Bo-Tieu-chi-CLBV_Du-thao.Phan-A_B-xin-gop-y_16.09.27[4096131]

Bo-Tieu-chi-CLBV_Du-thao.Phan-A_B-xin-gop-y_16.09.27[4096131]

Bo-Tieu-chi-CLBV_Du-thao.Phan-A_B-xin-gop-y_16.09.27[4096131]

3 comments

  • SỞ Y TẾ PHÚ YÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    BVĐK H. ĐÔNG HÒA Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
    Số : / BC-BVĐK Đông Hòa, ngày 10 tháng 10 năm 2016

    GÓP Ý
    Dự thảo Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện năm 2016

    I. ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG BỆNH VIỆN
    1. Phần A: Hướng đến người bệnh (chỉ dẫn, đón tiếp, hướng dẫn cấp cứu người bệnh; điều kiện cơ sở vật chất phục vụ người bệnh; môi trương chăm sóc người bệnh: quyền và lợi ích của người bệnh)
    Kết quả đạt được : Bệnh viện đã có hệ thống chỉ dẫn, đón tiếp, hướng dẫn người bệnh đến khám bệnh và cấp cứu với hệ thống bảng hiệu bệnh viện, bảng hiệu khoa, phòng, sơ đồ chỉ dẫn và nhân viên tiếp đón ở các khoa;
    Người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện được giải thích về tình trạng bệnh tật và hướng điều trị; những vấn đề riêng tư của người bệnh được tôn trọng; nộp viện phí thuận tiện, công khai, minh bạch; các ý kiến góp ý của người bệnh và thân nhân người bệnh được bệnh viện tiếp nhận, phản hồi, giải quyết kịp thời. Tình trạng ý kiến phản ánh, phiền hà về tinh thần thái độ không tốt ngày càng giảm; hàng quí, năm bệnh viện tiến hành thực hiện khảo sát, đánh giá sự hài lòng và triển khai các biện pháp làm tăng sự hài lòng của người bệnh.
    Tồn tại, hạn chế : tuy nhiên hệ thống bảng biểu hướng dẫn chưa hoàn chỉnh, chưa đồng bộ, vẫn còn tình trạng bệnh nhân và thân nhân còn lúng túng khi vào bệnh viện, vào các khoa; có lúc, có nơi bệnh nhân chưa được hướng dẫn làm các thủ tục chu đáo; phòng chờ khám bệnh còn chật chội thiếu tiện nghi; cấp cứu người bệnh còn thiếu nhiều phương tiện, phòng ốc chật chội. Việc giải thích về tình trạng sức khỏe, phương pháp điều trị, giá cả thuốc, vật tư y tế tiêu hao và một số thông tin cho bệnh nhân tham gia vào quá trình điều trị chưa thực hiện đầy đủ; giường của người bệnh chưa có rèm che chắn, người bệnh chưa có khu vực cách ly tương đối yên tĩnh; chưa có website để đăng thông tin giá dịch vụ y tế, giá thuốc, vật tư, bệnh viện chưa thanh toán viện phí bằng thẻ tín dụng; giải quyết thắc mắc, khiếu nại chưa phân tích được các nhóm vấn đề, chưa phân tích được các nguyên nhân gây phiền hà, thắc mắc của người bệnh; bộ công cụ đánh giá sự hài lòng của người bệnh chưa xây dựng đồng bộ toàn bệnh viện và tính khách quan, độ tin cậy chưa cao, chưa phân tích sự hài lòng của người bệnh theo các khoa.
    2. Phần B: Phát triền nguồn nhân lực bệnh viện ( số lượng và cơ cấu nhân lực bệnh viện; chất lượng nguồn nhân lực; chế độ đãi ngộ và điều kiện môi trường làm việc; lãnh đạo bệnh viện)
    Kết quả đạt được : Nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất của bệnh viện nên bệnh viện luôn chú ý phát triển nguồn nhân lực bệnh viện; trong quy hoạch dài hạn cũng như kế hoạch hàng năm đều đề cập đầy đủ các nội dung liên quan đến tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, có chính sách thu hút, ưu đãi cán bộ y tế cần thiết cho bệnh viện; duy trì khá ổn định nguồn nhân lực; đã xem xét cơ cấu chức danh nghề nghiệp cần thiết cho hoạt động bệnh viện. Bệnh viện quan tâm đào tạo và phát triển kỹ năng nghề nghiệp cho cán bộ, viên chức bệnh viện theo kế hoạch đào tạo, đào tạo lại hàng năm; xây dựng và triển khai kế hoạch nâng cao kỹ năng giao tiếp, ứng xử, y đức cho nhân viên y tế; bệnh viện có chính sách hỗ trợ cho nhân viên được cử đi đào tạo, bố trí phù hợp sau đào tạo, tạo thu nhập ổn định để thu hút, duy trì nguồn nhân lực y tế có chất lượng.
