc, PGS. Đỗ Trọng Hiếu được bổ nhiệm giữ chức Phó Vụ trưởng.
Năm 1990, BS. Nguyễn Tiến Dĩnh được bổ nhiệm giữ chức Phó Vụ trưởng thay BS. Đỗ Chí Ngạc chuyển sang làm công tác Hội đồng BVSKTW.
Năm 1993, sau khi BS. Nguyễn Kim Đương về hưu Bộ Y tế bổ nhiệm TS. Đào Văn Trân làm quyền Vụ trưởng, rồi Vụ trưởng Vụ Quản lý sức khỏe
Năm 1995, Vụ Quản lý sức khỏe được lại được đổi tên thành Vụ Điều trị do PGS.TS. Trần Thu Thủy giữ chức Vụ trưởng.
Năm 1999, BS. Nguyễn Huy Thìn và TS. Đỗ Kháng Chiến được bổ nhiệm giữ chức Phó Vụ trưởng.
Năm 2001, ThS. Lương Ngọc Khuê được bổ nhiệm Phó Vụ trưởng Vụ Điều trị.
Năm 2002, ThS. Lý Ngọc Kính được bổ nhiệm giữ chức Vụ trưởng Vụ Điều trị thay PGS.TS. Trần Thu Thủy, được chuyển sang làm Trưởng Ban Chăm sóc sức khỏe của Trung ương Hội chữ Thập đỏ Việt Nam.
Năm 2005, PGS.TS. Lê Quang Cường và TS. Trần Quý Tường được bổ nhiệm giữ chức Phó Vụ trưởng Vụ Điều trị.
Tháng 2/2007, Ths. Phạm Đức Mục được bổ nhiệm giữ chức Phó Vụ trưởng Vụ Điều trị.
Năm 2008, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh được thành lập theo Nghị định số 188/2007/NĐ-CP ngày 27/12/2007 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế. TS. Lý Ngọc Kính, Vụ trưởng Vụ Điều trị được bổ nhiệm chức vụ Cục trưởng; TS. Lương Ngọc Khuê, TS. Trần Quý Tường, ThS. Phạm Đức Mục, TS. Nguyễn Văn Tiến được bổ nhiệm chức vụ Phó Cục trưởng.
Năm 2009, ThS. Cao Hưng Thái được bổ nhiệm giữ chức Phó Cục trưởng.
Tháng 12/2009, TS. Lương Ngọc Khuê được bổ nhiệm chức vụ Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh.
Năm 2010, ThS. Nguyễn Trọng Khoa và BSCKII. Nguyễn Văn Châu được bổ nhiệm chức vụ Phó Cục trưởng.
Tháng 06/2013, BSCKII. Hoàng Văn Thành được bổ nhiệm chức vụ Phó Cục trưởng.
Theo chức năng nhiệm vụ của Cục Quản lý Khám, chữa bệnh bao gồm Văn Phòng, Phòng Nghiệp vụ Y và Dược bệnh viện, Phòng Điều dưỡng và tiết chế, Phòng Phục hồi chức năng và giám định, Phòng quản lý hành nghề khám, chữa bệnh, Phòng Chỉ đạo tuyến, Phòng Quản lý chất lượng, Phòng Bảo vệ – chăm sóc sức khỏe cán bộ, Phòng Thanh tra – Pháp chế, và 2 đơn vị sự nghiệp là Tạp chí Bệnh viện và Trung tâm phát triển năng lực quản lý khám, chữa bệnh.
1. Giai đoạn 1953 – 1995
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Vụ phòng bệnh, chữa bệnh có nhiệm vụ:
– Chỉ đạo hoạt động các bệnh viện, bệnh xá, phòng khám bệnh, trạm y tế xã ở các vùng tự do, phục vụ công tác khám chữa bệnh và cấp cứu tai nạn chiến tranh cho nhân dân, bộ đội.
– Phối hợp hoạt động với quân y, tổ chức các bệnh viện, bệnh xá dã chiến, bổ sung cán bộ chuyên môn, dụng cụ thuốc, phục vụ bộ đội, dân công trong các chiến dịch, đặc biệt chiến dịch Điện Biên Phủ.
Tháng 10/1954, hòa bình được lập lại nhưng đất nước bị chia cắt làm hai miền, tiếp đó là cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam, Vụ Phòng bệnh chữa bệnh có nhiệm vụ:
– Tổ chức tốt việc tiêp quản các cơ sở chữa bệnh ở Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh phía bắc, đảm bảo cho các bệnh viện hoạt động không bị gián đoạn.
– Thành lập các đội điều trị, bệnh viện dã chiến để tiếp nhận cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc, các đồng chí bị địch bắt được trao trả.
– Tổ chức việc chăm sóc sức khỏe cho cán bộ, công nhân làm việc trên các công trường trọng điểm: công trường xây dựng lại tuyến đường sắt Hà Nội – Mục Nam quan…
– Lập thiết kế mẫu xây dựng bệnh viện tuyến tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thanh Hóa để xây dựng mẫu. Từ đó rút kinh nghiệm chỉ đạo các bệnh viện tỉnh khác.
– Biên soạn tài liệu hướng dẫn công tác quản lý bệnh viện như: “tổ chức, chức trách, chế độ công tác bệnh viện” chế độ chuyên môn công tác tốt, tiêu chuẩn trang bị các bệnh viện, phác đồ điều trị, phân cấp bậc thang điều trị.
– Xây dựng bệnh viện điển hình tiến tiến. Năm 1963, bệnh viện Vân Đình (huyện Ứng Hòa, Hà Tây) được công nhận lá cờ đầu ngành y tế. Sau này được phong tặng danh hiệu đơn vị anh hùng.
– Thường xuyên giáo dục tinh thần thái độ phục vụ người bệnh, nêu gương người tốt, việc tốt trong các cơ sở khám, chữa bệnh.
– Chỉ định một số cán bộ chuyên môn giỏi làm cán bộ đầu ngành và tổ chức các đoàn đi về địa phương hướng dẫn về tổ chức chuyên môn.
– Kết hợp chặt chẽ với các bệnh viện Quân y.
Năm 1964, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, ném bom đánh phá hệ thống giao thông, đê điều, bệnh viện, trường học … nhiệm vụ của Vụ chữa bệnh là hướng dẫn các hoạt động của bệnh viện từ thời bình chuyển sang thời chiến, tiến hành sơ tán và phân tán bệnh viện về nông thôn, xây dựng hầm hào, xây dựng hệ thống tổ chức cấp cứu phòng không gồm 4 tuyến, lấy trạm y tế xã làm tuyến một, thực hiện khẩu hiệu: “Thầy tại chỗ, thuốc tại chỗ”, hạn chế việc di chuyển nạn nhân, khi cần thì tỉnh, huyện hoặc trung ương hỗ trợ, cung cấp vật tư, thiết bị để các bệnh viện huyện pha chế dung dịch tiêm truyền để xử trí sốc. Biên soạn tài liệu hướng dẫn công tác cấp cứu phòng không, xử lý các vết thương chiến tranh. Các bệnh viện trung ương, tỉnh chi viện cán bộ ngoại khoa cho tuyến huyện, xã, đồng thời tổ chức việc bổ túc ngoại khoa cho cán bộ chuyên môn, thực hiện việc ngoại khoa hoá toàn ngành. Khi cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam trở nên ác liệt, Vụ đã cùng các Vụ, Cục có liên quan huy động lực lượng cán bộ chuyên môn chi viện cho các chiến trường miền Nam góp phần vào thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh
Năm 1975, sau ngày thống nhất đất nước, Vụ phòng bệnh chữa bệnh đã tổ chức việc trao đổi kinh nghiệm quản lý giữa các bệnh viện hai miền, chỉ đạo việc tân trang các bệnh viện ở miền Bắc xuống cấp nghiêm trọng do bị bom đạn tàn phá và những khó khăn về kinh tế. Đồng thời làm tham mưu cho Bộ để bổ sung cán bộ lãnh đạo, chuyên môn giỏi ở miền Bắc vào các bệnh viện phía Nam
Bước vào thời kỳ đổi mới, nhất là từ năm 1990 trở đi, Vụ quản lý sức khoẻ đã góp phần vào việc xây dựng các chính sách y tế, văn bản pháp luật như: Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân; Pháp lệnh hành nghề Y dược tư nhân; Pháp lệnh phòng chống HIV/AIDS; Nghị định thu một phần viện phí; Nghị định về bảo hiểm y tế; Nghị định về sản xuất cung ứng muối i ốt cho người ăn; Nghị định phòng chống tác hại của thuốc lá
2. Giai đoạn 1995 – 2008
Năm 1995, từ Vụ Quản lý sức khỏe đổi tên thành Vụ Điều trị.
Vụ Điều trị có chức năng tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Y tế quản lý nhà nước về lĩnh vực khám chữa bệnh, điều dưỡng, phục hồi chức năng, chỉnh hình, công tác giám định trong ngành y tế và bảo vệ sức khỏe cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước. Với các nhiệm vụ chủ yếu sau:
– Quản lý công tác khám chữa bệnh, chăm sóc, điều dưỡng – phục hồi chức năng, chỉnh hình, giám định.
– Bảo vệ sức khỏe cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước
– Quản lý hành nghề y tư nhân
Bên cạnh nhiệm vụ quản lý nhà nước về mặt chuyên môn, Vụ Điều trị còn được giao phụ trách chương trình y tế Quốc gia phòng chống bệnh bướu cổ và các chương trình cấp Bộ: chương trình y tế cơ sở và phòng khám đa khoa khu vực, chương trình Phòng chống tác hại thuốc lá, chương trình phục hồi chức năng.
Với nhiệm vụ của Vụ, chức năng quản lý nhà nước, Vụ Điều trị đã tham mưu lãnh đạo Bộ và xây dựng nhiều văn bản pháp quy để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh:
– Quy chế bệnh viện
– Quy trình kỹ thuật bệnh viện, quy trình chăm sóc
– Quy chế quản lý chất thải
– Mẫu hồ sơ bệnh án
– Mẫu báo cáo thông kê và ứng dụng tin học trong quản lý bệnh viện.
– 12 điều quy định về y đức, quy định về giao tiếp, xã hội hóa công tác y tế, các hình thức khám chữa bệnh …
– Trung tâm y tế chuyên sâu, phát triển kỹ thuật: viện phí, bảo hiểm y tế, xây dựng các mô hình khám chữa bệnh ngoài công lập: khám chữa bệnh tư nhân, dân lập, bán công.
– Mô hình tổ chức từ Ban bảo vệ sức khỏe trung ương đến Ban bảo vệ sức khỏe cán bộ tỉnh, thành phố trong cả nước và xây dựng các văn bản pháp qui về công tác này.
Các văn bản này đã góp phần quản lý bệnh viện về chuyên môn kỹ thuật, cũng như các nguồn lực để bệnh viện được chính quy hiện đại, bộ mặt bệnh viện thay đổi, nhiều kỹ thuật cao đã thực hiện được như: phẫu thuật tim hở, nong mạch vành … ghép thận ghép tuỷ, ghép điện cực ốc tai, thụ tinh trong ống nghiệm …, góp phần nâng cao tuổi thọ cho nhân dân. Bước đầu đã ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bệnh viện, sử dụng phần mềm tin học trong báo cáo thống kê và quản lý bệnh tật.
Xây dựng được các chính sách chiến lược trình Chính phủ: Chính sách quốc gia về phòng chống các tác hại của thuốc lá, các bệnh không lây nhiễm. Với sự chỉ đạo sát sao qua các thế hệ của Vụ Điều trị mạng lưới khám chữa bệnh ngày càng được củng cố và phát triển đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng của nhân dân. Đặc biệt là sự ra đời của Nghị định 10/2002/NĐ-CP ngày 16/1/2002 của Chính phủ đã giao quyền tự chủ về tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu, trong đó có bệnh viện. Mặc dù cho tới nay, chưa có đơn vị nào thực hiện một cách trọn vẹn và thời gian triển khai còn mới, nhưng Nghị định 10/2002/NĐ-CP đã mở ra hướng phát triển cho các bệnh viện, trong mọi mặt hoạt động như: tài chính, nhân lực, phát triển kỹ thuật và dịch vụ bệnh viện…
Vụ Điều trị cũng đẩy mạnh thực hiện tốt công tác dược bệnh viện nhằm cung ứng đủ thuốc đảm bảo chất lượng, giá cả và sử dụng thuốc hợp lý, góp phần bình ổn giá thuốc chữa bệnh, tăng cường chất lượng điều trị. Ngày 16/4/2004, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Chỉ thị 05/2004/CT-BYT về chấn chỉnh công tác cung ứng, sử dụng thuốc trong bệnh viện (BV). Chỉ thị đã là cơ sở hướng dẫn, chỉ đạo các cơ sở y tế thực hiện tốt việc cung ứng thuốc đảm bảo chất lượng cho điều trị, chăm sóc người bệnh, đồng thời giúp bình ổn giá thuốc trong bệnh viện/ trên thị trường.
Về công tác chỉ đạo tuyến: Với mục đích chuyển giao kỹ thuật, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn và quản lý của tuyến trên cho tuyến dưới, rút ngắn khoảng cách chất lượng điều trị giữa bệnh viện các tuyến, thực hiện công bằng trong CSSKND, công tác chỉ đạo tuyến (CĐT) được coi là nhiệm vụ quan trọng của các bệnh viện. Với sự hỗ trợ của tuyến trên, các BV tuyến dưới đã triển khai tốt về hoạt động chuyên môn, chuyển biến tích cực. Để chuyển giao kỹ thuật cho tuyến dưới, hàng năm các BV tuyến trên đã tổ chức khảo sát, đánh giá tình hình thực tế ở từng miền, từng vùng cụ thể, tìm hiểu về khó khăn và nhu cầu cần được hỗ trợ của tuyến dưới để phối hợp thực hiện. Bước đầu chuyển giao kỹ thuật tiến tiến một cách phù hợp đã rút ngắn được khoảng cách về chuyên môn giữa tuyến trên và tuyến dưới.
