Phát triển hệ thống phục hồi chức năng đồng bộ, liên tục, lấy người bệnh làm trung tâm
Tại Hội nghị khoa học Phục hồi chức năng năm 2026 tổ chức từ ngày 16 đến 17/10 tại thành phố Đà Nẵng, TS.BS Nguyễn Trọng Khoa, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, Bộ Y tế, nhấn mạnh yêu cầu củng cố mạng lưới phục hồi chức năng trên toàn quốc, phát triển nguồn nhân lực đa chuyên ngành, nâng cao chất lượng chuyên môn và bảo đảm người bệnh được tiếp cận dịch vụ phục hồi chức năng kịp thời, liên tục, công bằng.
Phục hồi chức năng là dịch vụ y tế thiết yếu
Phát biểu tại Hội nghị, TS. Nguyễn Trọng Khoa khẳng định phục hồi chức năng là một bộ phận không thể thiếu của hệ thống y tế hoàn chỉnh. Không chỉ hỗ trợ người bệnh khôi phục khả năng vận động, giao tiếp và tự chăm sóc, phục hồi chức năng còn góp phần giúp người bệnh sống độc lập, học tập, lao động và hòa nhập cộng đồng.

Trong bối cảnh Việt Nam đang đối mặt với tình trạng già hóa dân số, gia tăng các bệnh không lây nhiễm, đột quỵ, chấn thương và nhu cầu chăm sóc dài hạn, việc phát triển hệ thống phục hồi chức năng ngày càng trở nên cấp thiết. Dịch vụ này cần được xác định là một phần thiết yếu trong quá trình chăm sóc sức khỏe, được cung cấp sớm, liên tục và phù hợp với nhu cầu của từng người bệnh.
Theo TS. Nguyễn Trọng Khoa, những năm qua, với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Bộ Y tế, công tác phục hồi chức năng tại Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong xây dựng mạng lưới, phát triển nhân lực, nâng cao năng lực chuyên môn và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ.
Một dấu mốc quan trọng là ngày 24/5/2023, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 569/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển hệ thống phục hồi chức năng giai đoạn 2023–2030, tầm nhìn đến năm 2050. Chương trình định hướng phát triển mạng lưới phục hồi chức năng đồng bộ, toàn diện, tăng cường kết nối giữa các tuyến y tế, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và cộng đồng; đồng thời chú trọng phát triển nhân lực, nâng cao chất lượng dịch vụ và đẩy mạnh hợp tác quốc tế.
Mạng lưới từng bước được củng cố, năng lực chuyên môn tiếp tục nâng cao
Theo số liệu được trình bày tại Hội nghị, cả nước hiện có 63 bệnh viện, trung tâm phục hồi chức năng. Tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, hoạt động phục hồi chức năng từng bước được quan tâm, củng cố. Ở tuyến trung ương, 100% bệnh viện đa khoa và 75% bệnh viện chuyên khoa có khoa phục hồi chức năng; tại tuyến tỉnh, tỷ lệ này tương ứng là 90% và 40%. Ở tuyến huyện, 70% bệnh viện có khoa phục hồi chức năng riêng biệt hoặc khoa ghép; 95% trạm y tế có phân công cán bộ theo dõi công tác phục hồi chức năng và người khuyết tật. Bên cạnh đó, 230 cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng thương binh, bệnh binh và người có công với cách mạng có hoạt động phục hồi chức năng.
Về nhân lực, theo số liệu trên hệ thống quản lý người hành nghề của Bộ Y tế, năm 2026, cả nước có khoảng 2.200 bác sĩ chuyên khoa phục hồi chức năng và khoảng 4.700 kỹ thuật viên phục hồi chức năng.