    Tồn tại, hạn chế : Bệnh viện chưa đạt được mục tiêu, chỉ số theo kế hoạch, số lượng nguồn nhân lực chưa phù hợp, còn thiếu bác sĩ; chưa thực hiện làm việc theo ca, kíp ở các khoa cần thiết như Hồi sức Cấp cứu, khoa Ngoại-Sản, còn nhân viên thường trực 24/24. Tỷ lệ bác sĩ được đào tạo sau đại học chưa đạt tỷ lệ đặt ra, chưa tổ chức hội thi tay nghề giỏi cho bác sĩ, điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên, dược sĩ…các hình thức đào tạo truyền đạt kinh nghiệm, tự đào tạo còn hạn chế. Tiến hành đánh giá việc triển khai nâng cao thái độ ứng xử của nhân viên bệnh viện chưa thiết thực và hiệu quả, vẫn còn ý kiến phản ánh về tinh thần, thái độ phục vụ chưa tốt. Cơ chế, chính sách thu hút nguồn nhân lực y tế có chất lượng chưa phát huy hiệu quả, mức thu nhập tăng thêm chưa cao; điều kiện cơ sở vật chất, điều kiện làm việc, bảo hộ lao động chưa thật sự hoàn thiện; chưa tổ chức nghỉ dưỡng tham quan cho tập thể hàng năm, hoạt động văn nghệ thể dục thể thao chưa thường xuyên, hồ sơ quản lý sức khỏe chưa được quản lý bằng công nghệ thông tin.
    3. Phần C: Hoạt động chuyên môn ( An ninh trật tự và an toàn cháy nổ; quản lý hồ sơ bệnh án; ứng dụng công nghệ thông tin; phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn; chất lượng lâm sàng; hoạt động điều dưỡng và chăm sóc người bệnh; dinh dưỡng và tiết chế; chất lượng xét nghiệm; quản lý cung ứng và sử dụng thuốc; nghiên cứu khoa học)
    3.1 Kết quả đạt được:
    3.1.1 Bảo đảm an ninh trật tự bệnh viện: Bệnh viện có lực lượng bảo vệ nhưng chưa chuyên nghiệp, khuôn viên bệnh viện có tường rào bao quanh, có quy định hạn chế người nhà người bệnh vào khu vực chuyên môn trong các giờ quy định; có quy định phối hợp với cơ quan an ninh địa phương, có các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện trộm cắp, cướp giật trong khu vực bệnh viện. Bảo đảm an toàn điện và phòng chống cháy nổ với phân công nhân viên phụ trách an toàn điện và phòng chống cháy nổ; có phương án phòng chống cháy nổ, có hệ thống chữa cháy, cửa thoát hiểm, họng nước cứu hỏa.
    3.1.2. Quản lý hồ sơ bệnh án: Hồ sơ bệnh án được quản lý khá tốt; các thông tin về chăm sóc và điều trị người bệnh được ghi vào hồ sơ, thông tin đầy đủ theo quy định, không sữa chữa, tẩy xóa, hồ sơ bệnh án được kiểm tra, đánh giá thường quy; các thông tin mã bệnh được mã hóa chính xác theo ICD. Bệnh án được lưu trữ tập trung, có giá sắp xếp theo trật tự thống nhất dễ tìm kiếm.
    3.1.3. Ứng dụng công nghệ thông tin: Quản lý khá tốt cơ sở dữ liệu và thông tin y tế. Có hệ thống danh mục thống nhất toàn bệnh viện về giá dịch vụ kỹ thuật cho tất cả đối tượng người bệnh, áp dụng phần mềm báo cáo thống kê bệnh viện kết xuất số liệu tự động từ các phần mềm khác ( Mới lắp đặt ); áp dụng hệ thống mã hóa lâm sàng theo quy định của Bộ Y tế. Thực hiện các giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và hoạt động chuyên môn; bệnh viện có tổ công nghệ thông tin, xây dựng hệ thống máy tính nối mạng nội bộ và ứng dụng phần mềm quản lý chuyên môn trên mạng đến tất cả các khoa, phòng.