Thực hiện Quyết định 139/2002/QĐ-TTg ngày 15/10/2002 của Chính phủ về việc khám chữa bệnh cho người nghèo, hầu hết các tỉnh thực hiện theo phương thức thực thanh thực chi, đã đảm bảo cho người nghèo được khám chữa bệnh, chăm sóc đầy đủ tại các cơ sở y tế, với cơ chế và thủ tục nhập viện đơn giản, thuận tiện.
Để Khắc phục tình trạng tiêu cực trong bệnh viện, tạo uy tín đối với nhân dân, Vụ Điều trị đã chỉ đạo Bệnh viện xây dựng đường dây nóng bệnh viện đảm bảo thường trực 24/24h trong các bệnh viện, đường dây “nóng” là số điện thoại của trực lãnh đạo bệnh viện để trao đổi phản ảnh những ý kiến, hiện tượng tiêu cực và những hành vi gây phiền hà cho người người dân, đồng thời chỉ đạo tăng cường thực hiện Quy chế tiếp dân trong ngành y tế, tổ chức hòm thư góp ý và mở hòm thư hàng tuần …
Để nâng cao chất lượng giao tiếp của cán bộ y tế nói chung và điều dưỡng trong mỗi bệnh viện. Vụ Điều trị đã tham mưu cho Bộ Y tế hiện ban hành quy định về giao tiếp trong bệnh viện. Có thể nói những yếu kém về giao tiếp của đội ngũ cán bộ y tế đang là nguyên nhân của những trách cứ, sức ép từ phía người bệnh và sự quan tâm của dư luận xã hội đối với ngành y tế.
Chẩn đoán sớm và điều trị tích cực đối với một số bệnh dịch nguy hiểm:
Tích cực chỉ đạo triển khai phòng chống một số bệnh dịch nguy hiểm như SARS, cúm gà H5N1, sốt xuất huyết. Xây dựng kịp thời các phác đồ hướng dẫn chẩn đoán và điều trị, cũng như chỉ đạo trực tiếp tại các vùng dịch và các bệnh viện, tổ chức tập huấn cho các cơ sở khám chữa bệnh trong cả nước phác đồ hướng dẫn chẩn đoán và điều trị, công tác chống nhiễm khuẩn bệnh viện trong đợt dịch. Giúp các bệnh viện sẵn sàng ứng phó với sự diễn biến và phát triển phức tạp của dịch và bước đầu đã khống chế được số ca mắc và tử vong.
Thực hiện tốt công tác y tế phục vụ các đại hội, sự kiện lớn của Đảng, Nhà nước: Xây dựng kế hoạch, chỉ đạo tổ chức thực hiện tốt công tác y tế phục vụ các hội nghị quan trọng của Đảng và Nhà nước như: kỳ họp thứ 5 và thứ 6 Quốc hội khóa XI; Đặc biệt đã chỉ đạo và tổ chức thực hiện tốt công tác y tế phụcvụ SEA GAME, PARA GAME 22, ASEM 5. Đặc biệt hội nghị cấp cao á – Âu (ASEAM 5) diễn ra vào tháng 10/2004, tại Hà Nội, đây là Hội nghị quốc tế quy mô nhất, có nhiều nguyên thủ các nước tham gia, có trên 3000 đại biểu các nước và gần 1000 phóng viên. Ngành y tế nhất là hệ thống bệnh viện đã được huy động để trực tiếp phục vụ sức khoẻ đại biểu được Chính phủ khen ngợi công tác y tế phục vụ ASEAM5.
3. Giai đoạn 2008 – 2013
Cục Quản lý Khám, chữa bệnh được thành lập theo Nghị định số 188/2007/NĐ-CP ngày 27/12/2007 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế. Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chức năng, nhiệm vụ của Cục Quản lý Khám, chữa bệnh như sau:
1. Chủ trì hoặc phối hợp xây dựng, sửa đổi, bổ sung luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật khác về lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng, hiến ghép mô, bộ phận cơ thể người, giám định y khoa, giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần (gọi tắt là: lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước Cục), trình các cấp có thẩm quyền ban hành.
2. Chủ trì xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các chương trình, dự án, đề án về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Cục, trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt.
3. Chủ trì xây dựng tiêu chuẩn quốc gia, quy định phân tuyến kỹ thuật, quy chế chuyên môn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Cục, trình các cấp có thẩm quyền công bố hoặc ban hành.
4. Chủ trì xây dựng tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ số chất lượng, thừa nhận tiêu chuẩn quản lý chất lượng đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; kiểm tra việc tuân thủ các quy định về chứng nhận chất lượng bệnh viện.
5. Ban hành các văn bản hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Cục theo phân cấp của Bộ trưởng Bộ Y tế. 6. Chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các quy định chuyên môn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, các chương trình, dự án, đề án vè các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Cục.
7. Chủ trì thẩm định các điều kiện cho phép áp dụng các phương pháp mới, kỹ thuật mới trong khám bệnh, chữa bệnh và thẩm định nội dung chuyên môn của hồ sơ đăng ký quảng cáo hoạt động khám bệnh, chữa bệnh theo quy định
của pháp luật.
8. Làm đầu mối tổ chức các hội đồng chuyên môn để xác định có hay không
sai sót chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh.
9. Hướng dẫn và kiểm tra công tác kiểm soát nhiễm khuẩn, an toàn truyền mau,
dinh dưỡng lâm sàng, phẫu thuật thẩm mỹ trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
10. Về quản lý hành nghề khám, chữa bệnh
a) Chủ trì thẩm định, trình Bộ trưởng Bộ Y tế cấp, cấp lại, điều chỉnh, đình chỉ, thu hồi chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề y theo quy định của pháp luật;
b) Chủ trì thẩm định, trình Bộ trưởng Bộ Y tế cấp , cấp lại, điều chỉnh, đình chỉ, thu hồi giấy phép đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (trừ Y dược cổ truyền) theo quy định của pháp luật;
c) Tham gia xây dựng quy định về điều kiện, tiêu chuẩn, thành lập, sáp nhập, tổ chức lại, giải thể các cơ sở khám, chữa bệnh.
11. Về hoạt động dược bệnh viện:
a) Xây dựng danh mục thuốc chủ yếu sử dụng trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
b) Chỉ đạo hướng dẫn hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện;
c) Chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện và kiểm tra việc sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả trong khám bệnh, chữa bệnh, công tác kê đơn và sử dụng thuốc, công tác kiểm soát phòng, chống kháng thuốc;
d) Chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện và kiểm tra giám sát thực hành dược lâm sàng; tư vấn, thông tin về sử dụng thuốc và cảnh giác dược trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
12. Làm đầu mối chỉ đạo các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ trung, cao cấp, công tác y tế phục vụ cho các hội nghị, sự kiện quan trọng của nhà nước. Chỉ đạo tổ chức ứng cứu, tiếp nhận và điều trị nạn nhân trong các vụ dịch bệnh, thiên tai, thảm họa.
13. Đầu mối xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu về hoạt động khám bệnh, chữa bệnh, về cấp chứng chỉ hành nghề và giấy phép hoạt động cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Hướng dẫn thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh. Chỉ đạo, hướng dẫn việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và trong các lĩnh vực thuộc chức năng quản lý nhà nước của Cục.
14. Tổ chức đào tạo nâng cao năng lực quản lý trong lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh, chỉ đạo tuyến và quản lý chất lượng bệnh viện.
15. Tham gia xây dựng các tiêu chuẩn và thẩm định phân hạng các cơ sở y tế; tham gia xây dựng, chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện cơ chế, chính sách về bảo hiểm y tế, giá dịch vụ y tế, xã hội hóa y tế và các chính sách khác trong khám bệnh, chữa bệnh.
16. Về phòng, chống các bệnh không lây nhiễm
a) Làm đầu mối tổ chức thực hiện công tác phòng, chống tác hại thuốc lá và phòng , chống tác hại của lạm dụng rượu, bia và đồ uống có cồn khác;
b) Phối hợp với các Vụ, CỤc có liên quan xây dựng cơ chế, chính sách, chiến lược về phòng, chống bệnh không lây nhiễm.
c) Chỉ đạo các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện công tác phòng, chống các bệnh không lây nhiễm, bao gồm cả việc tổ chức phát hiện sơm, quản lý điều trị tại cơ sở khám, chữa bệnh.
17. Tham gia, chỉ đạo, hướng dẫn các hoạt động nghiên cứu khoa học, hội nhập và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khám, chữa bệnh.
18. Tổ chức hoặc tham gia thực hiện thanh tra chuyên ngành và xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.
19. Quản lý cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, tài sản, kinh phí được giao theo quy định của pháp luậy và phân cấp của Bộ trưởng Bộ Y tế.
20. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo sự phân công của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Cục Quản lý Khám, chữa bệnh đã đóng góp nhiều thành tích quan trọng trong thành công chung của ngành y tế như sau:
1. Đã ban hành được nhiều văn bản quy phạm pháp luật, như: Luật Khám bệnh, chữa bệnh; Luật Bảo hiểm Y tế; Nghị định số 87/2011/ND-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khám bệnh, chữa bệnh; Nghị định số 96/2011/NĐ-CP ngày 21/10/2011 quy định xử phạt vi phạm hành chính về khám bệnh, chữa bệnh; Nghị định số 102/2011/NĐ-CP ngày 14/11/2011 về bảo hiểm trách nhiệm trong khám bệnh, chữa bệnh; …
2. Từng bước hoàn thiện văn bản QPPL thi hành Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật Hiến ghép mô, bộ phận cơ thể người, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Người cao tuổi, Luật người khuyết tật; Luật giám định tư pháp; Luật PCTH thuốc lá. Cụ thể đã tham mưu xây dựng được 3 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; 3 Thông tư liên Bộ; 8 Thông tư của Bộ trưởng Bộ Y tế; 32 Quyết định của Bộ trưởng Bộ Y tế; Đặc biệt là Thông tư Quản lý Chất lượng bệnh viện, Quy trình khám chữa bệnh trong các cơ sở khám, chữa bệnh; Các Đề án quan trọng trong lĩnh vực khám, chữa bệnh đã được cấc cấp lãnh đạo phê duyệt và triển khai có hiệu quả: như Đề án 1816; Đề án Giảm tải Bệnh viện; Đề án Bệnh viện Vệ tinh; Đề án Bác sĩ Gia Đình.
3. Thúc đẩy đưa vào hoạt động thêm nhiều cơ sở y tế mới, với chủ trương ưu tiên đầu tư ưu tiên cho các bệnh viện quá tải cao: Bệnh viện K, bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện Nhi, bệnh viện Chợ Rẫy, Phụ Sản Trung ương, bệnh viện hữu nghị Việt Đức. Các bệnh viện đã chủ động vay vốn ngân hàng phát triển cùng với vốn đầu tư phát triển Ngân sách Nhà nước để đầu tư mở rộng cơ sở như: Viện Huyết học truyền máu TW, bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương thành phố Hồ Chí Minh, bệnh viện đại học y dược thành phố Hồ Chí Minh, bệnh viện Phụ Sản TW, bệnh viện hữu nghị Việt Đức. Một số cơ sở đã hoàn thành, góp phần tăng giường bệnh và giảm quá tải của bệnh viện tuyến trung ương.
Trong năm 2012, Bộ Y tế đã đưa vào sử dụng 100 giường tại Bệnh viện Bạch Mai, 300 giường tại cơ sở III của Bệnh viện K, Bệnh viện Nội tiết 300 giường bệnh. Đồng thời, Bộ Y tế và các địa phương cũng đã tích cực huy động nguồn vốn ODA để xây mới, nâng cấp trang thiết bị cho bệnh viện như: hoàn thành dự án xây dựng bệnh viện đa khoa Trung ương Quảng Nam 500 giường bệnh do KOICA (Hàn Quốc) viện trợ; dự án trang thiết bị cho Viện Tim Mạch bệnh viện Bạch Mai, dự án trang thiết bị cho trung tâm Ung bướu – bệnh viện Trung ương Huế đang thực hiện; dự án Trang thiết bị cho bệnh viện Phụ Sản trung ương do JICA viện trợ; các dự án vốn vay của Ngân hàng thế giới… đã góp phần nâng cao chất lượng chuyên môn kỹ thuật của các bệnh viện trong cả nước. Tổng số giường bệnh được bổ sung mới cho bệnh viện tuyến trung ương có quá tải cao trong năm 2012 là 1.400 giường bệnh. Bổ sung được 11.599 giường bệnh theo kế hoạch và 12.711 giường bệnh thực kê, nâng tỷ lệ giường bệnh trên 10.000 dân từ 21 giường năm 2011 lên 22,3 giường năm 2012. Riêng bệnh viện tuyến trung ương tăng được 1.600 giường bệnh;
4. Đáp ứng về cơ bản nhu cầu khám chữa bệnh phổ cập cho nhân dân, đảm bảo khám và điều trị cho 131.997.317 lượt khám bệnh; 14.253.077 lượt điều trị ngoại trú và 11.296.957 lượt điều trị nội trú tăng tương ứng 6,8%; 10,7% và 6,0% so với năm 2011.
5. Nhiều công nghệ cao, kỹ thuật cao đã được áp dụng, triển khai tại các bệnh viện của Việt Nam, điển hình như: Phẫu thuật cột sống bằng robot định vị; Phẫu thuật teo trực tràng nội soi qua đường hậu môn; kỹ thuật nong mạch điều trị bệnh mạch máu não và tủy sống, bằng phương pháp can thiệp trong lòng mạch; kỹ thuật vi phẫu để chuyển ghép xương mác, chuyển ngón chân lên bàn tay thay thế ngón tay cái, chuyển khớp ngón chân lên ngón tay và thay thế khớp khuỷu…
6. Chất lượng khám chữa bệnh đang được nâng cao: Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 06 và Chương trình 527-CTr-BYT về nâng cao chất lượng dịch vụ KCB; đồng thời đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 05/CT-BYT ngày 10/9/2012 về việc tăng cường thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh sau khi điều chỉnh giá dịch vụ y tế; Mở rộng triển khai các mô hình chăm sóc người bệnh toàn diện; Tăng cường nhân lực y tế, đảm bảo tỷ lệ điều dưỡng/bác sỹ theo Thông tư 08; Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động khám, chữa bệnh của các cơ sở y tế, quản lý hành nghề y tư nhân;
7. Tổ chức, hướng dẫn, giám sát việc thực hiện cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo lộ trình quy định tại Nghị định số 87/2011/NĐ-CP;
8. Năng lực khám chữa bệnh tuyến dưới ngày càng được tăng cường: Tăng cường triển khai thực hiện Đề án 1816, duy trì và phát huy những thành quả đạt được, khắc phục những hạn chế, bất cập, thực hiện có hiệu quả Đề án 1816: Cục đã hoàn thành xây dựng, trình Bộ trưởng ký Quyết định số 5068/QĐ-BYT ngày 21/12/2012 về đào tạo, chuyển giao kỹ thuật theo Đề án 1816;
9. Hoạt động phòng chống bệnh dịch, bệnh mạn tính ngày càng tích cực và chủ động hơn: Phối hợp chỉ đạo, kiểm soát tốt các dịch bệnh mới nổi, giảm tỷ lệ tử vong do bệnh tay chân miệng hơn 4 lần so năm 2011. Xây dựng và ban hành kịp thời các hướng dẫn chẩn đoán và điều trị làm cơ sở hướng dẫn kịp thời cho các cơ sở khám chữa bệnh trong việc khống chế bệnh dịch.