Cùng với sự phát triển của mạng lưới, nhiều kỹ thuật phục hồi chức năng đã được nghiên cứu, ứng dụng trong các lĩnh vực thần kinh, cơ xương khớp, chấn thương chỉnh hình, nhi khoa, tim mạch, hô hấp, lão khoa và phục hồi sau phẫu thuật. Các phương pháp lượng giá chức năng, vật lý trị liệu, hoạt động trị liệu, ngôn ngữ trị liệu, sử dụng dụng cụ trợ giúp và công nghệ hỗ trợ ngày càng được quan tâm.
Hệ thống hướng dẫn chuyên môn cũng từng bước được hoàn thiện, với 124 hướng dẫn chẩn đoán và điều trị phục hồi chức năng cùng các quy trình kỹ thuật được Bộ Y tế ban hành. Hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế và chuyển giao kỹ thuật tiếp tục góp phần nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ y tế.
Tuy nhiên, trước nhu cầu phục hồi chức năng ngày càng tăng, TS. Nguyễn Trọng Khoa cho rằng hệ thống cần chuyển mạnh từ mô hình cung cấp dịch vụ còn phân tán sang mô hình chăm sóc liên tục, tích hợp, đa chuyên ngành, dựa trên nhu cầu và kết quả chức năng thực tế của người bệnh.
Tháo gỡ những điểm nghẽn, nâng cao chất lượng dịch vụ
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác phục hồi chức năng vẫn còn một số khó khăn mang tính hệ thống. Mạng lưới dịch vụ phát triển chưa đồng đều; năng lực tại y tế cơ sở và cộng đồng còn hạn chế; việc chuyển tiếp từ điều trị cấp tính sang phục hồi chức năng sau khi người bệnh xuất viện, tại nhà và tại cộng đồng chưa thực sự thông suốt.
Nguồn nhân lực còn thiếu và chưa cân đối giữa các lĩnh vực như vật lý trị liệu, hoạt động trị liệu, ngôn ngữ trị liệu, chỉnh hình và dụng cụ trợ giúp. Việc áp dụng hướng dẫn chuyên môn, công cụ lượng giá và tiêu chí đánh giá kết quả điều trị cũng chưa thống nhất. Bên cạnh đó, cơ chế tài chính, thanh toán bảo hiểm y tế, khả năng tiếp cận dụng cụ trợ giúp và việc ứng dụng chuyển đổi số vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện.
Trước thực tế này, TS. Nguyễn Trọng Khoa nhấn mạnh: “Chúng ta cần đo lường không chỉ số lượt điều trị mà cả mức cải thiện chức năng, khả năng tự lập và chất lượng cuộc sống của người bệnh.”
Định hướng này đặt ra yêu cầu các bệnh viện phục hồi chức năng không chỉ chú trọng số lượng dịch vụ cung cấp mà còn phải nâng cao hiệu quả điều trị, theo dõi sát tiến triển của người bệnh và đánh giá kết quả dựa trên khả năng phục hồi chức năng thực tế. Việc từng bước vận dụng khung Phân loại quốc tế về chức năng, khuyết tật và sức khỏe (ICF) của Tổ chức Y tế thế giới sẽ góp phần hỗ trợ chuẩn hóa đánh giá và quản lý chất lượng dịch vụ.
Bốn định hướng trọng tâm trong thời gian tới
Để đáp ứng yêu cầu phát triển chuyên ngành, TS. Nguyễn Trọng Khoa đề nghị tập trung thực hiện bốn định hướng trọng tâm:
Thứ nhất, triển khai thực chất Quyết định số 569/QĐ-TTg, củng cố mạng lưới phục hồi chức năng ở tất cả các tuyến, ưu tiên y tế cơ sở, chăm sóc tại nhà và phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế chuyển tuyến, chuyển tiếp và theo dõi liên tục, bảo đảm người bệnh được tiếp cận dịch vụ phù hợp trong suốt quá trình điều trị và phục hồi.
Thứ hai, phát triển nguồn nhân lực đa chuyên ngành, chuẩn hóa năng lực và thực hành chuyên môn; đẩy mạnh áp dụng các hướng dẫn dựa trên bằng chứng, nâng cao chất lượng lượng giá chức năng và quản lý chất lượng theo kết quả điều trị. Các bệnh viện cần chú trọng đào tạo liên tục, tăng cường phối hợp giữa các chuyên khoa và phát huy vai trò của từng nhóm nhân lực trong quá trình chăm sóc người bệnh.
Thứ ba, rà soát, kiến nghị tháo gỡ các bất cập về cơ chế tài chính, thanh toán bảo hiểm y tế, trang thiết bị và dụng cụ trợ giúp, qua đó tạo điều kiện để người khuyết tật, người cao tuổi, người mắc bệnh mạn tính và người dân ở vùng khó khăn được tiếp cận dịch vụ phục hồi chức năng công bằng hơn.
Thứ tư, thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng, phát triển dữ liệu số, phục hồi chức năng từ xa và công nghệ mới, trong đó có trí tuệ nhân tạo, trên nguyên tắc bảo đảm an toàn, hiệu quả, có bằng chứng và phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam.
Tại Hội nghị, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh cũng đề nghị Hội Phục hồi chức năng Việt Nam và các đại biểu tăng cường trao đổi thực chất về những khó khăn trong triển khai chuyên môn, cơ chế chi trả, mô hình dịch vụ và phát triển nhân lực. Các kiến nghị cần được tổng hợp cụ thể, làm cơ sở để Bộ Y tế xem xét theo thẩm quyền; đồng thời thúc đẩy hình thành các nhóm nghiên cứu, mạng lưới đào tạo và hoạt động chuyển giao kỹ thuật có sản phẩm, lộ trình và đơn vị chịu trách nhiệm rõ ràng.
Với sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, các bệnh viện, cơ sở đào tạo, tổ chức nghề nghiệp và đối tác quốc tế, hệ thống phục hồi chức năng Việt Nam được kỳ vọng tiếp tục phát triển theo hướng đồng bộ, hiện đại và bền vững. Mục tiêu xuyên suốt là nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng khả năng tiếp cận và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh.
Sự phát triển của chuyên ngành cũng là cách thiết thực để tiếp nối những đóng góp của cố PGS.TS. Trần Trọng Hải, Chủ tịch Hội Phục hồi chức năng Việt Nam, đối với công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển phục hồi chức năng tại Việt Nam.

Lê Hảo