    3.1.4. Phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn: Đã thành lập hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn, tổ kiểm soát nhiễm khuẩn và mạng lưới nhiễm khuẩn bệnh viện; xây dựng quy chế hoat động của hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn, có nhân viên chuyên trách cho công tác nhiễm khuẩn; hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn hoạt động thường xuyên theo kế hoạch. Các nhân viên của tổ kiểm soát nhiễm khuẩn được tham gia các lớp đào tạo về kiểm soát nhiễm khuẩn; các thành viên của mạng lưới được tham gia huấn luyện cập nhật chuyên môn về kiểm soát nhiễm khuẩn; xây dựng và ban hành các hướng dẫn về phòng ngừa chuẩn; có quy trình xử lý các trường hợp rủi ro, phơi nhiễm với các bệnh nguy hiểm hoặc nguy cơ nhiễm khuẩn cao; có hệ thống khử khuẩn tập trung. Đã triển khai thực hiện chương trình rửa tay; có các bản hướng dẫn rửa tay tại các bồn rửa tay. Có phân công nhân viên kiểm soát nhiễm khuẩn; xây dựng kế hoạch giám sát nhiễm khuẩn trong phạm vi bệnh viện. Thực hiện phân loại chất thải y tế; có trang bị túi, thùng để thu gom chất thải y tế; thực hiện xử lý chất thải rắn y tế theo quy định. Có hệ thống xử lý chất thải lỏng và hoạt động thường xuyên; các chỉ tiêu đầu ra của nước thải đạt quy chuẩn quan trắc về môi trường.
    3.1.5. Năng lực thực hiện kỹ thuật chuyên môn: Bảo đảm xác định chính xác người bệnh khi cung cấp dịch vụ, thực hiện các hình thức thủ công như ghi tên, tuổi, địa chỉ, ghi sổ, phát sổ cho người bệnh và các mẫu bệnh phẩm, thuốc, vật tư… có liên quan đến người bệnh để tránh nhầm lẫn khi cung cấp dịch vụ. Bệnh viện có chủ trương phát triển, thực hiện các kỹ thuật theo đúng phân tuyến và công bố công khai cho nhân viên y tế, người bệnh và người dân. Bệnh viện xây dựng kế hoạch triển khai kỹ thuật mới của bệnh viện hàng năm, trong đó áp dụng một số kỹ thuật mới, hiện đại. Bệnh viện phê duyệt và áp dụng đúng như hướng dẫn quy trình kỹ thuật của Bộ Y tế và sử dụng thống nhất trong toàn bệnh viện. Bệnh viện có các hướng dẫn điều trị của Bộ Y tế có sẵn tại các khoa, phòng. Ban hành các quy định về việc áp dụng các phác đồ điều trị và theo dõi việc tuân thủ phổ biến đến tất cả nhân viên y tế.
    3.1.6. Hoạt động điều dưỡng và chăm sóc người bệnh: Đã thiết lập đầy đủ hệ thống tổ chức điều dưỡng trong bệnh viện gồm phòng diều dưỡng, hội đồng điều dưỡng và đầy đủ các điều dưỡng trưởng khoa. Có tài liệu cập nhật nội dung về nội dung hướng dẫn, tư vấn điều trị và chăm sóc, giáo dục sức khỏe; các quy định có sẵn tại khoa, phòng; nhân viên y tế thực hiện đầy đủ các quy định. Bệnh viện có quy định cụ thể về chăm sóc thể chất và vệ sinh cá nhân cho người bệnh; Nhân viên y tế hướng dẫn người nhà cách chăm sóc người bệnh. Việc chăm sóc người bệnh cấp I chủ yếu do điều dưỡng thực hiên. Hệ thống lan can và chấn song cửa sổ được thiết kế để người bệnh không bị té ngã do vô ý; các vị trí có nguy cơ trượt, vấp ngã được ưu tiên xử lý.
    3.1.7. Năng lực thực hiện chăm sóc dinh dưỡng và tiết chế: Nhân viên y tế có tư vấn chế độ ăn phù hợp cho người bệnh nhưng chưa hướng dẫn, hỗ trợ, kiểm tra, giám sát chế độ dinh dưỡng tại các khoa điều trị.