10. Tổ chức thành công các Hội nghị lớn: Hội nghị Quản lý bệnh viện Châu Á; Hội nghị Câu lạc bộ giám đốc bệnh viện khu vực các tỉnh phía Bắc, các tỉnh phía Nam; và nhiều Hội nghị triển khai hướng dẫn hoạt động khám chữa bệnh.
11. Tháng 6 năm 2008 lần đầu tiên trong lịch sử của công tác khám, chữa bệnh Bộ Y tế đã có một đoàn công tác cứu trợ y tế quốc tế do PGS.TS.Lương Ngọc Khuê làm trưởng đoàn giúp nước bạn Myanma khắc phục hậu quả do cơn bão Naris gây ra.
(Thời kỳ Cục Quản lý khám chữa bệnh tham mưu ban hành từ 2008 – 2013)
Năm 2008
1. Quyết định số 01/2008/QĐ-BYT ngày 21/01/2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế v.v ban hành Quy chế cấp cứu, Hồi sức tích cực và Chống độc
2. Quyết định số 03/2008/QĐ-BYT ngày 01/02/2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định điều kiện về tổ chức nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị và hồ sơ, thủ tục cấp giấy phép hoạt động của ngân hàng mô
3. Quyết định số 04/2008/QĐ-BYT ngày 01/02/2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế v.v ban hành quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú
4. Quyết định số 05/2008/QĐ-BYT ngày 01/02/2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế v.v ban hành danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
5. Quyết định số 06/2008/QĐ-BYT ngày 14/02/2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế v.v ban hành quy định tổ chức và hoạt động của Hội đồng tư vấn lấy, ghép bộ phận cơ thể không tái sinh ở người sống
6. Quyết định số 07/2008/QĐ-BYT ngày 14/02/2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế v.v ban hành các mẫu đơn tự nguyện hiến, hủy đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống, sau khi chết và hiến xác; các mẫu thẻ đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể người sau khi chết và hiến xác
7. Quyết định số 08/2008/QĐ-BYT ngày 14/02/2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành quy định về điều kiện đối với cơ sở y tế lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và trình tự, thủ tục cho phép cơ sở y tế hoạt động
8. Quyết định số 09/2008/QĐ-BYT ngày 20/02/2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành danh mục bệnh, tật, dị dạng, dị tật có liên quan đến phơi nhiễm với chất độc hóa học/dioxin
9. Quyết định số 12/2008/qđ-byt ngày 27/02/2008 v.v ban hành“Tiêu chuẩn về kiến thức, kỹ năng của nhân viên y tế và trang thiết bị y tế trong chăm sóc chấn thương thiết yếu”
10. Quyết định số 13/2008/QĐ-BYT ngày 12/03/2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành hướng dẫn tư vấn, kiểm tra sức khỏe cho người đăng kí hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống, hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sau khi chết và người đăng ký hiến xác
11. Quyết định số 16/2008/QĐ-BYT ngày 22/4/2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý khám, chữa bệnh thuộc Bộ Y tế
12. Quyết định số 20/2008/QĐ-BYT ngày 09/6/2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành tiêu chuẩn sức khỏe của thuyền viên làm việc trên tàu biển Việt Nam 13. Quyết định số 21/2008/QĐ-BYT ngày 09/6/2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành danh mục vật tư y tế tiêu hao, vật tư y tế thay thế trong khám bệnh,
chữa bệnh
14. Quyết định số 30/2008/QĐ-BYT ngày 19/8/2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế v.v ban hành hướng dẫn chẩn đoán, xử trí và phòng lây nhiễm cúm A (H5N1) ở người
15. Quyết định số 33/2008/QĐ-BYT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế v.v ban hành tiêu chuẩn sức khỏe người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ
16. Quyết định số 34/2008/QĐ-BYT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế v.v ban hành tiêu chuẩn sức khỏe người khuyết tật điều khiển xe mô tô, xe gắn máy ba bánh dùng cho người khuyết tật
17. Quyết định số 1732/QĐ-BYT ngày 16/5/2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế v.v ban hành hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh tay-chân-miệng
18. Quyết định số 3381/QĐ-BYT ngày 10/9/2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế v.v ban hành hướng dẫn quy trình kỹ thuật đặt máy trợ thở tạo áp lực dương liên tục (CPAP-KSE) ở trẻ sơ sinh
19. Quyết định số 4392/QĐ-BYT ngày 08/11/2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế v.v bãi bỏ Quyết định số 33/2008/QĐ-BYT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế v.v ban hành tiêu chuẩn sức khỏe người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ và Quyết định số 34/2008/QĐ-BYT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế v.v ban hành tiêu chuẩn sức khỏe người khuyết tật điều khiển xe mô tô, xe gắn máy ba bánh dùng cho người khuyết tật
Năm 2009
1. Thông tư số 01/2009/TT-BYT ngày 09/3/2009 của Bộ Y tế ban hành bản “hướng dẫn chẩn đoán, điều trị sốt Dengue và sốt xuất huyết Dengue”
2. Thông tư số 11/2009/TT-BYT ngày 14/8/2009 của Bộ Y tế ban hành danh mục dịch vụ kỹ thuật phục hồi chức năng và số ngày bình quân một đợt điều trị của một số bệnh, nhóm bệnh được quỹ BHYT thanh toán (phối hợp với Vụ BHYT)
3. Quyết định số 1440/QĐ-BYT ngày 29/4/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và phòng lây nhiễm cúm lợn A (H1N1) ở người
4. Quyết định số 2762/QĐ-BYT ngày 31/7/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và phòng lây nhiễm cúm A (H1N1)
5. Quyết định số 4121/QĐ-BYT ngày 28/10/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành tài liệu hướng dẫn xử trí tiêu chảy ở trẻ em
6. Quyết định số 4578/QĐ-BYT ngày 20/11/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định giá tối đa của một số đơn vị máu toàn phần và chế phẩm máu đạt tiêu chuẩn
7. Quyết định số 4605/QĐ-BYT ngày 24/11/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành hướng dẫn chẩn đoán và điều trị sốt rét
8. Quyết định số 4776/QĐ-BYT ngày 04/12/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành hướng dẫn chẩn đoán, điều trị hen phế quản
Năm 2010
1. Thông tư số 50/2010/TT-BYT ngày 21/12/2010 của Bộ Y tế hướng dẫn việc kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại trong khám bệnh, chữa bệnh
2. Quyết định số 933/QĐ-BYT ngày 23/3/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành quy định về đo nồng độ cồn (Etanol) trong máu áp dụng trong các bệnh viện
3. Quyết định số 1222/QĐ-BYT ngày 15/4/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành tạm thời một phần giá thu viện phí đối với dịch vụ kỹ thuật PET-CT tại Bệnh viện Chợ Rẫy
4. Quyết định số 3125/QĐ-BYT ngày 27/8/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Bảng Kiểm tra bệnh viện
5. Quyết định số 3129/QĐ-BYT ngày 31/8/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp
6. Quyết định số 3401/QĐ-BYT ngày 16/9/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành quy trình kỹ thuật sử dụng hệ thống PET và PET/CT
Năm 2011
1. Quyết định số 1958/QĐ-TTg ngày 04/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch chi tiết phát triển, ứng dụng bức xạ trong y tế đến năm 2020
2. Nghị định số 87/2011/NĐ-CP ngày 27/9/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khám bệnh, chữa bệnh
3. Thông tư số 35/2011/TT-BYT ngày 15/10/2011 của Bộ Y tế hướng dẫn chăm sóc sức khỏe người cao tuổi;
4. Thông tư số 07/2011/TT-BYT ngày 26/01/2011 của Bộ Y tế hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện;
5. Thông tư số 08/2011/TT-BYT ngày 26/01/2011 của Bộ Y tế hướng dẫn về công tác dinh dưỡng, tiết chế trong bệnh viện
6. Thông tư số 22/2011/TT-BYT ngày 10/6/2011 của Bộ Y tế quy định tổ chức và hoạt động của khoa Dược bệnh viện
7. Thông tư số 23/2011/TT-BYT ngày 10/6/2011 của Bộ Y tế hướng dẫn sử dụng thuốc trong cơ sở y tế có giường bệnh
8. Thông tư số 31/2011/TT-BYT ngày 11/7/2011 của Bộ Y tế hướng dẫn danh mục thuốc chủ yếu sử dụng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán
9. Thông tư số 41/2011/TT-BYT ngày 14/11/2011 của Bộ Y tế hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
10. Quyết định số 2357/QĐ-BYT ngày 05/7/2011của Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt quy hoạch phát triển mạng lưới phòng chống lao và bệnh phổi đến năm 2020
11. Quyết định số 2078/QĐ-BYT ngày 23/6/2011của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị cúm mùa”
12. Quyết định số 2554/QĐ-BYT ngày 19/7/2011 ban hành Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh tay- chân- miệng
13. Quyết định số 3280/QĐ-BYT ngày 9/9/2011 ban hành tài liệu chuyên môn hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh đái tháo đường týp 2
14. Quyết định số 3299/QĐ-BYT ngày 12/9/2011 ban hành tài liệu chuyên môn hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh phóng xạ
15. Quyết định số 458/QĐ-BYT ngày 16/2/2011 ban hành Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị sốt xuất huyết Dengue
Năm 2012
I. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và các Thông tư
1. Thông tư 10/2012/TT-BYT ngày 08/6/2012 của Bộ Y tế sửa đổi, bổ sung
một số điều của Thông tư số 31/2011/TT-BYT ngày 11/7/2011 ban hành và hướng dẫn thực hiện danh mục thuốc chủ yếu sử dụng tại các cơ sở KBCB được quỹ BHYT thanh toán.
2. Thông tư số 13/2012/TT-BYT ngày 20/8/2012 của Bộ Y tế Hướng dẫn tổ chức và hoạt động khoa Gây mê hồi sức.
3. Thông tư số 28/2012/TT-BYT ngày 04/12/2012 của Bộ Y tế Quy định danh mục bệnh của người cho không được cho mô, bộ phận cơ thể người để ghép. 4. Thông tư số 31/2012/TT-BYT ngày 20/12/2012 của Bộ Y tế Hướng dẫn
thực hành Dược lâm sàng trong các cơ sở khám, chữa bệnh.
5. Thông tư số 34/2012/TTLT-BYT-BLĐTBXH ngày 28/12/2012 của Bộ Y tế hướng dẫn xác định mức độ khuyết tật do Hội đồng giám định y khoa thực
hiện.
6. Thông tư liên tịch số 18/TTLT-BYT-BGTVT ngày 05/11/2012 của liên Bộ Y
tế – Bộ Giao thông vận tải Quy định tiêu chuẩn sức khoẻ của nhân viên hàng không và cơ sở y tế giám định sức khoẻ cho nhân viên hàng không.
II. Các hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật
1. Quyết định số 975/QĐ-BYT ngày 29/3/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh nhiễm não mô cầu
hành
2. Quyết định số 1003/QĐ-BYT Ngày 30/3/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh tay chân miệng và 4 phụ lục kèm theo
3. Quyết định số 1047/QĐ-BYT ngày 3/4/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc phân công nhiệm vụ tập huấn, hỗ trợ kỹ thuật điều trị bệnh tay chân miệng cho các tỉnh.
4. Quyết định số 1456/QĐ-BYT ngày 4/5/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành mẫu hồ sơ bệnh án Tay chân miệng.
5. Quyết định số 4465/QĐ-BYT ngày 14/11/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh do virus Corona mới.
6. Quyết định số 4991/QĐ-BYT ngày 14/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh viêm não, màng não do đơn bào Naegleria Fowleri.
7. Quyết định số 1014/QĐ-BYT ngày 30/5/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng cường công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ nay đến năm 2015.
8. Quyết định số 3071/QĐ-BYT ngày 27/9/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt các hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn (6 hướng dẫn).
9. Quyết định số 3622/QĐ-BYT ngày 25/92012 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành hướng dẫn xử trí nhi khoa cho trẻ từ 01 tháng đến 6 tuổi.
10. Quyết định số 4235/QĐ-BYT ngày 31/10/2012 ban hành Hướng dẫn chẩn đoán điều trị các đường bệnh hô hấp.
11. Quyết định số 1918/QĐ-BYT ngày 04/6/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành quy trình kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh chuyên ngành lao và bệnh phổi. 12. Quyết định số 1919/QĐ-BYT ngày 04/6/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành quy trình kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh chuyên ngành phong- da liễu. 13. Quyết định số 3906/QĐ-BYT ngày 12/10/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban
hành quy trình kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh chuyên ngành Nhãn khoa.
14. Quyết định số 3979/QĐ-BYT ngày 18/10/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban
hành quy trình kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh chuyên ngành Tai Mũi Họng. 15. Quyết định số 4401/QĐ-BYT ngày 09/11/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành quy trình kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh chuyên ngành Huyết học-
Truyền máu- Miễn dịch- Di truyền.
Năm 2013
I. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư
1. Quyết định số 92/QĐ-TTg ngày 09/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án giảm quá tải bệnh viện giai đoạn 2013-2020
2. Quyết định số 229/QĐ-TTg ngày 28/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phòng chống tác hại thuốc lá từ nay đến năm 2020
3. Quyết định số 14/2013/QĐ-TTg ngày 20/02/3013 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện chế độ luân phiên có thời hạn đối với người hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
4. Quyết định số 1203/QĐ-TTg ngày 19/7/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tổ chức cấp cứu tai nạn giao thông trên mạng đường bộ cao tốc đến năm 2020
5. Thông tư số 01/2013/TT-BYT ngày 11/01/2013 của Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện quản lý chất lượng phòng xét nghiệm y học tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
6. Thông tư số 02/2013/TT-BYT ngày 15/01/2013 của Bộ Y tế quy định về việc phối hợp giữa các cơ sở y tế trong quản lý bệnh lao
7. Thông tư số 05/2013/TT-BYT-BCT ngày 08/02/2013 của Liên Bộ Y tế- Bộ Công thương hướng dẫn việc ghi nhãn, in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá
8. Thông tư số 14/2013/TT-BYT ngày 06/5/2013 của Bộ Y tế hướng dẫn khám sức khỏe
9. Thông tư số 17/2013/TT-BYT ngày 06/6/2013 của Bộ Y tế quy định tiêu chí và hướng dẫn kiểm tra công nhận loại trừ bệnh Phong ở quy mô cấp tỉnh và cấp huyện
10. Thông tư số 19/2013/TT-BYT ngày 12/7/2013 của Bộ Y tế hướng dẫn quản lý chất lượng bệnh viện
11. Thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08/8/2013 của Bộ Y tế Hướng dẫn hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị
12. Thông tư số 26/2013/TT-BYT ngày 16/9/2013 của Bộ Y tế Hướng dẫn hoạt động truyền máu
13. Thông tư liên tịch số 28/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH ngày 27/9/2013 liên tịch Bộ Y tế- Bộ Lao động thương binh và Xã hội Quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tật, tỷ lệ tổn thương cơ thể do bệnh tật và tỷ lệ tổn thương cơ thể do bệnh nghề nghiệp dùng trong giám định
14. Thông tư số 34/2013/TT-BYT ngày 28/10/2013 của Bộ Y tế ban hành Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày
15. Thông tư số 35/2013/TT-BYT ngày 30/10/2013 của Bộ Y tế quy định về thu hồi chứng chỉ hành nghề, giấy phép hoạt động và đình chỉ hoạt động chuyên môn của người hành nghề, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
16. Thông tư liên tịch số 41/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH ngày 18/11/2013 Hướng dẫn khám giám định bệnh, tật, dị dạng, dị tật có liên quan đến phơi nhiễm với chất độc hóa học đối với người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ.
II. Các hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật
1. Quyết định số 1176/QĐ-BYT ngày 10/4/2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và phòng lây nhiễm cúm A (H7N9) ở người
2. Quyết định số 638/QĐ-BYT ngày 28/02/2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành quy trình kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh chuyên ngành Bỏng
3. Quyết định số 792/QĐ-BYT ngày 12/3/2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành quy trình kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh chuyên ngành Châm cứu
4. Quyết định số 1215/QĐ-BYT ngày 12/4/2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt Chương trình hành động quốc gia tăng cường công tác điều dưỡng hộ sinh giai đoạn từ nay đến năm 2020
5. Quyết định số 1119/QĐ-BYT ngày 15/4/2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành quy trình kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh chuyên ngành Nội tiết
6. Quyết định số 1313/QĐ-BYT ngày 22/4/2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn quy trình khám bệnh tại Khoa Khám bệnh của bệnh viện
7. Quyết định số 1377/QĐ-BYT ngày 24/4/2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành quy trình kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh chuyên ngành Phụ sản
8. Quyết định số 2510/QĐ-BYT ngày 15/7/2013 ban hành hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh tim mạch
9. Quyết định số 3232/QĐ-BYT ngày 30/8/2013 ban hành hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh sốt rét
10. Quyết định số 3207/QĐ-BYT ngày 29/8/2013 ban hành quy trình kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh chuyên ngành Răng Hàm Mặt
11. Quyết định số 3338/QĐ-BYT ngày 09/9/2013 ban hành quy trình kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh chuyên ngành Ung bướu
12. Quyết định số 4568/QĐ-BYT ngày 14/11/2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục
1. Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam tặng Huân chương Lao động Hạng Nhì thưởng cho Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, Bộ Y tế “đã có thành tích xuất sắc trong công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân” năm 2013.
2. Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam tặng Huân chương Lao động hạng Ba thưởng cho Vụ điều trị- Bộ Y tế “đã có thành tích xuất sắc trong việc phòng, chống và khống chế dịch SARS từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2003, góp phần vào việc chăm sóc sức khỏe nhân dân”.
3. Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam tặng Cờ thi đua “ đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua” thưởng cho Cục Quản lý khám, chữa bệnh, Bộ Y tế năm 2010
4. Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam tặng Bằng khen Vụ điều trị – Bộ Y tế “đã hoàn thành suất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần vào thành công chung của SEAGAMES 22 (Việt Nam 12/2003)”.
5. Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam tặng Bằng khen Cục Quản lý khám, chữa bệnh- Bộ Y tế “đã có thành tích trong công tác phòng, chống dịch tiêu chảy nguy hiểm năm 2007, góp phần vào xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc”.
6. Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam tặng Bằng khen Cục Quản Lý khám, chữa bệnh – Bộ Y tế “đã có nhiều thành tích trong công tác phòng, chống HIV/AIDS, góp phần vào sự nghiệp Bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân”.
7. Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam tặng Bằng khen Cục Quản lý khám, chữa bệnh – Bộ Y tế đã có nhiều thành tích trong việc thực hiện Đề án 1816 “Cử cán bộ chuyên môn luân phiên từ bệnh viên tuyến trên về hỗ trợ bệnh viện tuyên dưới nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh ” góp phần vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc (tháng 5/2011)
8. Bộ trưởng Bộ Y tế tặng Cục Quản lý khám, chữa bệnh, Bộ Y tế Cờ thi đua “đơn vị xuất sắc trong phong trào thi đua năm 2009”.
9.Bằng khen Bộ trưởng Bộ Y tế tặng Vụ Điều Trị -Bộ Y tế đã có thành tích xuất sắc trong công tác Y tế phục vụ Đại hội lần thứ X của Đảng.
10. Bằng khen Bộ trưởng Bộ Y tế tặng Vụ Điều Trị- Bộ Y tế đã có thành tích xuất sắc thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch Y tế năm 2005.
11. Bằng khen Bộ trưởng Bộ Y tế tặng Vụ điều trị – Bộ Y tế đã có thành tích xuất sắc trong công tác y tế phục vụ Hội Nghị APEC 2006.
12. Bằng khen Bộ trưởng Bộ Y tế tặng Vụ Điều trị- Bộ Y tế đã có thành tích trong công tác phục vụ Hội nghị ASEM 5.
13. Bằng khen Bộ trưởng Bộ Y tế tặng Vụ điều trị – Bộ Y tế đã có thành tích trong công tác Y tế phục vụ SEAGAMES 22 và ASEAN PARA GAMES 2.
14. Bằng khen Bộ trưởng Bộ Y tế tặng Cục Quản lý khám, chữa bệnh – Bộ Y tế đã có thành tích xuất sắc trong việc ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác y tế giai đoạn 2007 – 2008.
15. Bằng khen Bộ trưởng Bộ Y tế tặng Cục Quản lý khám, chữa bệnh – Bộ Y tế đã có thành tích xuất sắc trong công tác y tế phục vụ sự kiện của năm ASEAN 2010.
16. Bằng khen Bộ trưởng Bộ Y tế tặng Cục Quản lý khám, chữa bệnh – Bộ Y tế đã có thành tích xuất sắc thực hiện công tác Kết hợp quân dân y chăm sóc sức khỏe nhân dân và bộ đội giai đoạn 2006-2010.
17. Bằng khen Bộ trưởng Bộ Y tế tặng Cục Quản lý khám, chữa bệnh – Bộ Y tế đã có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện Đề án 1816 của Bộ Y tế giai đoạn 2008 – 2010.
18. Bằng khen Bí thư Ban chấp hành đảng bộ Khối cơ quan khoa giáo Trung ương tặng Chi bộ Vụ Điều Trị – Bộ Y tế, Đảng bộ cơ quan Bộ Y tế đã có thành tích xuất sắc trong công tác năm 2004.
19. Bằng khen Tiểu ban tổ chức phục vụ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tặng Vụ Điều trị – Bộ Y tế đã có thành tích xuất sắc phục vụ Đại hội đại biểu lần thứ X của Đảng.
20. Bằng khen Tiểu ban tổ chức phục vụ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tặng Cục Quản lý khám, chữa bệnh – Bộ Y tế có thành tích xuất sắc phục vụ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng.
21. Giấy khen Ban chấp hành Đảng bộ – Bộ Y tế tặng Đảng bộ Cục Quản lý khám, chữa bệnh đạt danh hiệu “Đảng bộ trong sạch vững mạnh tiêu biểu” năm 2011.
22. Trưởng Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương tặng Cờ thi đua “Đơn vị đạt thành tích xuất sắc hệ thống bảo vệ sức khỏe” thưởng cho Vụ Điều trị, Bộ Y tế năm 2005.
23. Trưởng Ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương tặng Cờ thi đua “đơn vị đạt thành tích xuất sắc hệ thống bảo vệ sức khỏe” thưởng cho Vụ Điều trị, Bộ Y tế năm 2006.
24. Bằng khen Chủ tịch Ủy ban An toàn Giao thông Quốc gia tặng Vụ điều trị – Bộ Y tế “đã có thành tích suất sắc trong phong trao thi đua bảo đảm trật tự An toàn Giao thông đợt 1 năm 1998”.
25. Bằng khen Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ tặng Vụ Điều Trị – Bộ Y tế đã có thành tích xuất sắc trong việc tổ chức chỉ đạo, đóng góp vào thành công của chiến dịch phòng chống bệnh SARS (2003)
26. Bằng khen Ban Điều phối quốc gia Tổ chức Đại lễ Phật Đản Liên hiệp Quốc năm 2008 tặng Cục Quản lý khám, chữa bệnh đã có thành tích xuất sắc trong việc tham gia tổ chức thành công Đại lễ Phật Đản Liên Hợp Quốc năm 2008 tại Việt Nam.
27. Bằng khen Ban chấp hành Công đoàn Y tế Việt Nam tặng Công đoàn Cục Quản lý khám, chữa bênh – Bộ Y tế đã có thành tích xuất sắc trong phối hợp chỉ đạo phong trào CNVCLĐ và hoạt động công đoàn năm 2010.
28. Bằng khen Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban dân tộc tặng Cục Quản lý khám, chữa bệnh – Bộ Y tế đã có thành tích trong công tác phục vụ Đại hội Đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số Việt Nam lần thứ nhất, năm 2010.
HƯỚNG TỚI “CÔNG BẰNG – HIỆU QUẢ – CHẤT LƯỢNG & PHÁT TRIỂN”
Quá trình đổi mới lĩnh vực y tế ở Việt Nam trong gần 25 năm qua được bắt đầu từ đổi mới các chính sách liên quan trực tiếp đến lĩnh vực cung ứng dịch vụ y tế nói chung và dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh nói riêng, đó là chính sách thu một phần viện phí được quy định trong Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989, Pháp lệnh Hành nghề y dược tư nhân (năm 1993 và sửa đổi năm 2003), chính sách về bảo hiểm y tế (năm 1992), chính sách miễn, giảm viện phí cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và một số đối tượng chính sách xã hội khác, v.v…
Quy chế bệnh viện do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành kèm theo Quyết định số 1895/1997/QĐ-BYT ngày 19 tháng 9 năm 1997 đã luôn cùng đồng hành với người chiến sĩ áo trắng trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong suốt thập niên cuối của thế kỷ 20 và những thập niên đầu của thế kỷ 21. Đến nay, một số quy chế được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế nhưng Quy chế bệnh viện vẫn đã là cuốn cẩm nang gối đầu giường của mỗi cán bộ nhân viên y tế trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Trước đó, chế độ chức trách và chế độ chuyên môn công tác bệnh viện được điều chỉnh bằng công văn số 1876/BYT – CB ngày 12 tháng 6 năm 1972 và Quyết định số 266/QĐ-BYT ngày 01 tháng 4 năm 1988 của Bộ Y tế.
Những năm gần đây , một số văn bản chiến lược, định hướng cho hệ thống y tế, trong đó có lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh, đã được Đảng và Chính phủ quan tâm và ban hành, đó là: Nghị quyết số 46-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 23 tháng 2 năm 2005 về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới; Quyết định số 153/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 30 tháng 6 năm 2006 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt nam giai đoạn đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020; Quyết định số 30/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 22 tháng 2 năm 2008 phê duyệt Quy hoạch phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020.
Một số luật và văn bản dưới luật đã được ban hành như: Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006; Luật Bảo hiểm Y tế năm 2008; Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009; Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP, Nghị định 10/2002/NĐ-CP, Nghị định 43/2006/NĐ-CP, Nghị định 69/2008/NĐ-CP về thực hiện xã hội hóa và giao quyền tự chủ trong các đơn vị sự nghiệp công,…
Các văn bản này đã có tác động lớn đến cơ chế hoạt động của các cơ sở cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh.
Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006, Nghị định số 56/2008/NĐ-CP ngày 29 tháng 4 năm 2008 của Chính phủ và các Quyết định của Bộ trưởng Bộ Y tế là các văn bản hướng dẫn Luật đang đi vào cuộc sống.
Tuy nhiên Luật này đã bộc lộ một số bất cập trong đó không quy định việc hiến, lấy ghép bộ phận cơ thể người trên lãnh thổ Việt Nam đối với người cho là người nước ngoài và cả người cho và người nhận bộ phận cơ thể người đều là người nước ngoài. Thủ tướng Chính phủ đã Quyết định cho phép thành lập Trung tâm Điều phối Quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người và gần đây Bộ Y tế đã triển khai đưa Trung tâm đi vào hoạt động. Đây là Trung tâm mang tính đặc thù, không thực hiện các kỹ thuật ghép mà hoạt động điều phối việc hiến, lấy, ghép bộ phận cơ thể người trong phạm vi toàn quốc. Đến nay chúng ta đã có một số như ngân hàng mắt, ngân hàng tế bào gốc, ngân hàng máu cuống rốn đã và đang hoạt động.
Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 quy định quyền và nghĩa vụ của người bệnh, người hành nghề và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; điều kiện đối với người hành nghề và cơ sở hành nghề khám bệnh, chữa bệnh; các quy định chuyên môn kỹ thuật; áp dụng kỹ thuật mới, phương pháp mới trong khám bệnh, chữa bệnh; sai sót chuyên môn kỹ thuật và giải quyết khiếu nại của người bệnh và điều kiện bảo đảm khám bệnh, chữa bệnh. Luật này thay thế một số chương, mục của Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989 và làm hết hiệu lực đối với Pháp lệnh Hành nghề y dược tư nhân (năm 1993 và sửa đổi năm 2003). Các quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh và văn bản hướng dẫn luật này như: Nghị định số 87/2011/NĐ-CP ngày 27 tháng 9 tháng 2011 của Chính phủ và Thông tư số 41/2011/TT-BYT ngày 14 tháng 11 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế đã tạo hành lang pháp lý trong việc cấp số số số chứng chỉ hành nghề và cấp giấy phép hoạt động cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đối với cả khu vực nhà nước và tư nhân mà trước khi có Luật này mới chỉ thực hiện ở khu vực tư nhân.
Vấn đề cấp chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh khu vực nhà nước đã được quy định tại Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989, tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau, chúng ta chưa tổ chức thực hiện được quy định này. Việc cấp chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của nhà nước có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc quản lý nhà nước bằng pháp luật, đồng thời là một cột mốc, dấu ấn quan trọng trong lịch sử của hệ thống khám, chữa bệnh thực hiện việc này. Điều đó càng khẳng định Việt Nam chúng ta đang hội nhập ngày càng sâu rộng đối với các nước trong khu vực ASEAN và trên thế giới. Tuy nhiên Luật quy định việc cấp chứng chỉ hành nghề và cấp giấy phép hoạt động cơ sở khám bệnh, chữa bệnh một lần không thời hạn đã không phát huy khơi dậy được tiềm năng sáng tạo, phát triển của những người hành nghề, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và những hạn chế khác.
Luật Bảo hiểm Y tế năm 2008 quy định về chế độ, chính sách bảo hiểm y tế, trong đó có tổ chức khám bệnh, chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế, thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế, quyền và trách nhiệm của các bên liên quan đến bảo hiểm y tế. Luật đặt ra lộ trình thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân vào năm 2020 và những năm tiếp theo. Qua hơn 3 năm tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm y tế đã bộc lộ một số hạn chế, không phù hợp với thực tiễn, hiện nay chúng ta đang khẩn trương sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật này cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống và sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Năm 2012 Quốc hội đã thông qua và ban hành Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, chúng ta đang xây dựng Dự án Luật về máu và tế bào gốc, trong tương lai không xa chúng ta kỳ vọng sẽ xây dựng Dự án Luật về Sức khỏe Tâm thần.
Quan điểm chung là đổi mới và hoàn thiện mạng lưới khám bệnh, chữa bệnh theo hướng công bằng, hiệu quả và phát triển, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, nâng cao chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh ngang tầm các nước tiên tiến trong khu vực, đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh ngày càng cao của nhân dân, một số định hướng phát triển chủ yếu về cung ứng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh đối với thập niên thứ hai của thế kỷ 21, như sau:
– Phát triển cân đối, hợp lý giữa các bệnh viện đa khoa và chuyên khoa, phát triển y tế phổ cập kết hợp y tế chuyên sâu, giữa y học hiện đại với y học cổ truyền dân tộc.
– Bảo đảm tính hệ thống và tính liên tục trong hoạt động chuyên môn giữa các tuyến. Quản lý, kiểm soát hoạt động cấp chứng chỉ hành nghề và giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
– Đổi mới cơ chế tài chính bệnh viện, nâng cao hiệu quả hoạt động theo Nghị định số 85/2012/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2012 của Chính phủ. Thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ các đối tượng chính sách và người nghèo trong khám bệnh, chữa bệnh. Tập trung và tăng cường hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước và các nguồn thu để nâng cao chất lượng các dịch vụ khám chữa bệnh, có các giải pháp để sử dụng có hiệu quả cơ sở hạ tầng, trang thiết bị của các cơ sở y tế, đặc biệt là các bệnh viện tuyến huyện, bệnh viện khu vực đã và đang được đầu tư trong thời gian vừa qua.
– Tăng chi ngân sách nhà nước cho y tế, phát triển bảo hiểm y tế toàn dân, kết hợp với xã hội hóa các hoạt động chăm sóc sức khỏe.
– Tăng cường kiểm soát chất lượng các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Bộ, xây dựng hệ thống kiểm định chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại tất cả các cơ sở khám chữa bệnh.
– Đổi mới toàn diện cơ chế quản lý, điều hành, tài chính, nhân lực tại các bệnh viện để phát huy tính năng động, sáng tạo của cơ sở trong việc huy động, quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực.
– Thực hiện cơ chế tự chủ đối với các cơ sở khám chữa bệnh công lập, cùng với tiến trình mở rộng bảo hiểm y tế, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân với hình thức bảo hiểm y tế bắt buộc vào năm 2020./.
1. Cục Quản lý Khám, chữa bệnh là cục chuyên ngành thuộc Bộ Y tế, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Y tế quản lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật về các lĩnh vực: khám bệnh, chữa bệnh; hành nghề khám bệnh, chữa bệnh; cấp cứu ngoại viện; phục hồi chức năng; giám định y khoa; giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần; hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người; dược lâm sàng; điều dưỡng; kiểm soát nhiễm khuẩn; dinh dưỡng lâm sàng; an toàn truyền máu; xếp cấp chuyên môn kỹ thuật đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; chất lượng cơ sở và dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh (sau đây viết tắt là các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Cục Quản lý Khám, chữa bệnh).
2. Cục Quản lý Khám, chữa bệnh có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, có trụ sở tại thành phố Hà Nội.
3. Cục Quản lý Khám, chữa bệnh có tên giao dịch quốc tế là Medical Service Administration (viết tắt là MSA).
1. Chủ trì, phối hợp xây dựng, sửa đổi, bổ sung, chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, các tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, danh mục kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật của các dịch vụ chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh (trừ phụ sản, sơ sinh, y học cổ truyền), chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án, ban hành văn bản hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ: hướng dẫn chẩn đoán và điều trị, quy trình kỹ thuật, quy trình lâm sàng, tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ, các quy định chuyên môn về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Cục theo phân cấp của Bộ trưởng Bộ Y tế.
2. Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng, chỉ đạo, hướng dẫn triển khai thực hiện các tiêu chuẩn, tiêu chí chất lượng và đánh giá, thừa nhận, công nhận chất lượng đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật.
3. Chủ trì xây dựng tiêu chuẩn sức khoẻ và hướng dẫn tổ chức thực hiện việc khám sức khỏe.
4. Chủ trì thẩm định, trình cấp có thẩm quyền cho phép cơ sở khám bệnh, chữa bệnh áp dụng kỹ thuật mới, phương pháp mới theo quy định của pháp luật; Chủ trì xem xét, cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo theo đợt hoặc lưu động tại 02 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên.
5. Chủ trì tổ chức hội đồng chuyên môn để xác định sai sót chuyên môn trong khám bệnh, chữa bệnh (trừ việc xác định sai sót chuyên môn trong thực hiện các dịch vụ chuyên môn, kỹ thuật chuyên ngành phụ sản, sơ sinh, y học cổ truyền); chỉ đạo, hướng dẫn triển khai các giải pháp nhằm bảo đảm an toàn người bệnh và phòng ngừa sự cố y khoa, sự cố ngoài y khoa trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Cục.
6. Chủ trì cấp mới, cấp lại, gia hạn, điều chỉnh đình chỉ, thu hồi giấy phép hành nghề (bao gồm cả chứng chỉ hành nghề đã được cấp theo quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh số 40/2009/QH15) theo phân cấp quản lý nhà nước; chủ trì quản lý thực hiện công tác đăng ký hành nghề đối với người làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên toàn quốc; đầu mối xây dựng quy định, hướng dẫn về thực hành để cấp giấy phép hành nghề và để quản lý hành nghề khám bệnh, chữa bệnh.
7. Chủ trì cấp mới, cấp lại, điều chỉnh, đình chỉ, thu hồi giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và phòng khám bệnh nghề nghiệp theo phân cấp quản lý nhà nước (trừ trường hợp điều chỉnh giấy phép hoạt động cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, chuyên ngành phụ sản, sơ sinh, y học cổ truyền); Chủ trì thẩm định, trình Bộ trưởng cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ truyền thực hiện phạm vi hoạt động chuyên môn bằng y học hiện đại của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền của Bộ Y tế.
8. Về hoạt động dược lâm sàng:
a) Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định về hoạt động dược lâm sàng nhằm mục tiêu sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả trong khám bệnh, chữa bệnh đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bao gồm: xây dựng danh mục thuốc; kê đơn, sử dụng thuốc; thông tin hướng dẫn sử dụng thuốc cho người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh; hướng dẫn chuyên môn liên quan đến việc sử dụng thuốc và thực hiện việc giám sát, theo dõi, báo cáo phản ứng có hại của thuốc; phân tích đánh giá hiệu quả sử dụng thuốc;
b) Tổ chức chỉ đạo, hướng dẫn kiểm tra, giám sát hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện.
9. Đầu mối, phối hợp chỉ đạo các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện khám chữa bệnh, phục hồi chức năng; khám, chữa bệnh cho người cao tuổi.
10. Đầu mối, phối hợp chỉ đạo công tác giám định y khoa, giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.
11. Chỉ đạo, tổ chức cấp cứu ngoại viện, ứng cứu, tiếp nhận và điều trị nạn nhân trong các vụ dịch bệnh, thiên tai, thảm họa, tai nạn giao thông, bạo lực giới và bạo lực gia đình.
12. Chủ trì chỉ đạo và giám sát việc thực hiện các giải pháp chuyên môn giảm quá tải bệnh viện; xây dựng và phát triển mạng lưới bệnh viện vệ tinh, khám, chữa bệnh từ xa; tổ chức thực hiện hoạt động chuyển giao kỹ thuật, công nghệ, chỉ đạo chuyên môn về lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh.
13. Chủ trì xây dựng nội dung chuyên môn và tham gia quản lý hệ thống thông tin phục vụ công tác quản lý khám bệnh, chữa bệnh, mã hóa lâm sàng và cận lâm sàng để triển khai Bệnh án điện tử, phục hồi chức năng, quản lý hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và các hoạt động trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Cục.
14. Chỉ đạo, hướng dẫn việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Cục.
15. Đầu mối chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác y tế phục vụ cho các hội nghị, sự kiện quan trọng của Nhà nước; đầu mối về chuyên môn công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ trung, cao cấp.
16. Phối hợp hướng dẫn, tổ chức triển khai thực hiện pháp luật phòng chống tác hại thuốc lá thuộc lĩnh vực quản lý được phân công.
17. Phối hợp chỉ đạo và tổ chức thực hiện việc đào tạo liên tục, cập nhật kiến thức y khoa cho người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, chuyên môn nghiệp vụ về quản lý chất lượng dịch vụ khám bệnh chữa bệnh, quản lý chất lượng dịch vụ cận lâm sàng và quản lý các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước khác của Cục.
18. Tham gia xây dựng quy định và phối hợp thẩm định về tiêu chuẩn phân hạng; điều kiện, tiêu chuẩn, thành lập, sáp nhập, tổ chức lại, giải thể các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; tham gia xây dựng, chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện cơ chế, chính sách về bảo hiểm y tế, xã hội hóa dịch vụ y tế, hợp tác công tư và các chính sách khác trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Cục.
19. Phối hợp hướng dẫn các hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, hội nhập quốc tế và hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Cục.
20. Thực hiện công tác pháp chế, công tác cải cách hành chính trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Cục.
21. Tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, xây dựng, ban hành các quy định kiểm tra, giám sát trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Cục theo quy định của pháp luật.
22. Quản lý tổ chức, công chức, viên chức, người lao động, tài sản, kinh phí được giao theo quy định của pháp luật và phân cấp của Bộ trưởng Bộ Y tế.
23. Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của Lãnh đạo Bộ giao:
a) Chủ trì chỉ đạo hướng dẫn khám bệnh, chữa bệnh y học gia đình; bắt buộc chữa bệnh; xây dựng gói dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh cơ bản thuộc lĩnh vực được phân công;
b) Đầu mối xây dựng và chỉ đạo tổ chức triển khai việc lập hồ sơ sức khỏe cá nhân gắn với quản lý sức khỏe;
c) Chủ trì hướng dẫn nhiệm vụ công tác xã hội trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
d) Chủ trì chỉ đạo công tác khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng trong chương trình khắc phục hậu quả chất độc hóa học/dioxin và bom mìn lên sức khỏe con người;
đ) Chủ trì chỉ đạo, tổ chức triển khai chương trình phòng, chống kháng thuốc và kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; là cơ quan thường trực trong phòng chống kháng thuốc Quốc gia;
e) Đầu mối thực hiện các hoạt động trong công tác hội nhập khu vực và quốc tế của Ủy ban điều phối dịch vụ y tế các nước ASEAN;
g) Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ Y tế giao.
Điều 3. Tổ chức và cơ chế hoạt động
1. Lãnh đạo Cục: gồm Cục trưởng và các Phó Cục trưởng.
Cục trưởng và các Phó Cục trưởng do Bộ trưởng Bộ Y tế bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo các quy định của pháp luật.
Cục trưởng chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Y tế và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Cục. Các Phó Cục trưởng giúp việc cho Cục trưởng và được Cục trưởng giao phụ trách một số công tác, chịu trách nhiệm trước Cục trưởng và trước pháp luật về các nhiệm vụ được giao.