    3.1.8. Chất lượng xét nghiệm: Phòng xét nghiệm được xây dựng độc lập, có đầy đủ nhân sự và trang thiết bị bảo đảm thực hiện các hoạt động xét nghiệm huyết học, hóa sinh, vi sinh; đã thiết lập hệ thống quản lý chất lượng xét nghiệm.
    3.1.9. Quản lý cung ứng và sử dụng thuốc: Khoa dược đã được thành lập và phụ trách khoa có trình độ đại học; khoa có các hoạt động thông tin, cấp phát thuốc, kho bảo quản, quản lý xuất nhập, tồn thuốc; khoa có quy trình cấp phát thuốc trong bệnh viện từ khoa dược đến người bệnh; có xây dựng và quản lý danh mục thuốc cấp cứu; báo cáo thường xuyên các số liệu về sử dụng thuốc. Thực hiện tốt quy chế kê đơn có xây dựng các quy trình chuyên môn liên quan đến sử dụng thuốc; có hướng dẫn sử dụng thuốc cho điều dưỡng, cán bộ y tế bệnh viện. Có thực hiện việc thông tin thuốc, giám sát ADR. Hội đồng thuốc và điều trị được thiết lập và có các hoạt động như xây dựng danh mục thuốc, xây dựng hướng dẫn điều trị, phân tích vấn đề sử dụng thuốc trong các buổi giao ban, tổ chức tập huấn, đào tạo về sử dụng thuốc cho nhân viên y tế.
    3.1.10. Nghiên cứu khoa học: Bệnh viện đã tích cực triển khai hoạt động nghiên cứu khoa học. Có đầy đủ các phương tiện và hoạt động được phục vụ trình chiếu, báo cáo khoa học; có tiến hành sinh hoạt khoa học định kỳ; tiến hành thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học và báo cáo kết quả nghiên cứu. Có kế hoạch triển khai áp dụng các kết quả nghiên cứu của bệnh viện để cải tiến hoạt động bệnh viện.
    3.2. Tồn tại hạn chế:
    3.2.1. Bảo đảm an ninh trật tự bệnh viện: Bệnh viện chưa có hệ thống camera an ninh tự động theo dõi toàn bệnh viện; tình trạng mất trộm thỉnh thoảng vẫn xảy ra đối với tài sản bệnh viện và bệnh nhân nằm viện. Chưa trang bị đầy đủ hệ thống cầu dao tự ngắt cho toàn bộ các máy móc thiết bị y tế, hệ thống báo cháy tự động chưa có ở tất cả các khoa, phòng; chưa tham gia bảo hiểm cháy nổ.
    3.2.2. Quản lý hồ sơ bệnh án: Bệnh viện chưa thực hiện bệnh án điện tử, chưa cập nhật bệnh án qua mạng nội bộ; bệnh nhân chưa được mã hóa, các thông tin chưa được lưu trữ toàn bộ trên hệ thống máy tính.
    3.2.3. Ứng dụng công nghệ thông tin: Các chỉ số thông tin bệnh viện chưa được đánh giá, kết xuất trực tiếp từ phần mềm một cách chi tiết theo cơ cấu tài chính, thuốc , vật tư theo ngày, tuần, tháng, quý. Chưa có công cụ tự động phân tích đưa ra thống kê, dự báo. Chưa áp dụng bệnh án nội trú, ngoại trú điện tử; chưa đồng bộ hóa toàn bộ dữ liệu của các khoa, phòng và máy móc, trang thiết bị y tế; chưa có phần mềm dịch vụ khám chữa bệnh từ xa.
    3.2.4. Phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn: Tổ kiểm soát nhiễm khuẩn chưa đầy đủ nhân lực; việc theo dõi, giám sát việc thực hiện các quy trình và hướng dẫn phòng ngừa nhiễm khuẩn trong bệnh viện chưa thường xuyên; chưa cung cấp đầy đủ dung dịch sát khuẩn theo quy chuẩn; chưa xây dựng bộ công cụ đánh giá sự tuân thủ, khảo sát việc rửa tay của nhân viên y tế. Chưa tiến hành nghiên cứu về kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện; chưa tính được tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện. Nhà lưu trữ rác chưa đạt chuẩn quy định. Chất thải lỏng sau khi xử lý chưa thể tái sử dụng.