2. Cơ cấu tổ chức
a) Văn phòng Cục;
b) Phòng Nghiệp vụ;
c) Phòng Điều dưỡng - Dinh dưỡng - Kiểm soát nhiễm khuẩn;
d) Phòng Phục hồi chức năng và Giám định;
đ) Phòng Quản lý hành nghề khám, chữa bệnh;
e) Phòng Quản lý chất lượng và Chuyển giao kỹ thuật;
g) Đơn vị sự nghiệp trực thuộc Cục:
- Trung tâm Phát triển năng lực quản lý khám, chữa bệnh.
3. Cơ chế hoạt động:
a) Cục Quản lý Khám, chữa bệnh hoạt động theo chế độ thủ trưởng;
b) Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng Cục và các phòng, tổ chức thuộc, trực thuộc Cục do Cục trưởng quy định trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Cục đã được Bộ trưởng Bộ Y tế giao. Mối quan hệ giữa Văn phòng Cục, các phòng, tổ chức thuộc, trực thuộc Cục do Cục trưởng quy định;
c) Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm các chức danh lãnh đạo Văn phòng Cục và lãnh đạo các phòng, tổ chức thuộc, trực thuộc Cục được thực hiện theo quy định của pháp luật và theo phân cấp của Bộ Y tế;
d) Các chức danh lãnh đạo Cục, lãnh đạo Văn phòng Cục và lãnh đạo các phòng, tổ chức thuộc, trực thuộc Cục được hưởng phụ cấp theo quy định của pháp luật.
4. Biên chế
Biên chế của Cục Quản lý Khám, chữa bệnh được xác định theo quy định của pháp luật về vị trí việc làm và được điều chỉnh theo nhu cầu vị trí việc làm do Bộ trưởng Bộ Y tế quyết định trên cơ sở đề xuất của Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh.
5. Kinh phí
Kinh phí hoạt động của Cục Quản lý Khám, chữa bệnh do ngân sách nhà nước cấp và các nguồn kinh phí hợp pháp khác.
1. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký, ban hành.
2. Quyết định số 2318/QĐ-BYT ngày 26 tháng 05 năm 2023 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý Khám, chữa bệnh thuộc Bộ Y tế hết hiệu lực kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực.
Các ông bà: Chánh Văn phòng Bộ, Chánh Thanh tra Bộ, Vụ trưởng, Cục trưởng thuộc Bộ Y tế và thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
Cơ cấu tổ chức mới
I.Lãnh đạo Cục
1.TS.BS Hà Anh Đức- Cục trưởng
2.TS Nguyễn Trọng Khoa- Phó Cục trưởng
3.TS Vương Ánh Dương- Phó Cục trưởng
4.TS Dương Huy Lương- Phó Cục trưởng
II. Danh sách phòng
Cơ cấu tổ chức
1. Văn phòng Cục;
2. Phòng Nghiệp vụ;
3. Phòng Điều dưỡng - Dinh dưỡng - Kiểm soát nhiễm khuẩn;
4. Phòng Phục hồi chức năng và Giám định;
5. Phòng Quản lý hành nghề khám, chữa bệnh;
6. Phòng Quản lý chất lượng và Chuyển giao kỹ thuật;
* Đơn vị sự nghiệp:
- Trung tâm Phát triển năng lực quản lý khám, chữa bệnh.
III. Lãnh đạo phòng
1.ThS. Nguyễn Thùy Nguyên- Chánh Văn phòng
2.ThS. Trương Lê Vân Ngọc- Trưởng phòng Nghiệp vụ
3.ThS Cao Đức Phương- Phó Trưởng phòng Điều dưỡng- Dinh dưỡng- KS Nhiễm khuẩn
4.TS Trần Ngọc Nghị- Trưởng phòng PHCN và Giám định
5.ThS Lê Hải An- Trưởng phòng Quản lý Hành nghề Khám, chữa bệnh
6.ThS.Đào Nguyên Minh- Trưởng phòng QLCL và Chuyển giao Kỹ thuật.

VĂN PHÒNG CỤC
1. Vị trí, chức năng
Văn phòng Cục là đơn vị thuộc của Cục, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Cục trưởng thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước, tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật và là đầu mối thực hiện các hoạt động: điều phối hoạt động của các đơn vị trong Cục theo chương trình, kế hoạch; hành chính, quản trị, văn thư, lưu trữ; tổ chức cán bộ; thi đua, khen thưởng; tài chính kế toán; truyền thông, lễ tân, khánh tiết; tổng hợp nội bộ; công tác Đảng vụ.
2. Nhiệm vụ, quyền hạn
2.1. Tham mưu và theo dõi, đôn đốc triển khai thực hiện sự chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo Cục:
a) Chủ trì, phối hợp với các đơn vị thuộc Cục xây dựng và theo dõi, đôn đốc việc triển khai Chương trình, Kế hoạch công tác của Cục, chương trình làm việc, lịch công tác tuần của Lãnh đạo Cục; Quy chế làm việc, quy định áp dụng trong nội bộ của Cục;
b) Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan theo dõi, đôn đốc việc thực hiện và báo cáo Lãnh đạo Cục tình hình thực hiện các nhiệm vụ Bộ Y tế giao cho Cục và tình hình thực hiện các ý kiến chỉ đạo, kết luận của Lãnh đạo Bộ, lãnh đạo Cục đối với các đơn vị thuộc Cục;
c) Theo dõi, đôn đốc các đơn vị thuộc Cục gửi báo cáo công tác tuần, tháng, năm và kết quả hoạt động để tổng hợp, báo cáo công tác và kết quả hoạt động chung của Cục.
2.2. Công tác hành chính, văn thư, lưu trữ và bảo vệ bí mật nhà nước:
a) Tổ chức thực hiện công tác hành chính, văn thư, lưu trữ theo quy định của pháp luật; Quản lý con dấu của Cục và con dấu của Hội đồng giám định y khoa phúc quyết lần cuối;
b) Hướng dẫn, tập huấn, kiểm tra các đơn vị thuộc Cục trong việc thực hiện công tác hành chính, văn thư, lưu trữ;
c) Đầu mối việc tiếp nhận, quản lý, phân phối, lưu trữ, bảo mật văn bản đi - đến, tài liệu và thực hiện công tác bảo vệ bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật;
d) Tham gia rà soát thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Cục; theo dõi, đôn đốc việc công bố, công khai thủ tục hành chính; đầu mối triển khai thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông, nhận, trả hồ sơ trong giải quyết thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Cục;
đ) Chủ trì, phối hợp với các đơn vị tiếp nhận, phân loại và đôn đốc trả lời phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của Cục;
e) Phối hợp xây dựng, rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy trình nội bộ giải quyết thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Cục;
f) Đầu mối công tác cải cách hành chính nội bộ của Cục.
2.3. Công tác tổ chức cán bộ, thi đua khen thưởng:
a) Đầu mối tổng hợp, đề xuất, sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Cục và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của các đơn vị thuộc Cục, trình cấp có thẩm quyền ban hành;
b) Đầu mối xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo cán bộ công chức;
c) Đầu mối thực hiện thực hiện việc tuyển dụng, phân công công tác, điều động, biệt phái, quy hoạch, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, thôi giữ chức vụ, từ chức, cách chức, nghỉ hưu, thôi việc, nâng ngạch, chuyển ngạch; bảo vệ chính trị nội bộ, bảo hiểm, quản lý lao động, tiền lương, thi đua, khen thưởng, kỷ luật; quản lý cán bộ, công chức đi công tác, học tập ở nước ngoài; theo dõi, đôn đốc cán bộ, công chức trong Cục chấp hành đúng các quy định của Luật lao động, Luật Cán bộ, Công chức và các nội quy, quy chế của cơ quan;
d) Đầu mối xây dựng và tổ chức thực hiện Đề án vị trí việc làm, Đề án tinh giản biên chế, kế hoạch biên chế của Cục theo quy định;
đ) Đầu mối thực hiện chế độ báo cáo, thống kê và quản lý hồ sơ công chức, người lao động theo quy định.
2.4. Công tác tài chính kế toán:
a) Xây dựng kế hoạch tài chính định kỳ theo quy định. Phối hợp với các phòng, bộ phận triển khai sau khi được phê duyệt;
b) Quản lý các nguồn kinh phí theo chế độ tài chính hiện hành. Tham mưu thu, chi theo đúng quy định hiện hành;
c) Tổ chức thực hiện công tác tài chính bao gồm: thủ quỹ, kế toán, lưu giữ sổ sách, chứng từ kế toán theo quy định hiện hành;
d) Quản lý công sản về mặt giá trị, bao gồm: lập hồ sơ theo dõi, kiểm kê, xử lý công sản theo quy định.
đ) Lập báo cáo tài chính và quyết toán các nguồn kinh phí theo quy định.
2.5. Công tác quản trị, lễ tân:
a) Bảo đảm điều kiện, phương tiện làm việc phục vụ công việc điều hành của Lãnh đạo Cục và điều kiện làm việc của công chức, người lao động của Cục theo quy định;
b) Đầu mối tổ chức thực hiện các quy định về phòng cháy, chữa cháy, đảm bảo an ninh trật tự, phòng chống thiên tai, dịch bệnh, vệ sinh, an toàn lao động, bảo vệ môi trường tại trụ sở làm việc của Cục;
c) Đầu mối quản lý kỹ thuật về cấp phát, bảo dưỡng bảo trì các thiết bị văn phòng, tin học và hệ thống máy tính; đảm bảo an toàn, an ninh cho hệ thống thông tin của Cục; xây dựng và thực hiện kết hoạch mua sắm thiết bị, nội thất, văn phòng phẩm, nhiên liệu, vật tư phục vụ cho hoạt động thường xuyên của Cục;
d) Đầu mối tổ chức thực hiện tiếp khách, thăm hỏi ốm đau, hiếu, hỷ của công chức, người lao động của Cục theo quy định; chịu trách nhiệm công tác lễ tân nội bộ, khánh tiết trong các ngày lễ, tết và các công việc đột xuất khác có liên quan;
đ) Đầu mối tổ chức thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãnh phí theo quy định.
2.6. Công tác thông tin, truyền thông thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Cục:
a) Đầu mối tổng hợp, tiếp nhận, cung cấp thông tin, duy trì quan hệ phối hợp giữa Cục với các cơ quan cấp trên, các đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ và các cơ quan, đơn vị khác có liên quan;
b) Đầu mối tham mưu cho lãnh đạo Cục tổ chức thực hiện việc chia sẻ, cung cấp thông tin cho các cơ quan thông tấn, báo chí, Cổng thông tin điện tử của Bộ Y tế về các nội dung thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Cục;
c) Đầu mối phối hợp với các đơn vị liên quan thực hiện biên soạn, biên tập các ấn phẩm, tài liệu, thông tin liên quan về các lĩnh vực trong phạm vi quản lý nhà nước của Cục; Thường trực Tổ tiếp nhận và phối hợp với các phòng chuyên môn xử lý thông tin báo chí của Cục;
d) Đầu mối quản lý, vận hành và tổ chức triển khai thực hiện Trang thông tin điện tử của Cục Quản lý Khám, chữa bệnh.
2.7. Thường trực công tác giúp việc Đảng ủy Cục: triển khai các văn bản, Nghị quyết của Đảng ủy cấp trên đến các Chi bộ; thực hiện các thủ tục kết nạp Đảng, chuyển sinh hoạt Đảng, thi đua, khen thưởng, kỷ luật, báo cáo, hệ thống sổ sách, văn bản đi - đến đúng quy định.
2.8. Đầu mối, phối hợp xây dựng, sửa đổi, bổ sung, chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án, ban hành văn bản hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ về nhiệm vụ công tác xã hội trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
2.9. Phối hợp hướng dẫn, tổ chức triển khai thực hiện pháp luật phòng chống tác hại thuốc lá thuộc lĩnh vực quản lý được phân công.
2.10. Phối hợp tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, hội nhập và hợp tác quốc tế. Tham mưu cho lãnh đạo Cục trong công tác đối ngoại.
2.11. Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo theo quy định.
2.12. Quản lý công chức, người lao động, tài sản, kinh phí được giao theo quy định của pháp luật;
2.13. Thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự phân công của Cục trưởng.
TẤT CẢ VÌ SỰ AN TOÀN CỦA NGƯỜI BỆNH

PHÒNG NGHIỆP VỤ
Phòng Nghiệp vụ là đơn vị chuyên môn của Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Cục trưởng thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước, tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật và chỉ đạo điều hành các hoạt động về lĩnh vực: quản lý bệnh lây nhiễm, bệnh dịch nguy hiểm, bệnh không lây nhiễm, dược lâm sàng, hiến ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác; khám bệnh, chữa bệnh, công tác xây dựng hướng dẫn chuyên môn khám bệnh, chữa bệnh; cấp phép hoạt động và danh mục kỹ thuật của các cơ sở khám, chữa bệnh công lập thuộc thẩm quyền của Bộ Y tế, công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực khám chữa bệnh, bảo vệ sức khỏe cán bộ cao cấp (bao gồm khám sức khoẻ cán bộ cao cấp) và y tế phục vụ các sự kiện lớn của quốc gia và quốc tế tại Việt Nam (sau đây viết tắt là các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Phòng).
2. Nhiệm vụ và quyền hạn
2.1. Chủ trì, phối hợp xây dựng, sửa đổi, bổ sung, chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, các tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, danh mục kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật của các dịch vụ chuyên môn kỹ thuật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án, xây dựng hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ: hướng dẫn chẩn đoán và điều trị, quy trình kỹ thuật, quy trình lâm sàng về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Phòng.
2.2. Đầu mối tổ chức thẩm định, trình cấp có thẩm quyền cho phép cơ sở khám bệnh, chữa bệnh áp dụng phương pháp mới, kỹ thuật mới theo quy định của pháp luật.
2.3. Đầu mối phối hợp với các đơn vị liên quan thẩm định, cấp mới, cấp lại, điều chỉnh, đình chỉ, thu hồi giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và phòng khám bệnh nghề nghiệp trực thuộc Bộ Y tế.
2.4. Đầu mối thẩm định cấp mới, cấp lại, điều chỉnh, đình chỉ, thu hồi giấy phép hoạt động đối với ngân hàng mô công lập.
2.5. Đầu mối tổ chức hội đồng chuyên môn để xác định sai sót chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh (trừ việc xác định sai sót chuyên môn trong thực hiện các dịch vụ chuyên môn, kỹ thuật chuyên ngành phụ sản, sơ sinh, y học cổ truyền, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân).
2.6. Đầu mối xây dựng hướng dẫn chẩn đoán, quản lý và điều trị các bệnh lây nhiễm và không lây nhiễm; chỉ đạo, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong việc thực hiện. Đầu mối chỉ đạo việc tổ chức phát hiện sớm và tham gia truyền thông, tư vấn về phòng, chống bệnh lây nhiễm và không lây nhiễm trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
2.7. Về hoạt động dược lâm sàng:
a) Đầu mối chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định về hoạt động dược lâm sàng nhằm mục tiêu sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả trong khám bệnh, chữa bệnh đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, bao gồm: xây dựng danh mục thuốc; kê đơn, sử dụng thuốc; thông tin hướng dẫn sử dụng thuốc cho người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh; hướng dẫn chuyên môn liên quan đến việc sử dụng thuốc và thực hiện việc giám sát, theo dõi, báo cáo phản ứng có hại của thuốc; phân tích đánh giá hiệu quả sử dụng thuốc;
b) Đầu mối tổ chức chỉ đạo, hướng dẫn kiểm tra, giám sát hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện.
2.8. Đầu mối chương trình phòng, chống kháng thuốc, cơ quan thường trực giúp Ban chỉ đạo phòng chống kháng thuốc Quốc gia khai kế hoạch hành động quốc gia phòng chống kháng thuốc.
2.9. Đầu mối triển khai thực hiện công tác pháp chế của Cục.
2.10. Đầu mối chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác y tế phục vụ cho các hội nghị, sự kiện quan trọng của Nhà nước; phối hợp chỉ đạo công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ trung, cao cấp.
2.11. Đầu mối chỉ đạo, tổ chức ứng cứu, tiếp nhận và điều trị nạn nhân trong các vụ dịch bệnh, bạo lực giới và bạo lực gia đình.
2.12. Đầu mối xây dựng gói dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh cơ bản thuộc lĩnh vực được phân công.
2.13. Đầu mối giải quyết vướng mắc trong thanh toán chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế.
2.14. Tham gia xây dựng quy định và phối hợp thẩm định về tiêu chuẩn phân hạng; điều kiện, tiêu chuẩn, thành lập, sáp nhập, tổ chức lại, giải thể các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; tham gia xây dựng, chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện cơ chế, chính sách về bảo hiểm y tế, giá dịch vụ y tế, xã hội hóa dịch vụ y tế, hợp tác công tư và các chính sách khác trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Cục.
2.15. Tham gia xây dựng và hướng dẫn tổ chức thực hiện tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ số đánh giá, đo lường chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Phòng.
2.16. Tổ chức thực hiện việc đào tạo liên tục, cập nhật kiến thức y khoa cho người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Phòng.
2.17. Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo theo quy định.
2.18. Quản lý công chức, người lao động, tài sản, kinh phí được giao quy định của pháp luật và phân cấp của Cục trưởng.
2.19. Thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự phân công của Cục trưởng.
QUYẾT TÂM ĐỔI MỚI TOÀN DIỆN PHONG CÁCH PHỤC VỤ NGƯỜI BỆNH

PHÒNG ĐIỀU DƯỠNG - DINH DƯỠNG - KIỂM SOÁT NHIỄM KHUẨN
1. Vị trí và chức năng
Phòng Điều dưỡng – Dinh dưỡng – Kiểm soát nhiễm khuẩn là đơn vị chuyên môn của Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Cục trưởng thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước, tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật và chỉ đạo điều hành các hoạt động về lĩnh vực: điều dưỡng, dinh dưỡng lâm sàng, kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (sau đây viết tắt là các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Phòng).
2. Nhiệm vụ và quyền hạn
2.1. Chủ trì, phối hợp xây dựng, sửa đổi, bổ sung, chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, các tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, danh mục kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật của các dịch vụ chuyên môn kỹ thuật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án, ban hành văn bản hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ: hướng dẫn chẩn đoán và điều trị, quy trình kỹ thuật, quy trình lâm sàng về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Phòng.
2.2. Đầu mối hoặc phối hợp xây dựng và thẩm định các chương trình, tài liệu đào tạo liên tục và tổ chức xây dựng kế hoạch, thực hiện và tập huấn, giám sát thực hiện các chương trình đào tạo liên tục nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, quản lý lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Phòng.
2.3. Tham gia thẩm định, cấp mới, cấp lại, điều chỉnh, đình chỉ, thu hồi giấy phép hoạt động đối với cá nhân, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và phòng khám bệnh nghề nghiệp trực thuộc Bộ Y tế.
2.4. Tham gia thẩm định, trình cấp có thẩm quyền cho phép cơ sở khám bệnh, chữa bệnh áp dụng phương pháp mới, kỹ thuật mới lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Phòng.
2.5. Tham gia xây dựng và hướng dẫn tổ chức thực hiện tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ số đánh giá, đo lường chất lượng dịch vụ thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Phòng.
2.6. Tham gia tổ chức Hội đồng chuyên môn để xác định sai sót chuyên môn kỹ thuật về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Phòng.
2.7. Tham gia xây dựng chính sách viện phí, bảo hiểm y tế, cơ chế tự chủ và các chính sách khác trong lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của phòng; tham gia giải quyết vướng mắc trong thanh toán chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế.
2.8. Tham gia xây dựng gói dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh cơ bản thuộc phạm vi quản lý nhà nước của phòng.
2.9. Tham gia xây dựng quy định và phối hợp thẩm định về tiêu chuẩn phân hạng; điều kiện, tiêu chuẩn, thành lập, sáp nhập, tổ chức lại, giải thể các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; tham gia xây dựng, chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện cơ chế chính sách về bảo hiểm y tế, giá dịch vụ y tế, xã hội hoá dịch vụ y tế, hợp tác công tư và các chính sách khác trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Cục.
2.10. Triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học, hội nhập và hợp tác quốc tế lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Phòng.
2.11. Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo theo quy định.
2.12. Quản lý công chức, người lao động, tài sản, kinh phí được giao quy định của pháp luật và phân cấp của Cục trưởng.
PHÒNG PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VÀ GIÁM ĐỊNH
Phòng Phục hồi chức năng và Giám định là đơn vị chuyên môn của Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Cục trưởng thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước, tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật và chỉ đạo điều hành các hoạt động về lĩnh vực: Phục hồi chức năng, giám định y khoa, giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, cấp cứu ngoại viện, khám sức khỏe; công tác khắc phục hậu quả chất độc hóa học/dioxin và bom mìn lên sức khỏe con người; thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh theo quy định của Bộ Luật Hình sự, Bộ Luật tố tụng Hình sự, Luật Thi hành án hình sự; cấp cứu tai nạn giao thông, khám chữa bệnh cho người cao tuổi; khám, điều trị, phục hồi chức năng cho người khuyết tật (sau đây viết tắt là các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Phòng).
2. Nhiệm vụ và quyền hạn
2.1. Chủ trì, phối hợp xây dựng, sửa đổi, bổ sung, chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, các tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, danh mục kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật của các dịch vụ chuyên môn kỹ thuật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án, ban hành văn bản hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ: hướng dẫn chẩn đoán và điều trị, quy trình kỹ thuật, quy trình lâm sàng về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Phòng theo phân cấp của Lãnh đạo Cục.
2.2. Đầu mối xây dựng tiêu chuẩn sức khoẻ và hướng dẫn tổ chức thực hiện việc khám sức khỏe đối với đối tượng khám sức khỏe thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Cục (trừ khám sức khoẻ cán bộ cao cấp và khám sức khoẻ để lập hồ sơ sức khỏe cá nhân gắn với quản lý sức khỏe).
2.3. Đầu mối tổ chức các khóa tập huấn, bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý nhà nước và chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Phòng.
2.4. Đầu mối công tác khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng trong chương trình khắc phục hậu quả chất độc hóa học/dioxin và bom mìn lên sức khỏe con người.
2.5. Đầu mối chỉ đạo, tổ chức cấp cứu ngoại viện, ứng cứu, tiếp nhận và điều trị nạn nhân trong các vụ tai nạn giao thông, thiên tai, thảm họa.
2.6. Đầu mối, phối hợp chỉ đạo các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện khám bệnh, phục hồi chức năng; khám, chữa bệnh cho người cao tuổi.
2.7. Tham gia xây dựng chính sách viện phí, bảo hiểm y tế, cơ chế tự chủ và các chính sách khác trong khám, chữa bệnh các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Phòng.
2.8. Tham gia xây dựng các quy định về điều kiện, tiêu chuẩn, thành lập, sáp nhập, tổ chức lại, giải thể các cơ sở khám, chữa bệnh tại các cơ sở phục hồi chức năng, giám định y khoa, giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.
2.9. Tham gia xây dựng, kiểm tra, đánh giá việc quản lý chất lượng bệnh viện, chất thải y tế và công tác bảo vệ môi trường trong các cơ sở phục hồi chức năng, giám định y khoa, giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.
2.10. Tham gia thẩm định cấp mới, đình chỉ, thu hồi giấy phép hành nghề cho người hành nghề y, giấy phép hoạt động và danh mục kỹ thuật đối với cơ sở khám bệnh chữa bệnh thuộc lĩnh vực phục hồi chức năng, giám định y khoa, giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần trong các cơ sở khám chữa bệnh có cung cấp dịch vụ phục hồi chức năng, giám định y khoa, giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần theo quy định của pháp luật.
2.11. Tham gia thẩm định các điều kiện cho phép ứng dụng các kỹ thuật mới, phương pháp mới về: phục hồi chức năng, giám định y khoa, giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần trong các cơ sở khám chữa bệnh có cung cấp dịch vụ phục hồi chức năng, giám định y khoa, giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần theo quy định của pháp luật.
2.12. Tham gia xây dựng và hướng dẫn tổ chức thực hiện tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ số đánh giá, đo lường chất lượng dịch vụ phục hồi chức năng và khung năng lực cho các nhân viên y tế làm việc với người khuyết tật.
2.13. Triển khai hoạt động nghiên cứu khoa học, công tác thống kê, báo cáo, hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Phòng.
2.14. Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo theo quy định.
2.15. Quản lý công chức, người lao động, tài sản, kinh phí được giao quy định của pháp luật và phân cấp của Cục trưởng.
2.16. Thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự phân công của Cục trưởng.
TẠO MỌI ĐIỀU KIỆN THUẬN LỢI CHO NGƯỜI HÀNH NGHỀ VÀ CƠ SỞ KHÁM CHỮA BỆNH

PHÒNG QUẢN LÝ HÀNH NGHỀ KHÁM CHỮA BỆNH
Phòng Quản lý hành nghề khám, chữa bệnh là đơn vị chuyên môn của Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Cục trưởng thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước, tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật và chỉ đạo điều hành các hoạt động về lĩnh vực: cấp mới, cấp lại, gia hạn, điều chỉnh, đình chỉ, thu hồi giấy phép hành nghề của người hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của nhà nước và tư nhân và cấp mới, cấp lại, điều chỉnh, đình chỉ, thu hồi giấy phép hoạt động, danh mục kỹ thuật chuyên môn khám bệnh, chữa bệnh đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân (sau đây viết tắt là các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Phòng).
2. Nhiệm vụ và quyền hạn
2.1. Chủ trì, phối hợp xây dựng, sửa đổi, bổ sung, chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án, ban hành văn bản hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ: về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Phòng.
2.2. Chủ trì xem xét, cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo theo đợt hoặc lưu động tại 02 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên.
2.3. Đầu mối chỉ đạo, hướng dẫn, đào tạo, kiểm tra và tổ chức thực hiện đánh giá hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám, chữa bệnh tư nhân.
2.4. Đầu mối chỉ đạo, hướng dẫn, đào tạo, kiểm tra tổ chức thực hiện các quy định về cấp chứng chỉ hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với các cơ sở khám, chữa bệnh tư nhân.
2.5. Chủ trì, cấp lại, gia hạn, điều chỉnh đình chỉ, thu hồi giấy phép hành nghề (bao gồm cả chứng chỉ hành nghề đã được cấp theo quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh số 40/2009/QH15) theo phân cấp quản lý nhà nước; chủ trì quản lý công tác đăng ký hành nghề đối với người làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên toàn quốc; đầu mối xây dựng quy định, hướng dẫn về thực hành để cấp giấy phép hành nghề và để quản lý hành nghề khám bệnh, chữa bệnh.
2.6. Đầu mối chỉ đạo thực hiện công tác đăng ký hành nghề đối với người làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên phạm vi toàn quốc.
2.7. Chủ trì, phối hợp xây dựng nội dung chuyên môn và tổng hợp cơ sở dữ liệu về cấp giấy phép hành nghề, giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh, quản lý người hành nghề, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong toàn quốc.
2.8. Đầu mối thẩm định cấp mới, cấp lại, điều chỉnh, đình chỉ, thu hồi giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân theo quy định của pháp luật (trừ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ truyền); Chủ trì phối hợp với các đơn vị liên quan thẩm định, trình Bộ trưởng cấp điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ truyền thực hiện phạm vi hoạt động chuyên môn bằng phương pháp y học hiện đại của các bệnh viện tư nhân theo quy định của pháp luật.
2.9. Đầu mối cấp lần đầu, cấp điều chỉnh danh mục chuyên môn kỹ thuật, phạm vi hoạt động chuyên môn và tạm xếp cấp chuyên môn kỹ thuật lần đầu đối với bệnh viện tư nhân, theo quy định của pháp luật.
2.10. Đầu mối thẩm định cấp mới, cấp lại, điều chỉnh, đình chỉ, thu hồi giấy phép hoạt động đối với ngân hàng mô tư nhân
2.11. Đầu mối thực hiện các hoạt động trong công tác hội nhập khu vực và quốc tế của Ủy ban điều phối dịch vụ y tế các nước ASEAN.
2.12. Tham gia hướng dẫn, tổ chức thực hiện, kiểm tra và thanh tra việc thực hiện luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các quy định chuyên môn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, các chương trình, dự án, đề án về các lĩnh vực phòng được phân công.
2.13. Tham gia xây dựng quy định và phối hợp thẩm định về tiêu chuẩn xếp cấp chuyên môn kỹ thuật; điều kiện, tiêu chuẩn, thành lập, sáp nhập, tổ chức lại, giải thể các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; tham gia xây dựng, chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện cơ chế, chính sách về bảo hiểm y tế, giá dịch vụ y tế, xã hội hóa dịch vụ y tế, hợp tác công tư và các chính sách khác trong khám bệnh, chữa bệnh.
2.14. Tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, hội nhập và hợp tác quốc tế.
2.15. Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo theo quy định.
2.16. Quản lý công chức, người lao động, tài sản, kinh phí được giao theo quy định của pháp luật và phân cấp của Cục trưởng.
2.17. Thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự phân công của Cục trưởng.
TẤT CẢ VÌ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI BỆNH

PHÒNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG VÀ CHUYỂN GIAO KỸ THUẬT
1. Vị trí và chức năng:
Phòng Quản lý chất lượng và Chuyển giao kỹ thuật là đơn vị chuyên môn của Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Cục trưởng thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước, tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật và chỉ đạo điều hành các hoạt động về lĩnh vực: quản lý chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh; công tác tổng hợp, quản lý thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; xếp cấp chuyên môn kỹ thuật đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; xây dựng và phát triển mạng lưới bệnh viện vệ tinh, khám, chữa bệnh từ xa; tổ chức thực hiện hoạt động chuyển giao kỹ thuật, công nghệ, chỉ đạo chuyên môn về lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh; hướng dẫn khám bệnh, chữa bệnh y học gia đình, an toàn truyền máu (sau đây viết tắt là các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Phòng).
2. Nhiệm vụ và quyền hạn:
2.1. Chủ trì, phối hợp xây dựng, sửa đổi, bổ sung, chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, các tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, danh mục kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật của các dịch vụ chuyên môn kỹ thuật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án, ban hành văn bản hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Phòng theo phân cấp của Lãnh đạo Cục.
2.2. Công tác quản lý chất lượng
a) Đầu mối xây dựng các tiêu chuẩn, tiêu chí chất lượng, thừa nhận tiêu chuẩn quản lý chất lượng đối với các loại hình cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
b) Đầu mối xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng điều trị, hướng dẫn nâng cao chất lượng điều trị cho một số bệnh phổ biến và tiến hành kiểm định lâm sàng.
c) Đầu mối hoặc phối hợp xây dựng các tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Phòng.
d) Đầu mối xây dựng hệ thống các chỉ số chất lượng, thông tin, báo cáo về quản lý chất lượng khám bệnh, chữa bệnh, phục vụ cho công việc đo lường, kiểm định, cải tiến chất lượng liên tục.
e) Đầu mối xây dựng hướng dẫn triển khai các giải pháp nhằm bảo đảm an toàn người bệnh và phòng ngừa sự cố y khoa, sự cố ngoài y khoa trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
f) Đầu mối tổ chức, hướng dẫn kiểm tra, đánh giá, công nhận chất lượng bệnh viện; kiểm tra việc tuân thủ các quy định về chứng nhận chất lượng bệnh viện của các tổ chức.
g) Đầu mối hướng dẫn kiểm tra, đánh giá chất lượng cận lâm sàng, xét nghiệm y học thuộc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và công tác kiểm chuẩn chất lượng cận lâm sàng.
h) Đầu mối hướng dẫn khảo sát sự hài lòng người bệnh và nhân viên y tế, quản lý, tiếp nhận và xử lý phản hồi của người bệnh, nhân viên y tế, người dân về dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh và các lĩnh vực trong phạm vi thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Phòng.
i) Đầu mối tổ chức thực hiện việc đào tạo liên tục, cập nhật kiến thức y khoa cho người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, chuyên môn nghiệp vụ về quản lý chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, quản lý chất lượng cận lâm sàng, xét nghiệm và quản lý các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước khác của Cục.
2.5. Công tác chỉ đạo chuyên môn và chuyển giao kỹ thuật
a) Đầu mối công tác xếp cấp chuyên môn kỹ thuật cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, giám sát việc thực hiện các giải pháp chuyên môn giảm quá tải bệnh viện; xây dựng và phát triển mạng lưới bệnh viện vệ tinh, khám, chữa bệnh từ xa và mạng lưới chỉ đạo chuyên môn; tổ chức thực hiện hoạt động chuyển giao kỹ thuật công nghệ, chỉ đạo chuyên môn cấp dưới về lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh.
b) Đầu mối xây dựng, chỉ đạo hướng dẫn việc phát triển y học gia đình, phòng khám bác sỹ gia đình.
2.6. Công tác tổng hợp:
a) Tổng hợp báo cáo kết quả hoạt động hằng tháng, quý, năm của các đơn vị thuộc lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh trên cả nước; Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo theo quy định;
b) Tổng hợp tình hình hoạt động của địa phương phục vụ công tác chỉ đạo của Lãnh đạo Cục, Lãnh đạo Bộ;
c) Đầu mối tổng hợp trả lời ý kiến chất vấn đại biểu quốc hội, phương tiện thông tin đại chúng (đài, báo...);
d) Đầu mối tổng hợp công tác thi đua, khen thưởng của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
đ) Đầu mối thực hiện công tác cải cách hành chính trong lĩnh vực khám, chữa bệnh;
e) Tổng hợp, báo cáo kết quả kiểm tra, đánh giá bệnh viện hàng năm.
2.7. Công tác quản lý thông tin:
a) Đầu mối xây dựng các chế độ ghi chép, biểu mẫu báo cáo thống kê chuyên ngành khám bệnh, chữa bệnh, mã hóa lâm sàng và cận lâm sàng để triển khai bệnh án điện tử, phân nhóm bệnh tật, mã cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trình cấp có thẩm quyền ban hành; hướng dẫn, tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt;
b) Chủ trì xây dựng nội dung chuyên môn và tham gia quản lý hệ thống thông tin phục vụ công tác quản lý hoạt động khám bệnh, chữa bệnh;
c) Hướng dẫn việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
d) Kiểm tra, giám sát việc thực hiện công tác thống kê theo hệ thống chỉ tiêu được ban hành;
e) Hướng dẫn nghiệp vụ và tổ chức thực hiện công tác thống kê chuyên ngành khám, chữa bệnh.
2.8. Đầu mối xây dựng, triển khai, đánh giá định kỳ việc thực hiện kế hoạch của hệ thống khám chữa bệnh trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Cục.
2.9. Đầu mối tổ chức kiểm tra, giám sát, đánh giá hoạt động khám chữa bệnh của các bệnh viện hàng năm.
2.10. Đầu mối công tác vận động hiến máu nhân đạo, huyết học và truyền máu.
2.11. Đầu mối tham gia hoạt động liên quan đến ứng phó với biến đổi khí hậu; an ninh, an toàn bệnh viện.
2.12. Đầu mối chỉ đạo và giám sát việc thực hiện công tác giảm quá tải bệnh viện trong phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Cục Quản lý Khám, chữa bệnh.
2.13. Đầu mối hoạt động nghiên cứu khoa học, hội nhập quốc tế và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khám, chữa bệnh.
2.14. Quản lý công chức, người lao động, tài sản, kinh phí được giao theo quy định của pháp luật và phân cấp của Cục trưởng.
2.15. Thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự phân công của Cục trưởng.
Quá trình thành lập và phát triển
Trung tâm phát triển năng lực quản lý khám, chữa bệnh – Tên giao dịch bằng tiếng Anh: Medical Service Management Capacity Building Center (viết tắt là: MMBC), được thành lập theo quyết định số 68/2010/QĐ-BYT ngày 12/10/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế. Trung tâm trực thuộc Cục Quản lý khám, chữa bệnh, là đơn vị thực hiện chức năng đào tạo, nghiên cứu áp dụng và tư vấn chuyển giao các mô hình và công nghệ hỗ trợ công tác quản lý Nhà nước về khám, chữa bệnh và quản lý bệnh viện.
Trung tâm có 4 nhiệm vụ chính sau:
1. Đào tạo các nội dung liên quan đến nâng cao năng lực quản lý khám, chữa bệnh cho cán bộ Lãnh đạo làm công tác quản lý bệnh viện
2. Nghiên cứu đề xuất chính sách, quy định, quy trình quản lý nhằm nâng cao năng lực quản lý khám, chữa bệnh theo định hướng của Bộ Y tế.
3. Tư vấn
a) Tư vấn cho các bệnh viện áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng (TQM, CQI, ISO…)
b) Thực hiện các dịch vụ tư vấn triển khai, chuyển giao các mô hình và công nghệ quản lý, thành lập bệnh viện.
c) Thực hiện dịch vụ tư vấn khác về khám, chữa bệnh liên quan theo qui định của Pháp luật.
4. Hợp tác quốc tế: Hợp tác với các tổ chức và cá nhân ngoài nước trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, đào tạo, tư vấn, thẩm định, chuyển giao kỹ thuật và dịch vụ , trao đổi kinh nghiệm, trao đổi chuyên gia giảng dạy và nghiên cứu khoa học về quản lý khám, chữa bệnh; quản lý bệnh viện theo qui định của Bộ Y tế.
Cơ cấu tổ chức của Trung tâm gồm Ban Giám đốc là Lãnh đạo Cục kiêm nhiệm, Văn phòng Trung tâm, phòng Đào tạo – Tư vấn và phòng Nghiên cứu khoa học & Hợp tác quốc tế. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của PGS.TS. Lương Ngọc Khuê, Cục trưởng Cục Quản lý khám, chữa bệnh kiêm Giám đốc Trung tâm, Trung tâm đã nhanh chóng ổn định và phát triển.
Hoạt động
Ngay sau khi thành lập, Trung tâm đã thực hiện những nhiệm vụ như xác định nhu cầu và xây dựng kế hoạch đào tạo, nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý bệnh viện. Xây dựng và chuẩn hóa các chương trình, tài liệu đào tạo, đã hoàn thành các chương trình và tài liệu đào tạo sau:
– Quản lý bệnh viện (chương trình cơ bản)
– Giảng viên lâm sàng
– Quản lý Điều dưỡng
– Kiểm soát nhiễm khuẩn
Việc xây dựng chương trình, tài liệu được đội ngũ những nhà Lãnh đạo các Cục, vụ thuộc Bộ Y tế, các chuyên gia, các giám đốc bệnh viện soạn thảo và được Hội đồng khoa học của Bộ Y tế nghiệm thu và ban hành.
Tổ chức thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng các nội dung liên quan đến nâng cao năng lực quản lý khám, chữa bệnh cho các nhà quản lý bệnh viện. Trong 3 năm qua Trung tâm đã tổ chức 20 Khóa đào tạo Quản lý bệnh viện (chương trình cơ bản) cho hơn 1.000 học viên là lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo các khoa phòng tại các bệnh viện trực thuộc Bộ như: Bệnh viện Tai Mũi Họng TW, Bệnh viện 74, Bệnh viện Răng Hàm Mặt TW Hà Nội, Bệnh viện Y học Cổ truyền TW, Bệnh viện Châm cứu TW;Tại các Sở Y tế của 15 tỉnh/thành phố như: Hà Nội, Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hà Nam, Hưng Yên, Hà Nam, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Bắc Giang, Lạng Sơn, Hải Dương… Hàng năm Trung tâm tổ chức 01 khóa Đào tạo Quản lý bệnh viện (chương trình nâng cao) cho các Lãnh đạo bệnh viện tuyến Trung ương và tuyến tỉnh.
Giảng viên của các khóa đào tạo là Bộ trưởng, Thứ trưởng Bộ Y tế, Lãnh đạo các Vụ, Cục thuộc Bộ Y tế; Lãnh đạo các Bệnh viện có kinh nghiệm quản lý và các chuyên gia trong nước và nước ngoài có uy tín lĩnh vực quản lý y tế. Vì vậy, các học viên được cập nhật kịp thời các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, các văn bản quy phạm pháp luật, các tiêu chuẩn và các yêu cầu mới trong mọi hoạt động của bệnh viện. Sau khi hoàn thành khóa học, học viên đã áp dụng rất hiệu quả các nội dung đào tạo vào công tác quản lý khám chữa bệnh tại bệnh viện.
Trong các khóa học, học viên có dịp gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm và bài học từ các mô hình quản lý bệnh viện: mô hình bệnh viện tự chủ, mô hình bệnh viện kết hợp công tư, mô hình ứng dụng công nghệ thông tin và đào tạo chuyển giao kỹ thuật… Đặc biệt tại các khóa đào tạo nâng cao, Trung tâm mời chuyên gia đến từ các nước trong khu vực sang chia sẻ những bài học quý báu trong công tác quản lý giúp cho học viên được hội nhập với các nước và có tầm nhìn xa hơn.
Với lợi thế được tổ chức tại cơ sở, các khóa đào tạo đã tập hợp được toàn bộ cán bộ chủ chốt của các cơ sở y tế địa phương tham gia, chất lượng học tập luôn đạt kết quả cao. Các khóa học luôn được các đồng chí Lãnh đạo ngành y tế đánh giá rất tốt và cần được nhân rộng.
Với mô hình hoạt động là đơn vị sự nghiệp có thu, tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 của Chính phủ, Trung tâm đã chủ động tìm các đối tác, các nguồn tài trợ của tổ chức trong nước và ngoài nước để thực hiện nhiệm vụ đào tạo. Dự án Tăng cường chất lượng nguồn nhân lực trong hệ thống khám bệnh, chữa bệnh do tổ chức JICA của Chính phủ Nhật Bản tài trợ đã tạo điều kiện cho trung tâm có thêm nhiều trang thiết bị, cơ sở vật chất và kinh nghiệm đào tạo giúp trung tâm trưởng thành vượt bậc. Hiện tại trung tâm đã thực hiện hợp đồng đào tạo quản lý bệnh đối với các bệnh viện bằng ngân sách tự chủ của bệnh viện.