    3.2.5. Năng lực thực hiện kỹ thuật chuyên môn: Người bệnh chưa được cấp mã số/mã vạch để bảo đảm không nhầm lẫn; tỷ lệ triển khai kỹ thuật theo phân tuyến còn thấp dưới 60%; chưa tiến hành xây dựng quy trình kỹ thuật sử dụng tại bệnh viện dựa trên hướng dẫn của Bộ Y tế. Phác đồ điều trị chưa được cập nhật theo mô hình bệnh tật của bệnh viện. Chưa tiến hành giám sát tuân thủ toàn bộ các hướng dẫn điều trị của bệnh viện.
    3.2.6. Hoạt động điều dưỡng và chăm sóc người bệnh: Bệnh viện chưa có biển báo, hướng dẫn người bệnh cách gọi nhân viên y tế trong trường hợp khẩn cấp tại những vị trí dễ quan sát; chưa thực hiện việc tư vấn, giáo dục sức khỏe phù hợp với bệnh lý khi vào viện, trong quá trình điều trị và khi ra viện; chưa thực hiện các chăm sóc như cho ăn uống, vận động, phục hồi chức năng do điều dưỡng/hộ lý thực hiện cho người bệnh có nhu cấu; người bệnh chăm sóc cấp I chưa được điều dưỡng chăm sóc toàn bộ; chưa dán các vật liệu tăng ma sát ở các vị trí có nguy cơ trượt ngã; chưa có đầy đủ giường bệnh an toàn. Chưa có hệ thống ôxy trung tâm; chưa có hệ thống camera để theo dõi người bệnh từ xa.
    3.2.7. Năng lực thực hiện chăm sóc dinh dưỡng và tiết chế: Chưa thành lập khoa dinh dưỡng theo quy định. Việc cung cấp suất ăn bệnh lý chưa đầy đủ.
    3.2.8. Chất lượng xét nghiệm: Khoa xét nghiệm chưa thực hiện được giải phẫu bệnh; chưa có cán bộ xét nghiệm trình độ sau đại học; chưa có hoạt động thống kê, phân tích và tính độ lệch chuẩn về chất lượng các xét nghiệm.
    3.2.9. Quản lý cung ứng và sử dụng thuốc: Phụ trách khoa dược chưa có trình độ sau đại học, chưa có cán bộ chuyên trách làm công tác dược lâm sàng và thông tin thuốc; chưa kiểm soát hoàn toàn lượng thuốc thông qua hệ thống phần mềm quản lý của bệnh viện, chưa có phòng pha chế thuốc; chưa theo dõi được nồng độ thuốc trong máu, chưa có phần mềm theo dõi và quản lý lịch sử dùng thuốc của người bệnh. Bệnh viện chưa có hệ thống lưu trữ thông tin thuốc, chưa xây dựng đầy đủ các văn bản quy định về quản lý và sử dụng thuốc trong bệnh viện.
    3.2.10. Nghiên cứu khoa học: Các đề tài nghiên cứu chưa được đăng trên các tạp chí khoa học trong và ngoài tỉnh; chất lượng triển khai, ứng dụng kết quả các đề tài nghiên cứu chưa cao.
    4. Phần D: Cải tiền chất lượng ( Thiết lập hệ thống và xây dựng, triển khai kế hoạch cải tiến chất lượng; phòng ngừa các sai sót, sự cố và khắc phục; đánh giá, đo lường, hợp tác và cải tiến chất lượng)
    Kết quả đạt được:
    4.1. Thiết lập hệ thống quản lý chất lượng bệnh viện: Đã thành lập hội đồng, tổ và mạng lưới quản lý chất lượng bệnh viện. Đã xây dựng quy chế hoạt động của hội đồng chất lượng; tổ chất lượng bệnh viện có đầy đủ thành viên theo cơ cấu; xây dựng và ban hành các văn bản về quản lý chất lượng trong bệnh viện; xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng chung cho toàn bệnh viện đầy đủ và cụ thể; xây dựng đề án nâng cao chất lượng bệnh viện; đang triển khai lập website của bệnh viện, xây dựng các phong trào nâng cao chất lượng.
    4.2. Phòng ngừa các sai sót, sự cố và khắc phục: Đã thực hiện báo cáo sai sót, sự cố xảy ra theo quy định. Có các bảng kiểm trong phòng mổ và phòng làm thủ thuật; có quy định kiểm tra lại thuốc trước khi sử dụng cho người bệnh; kiểm tra các quy trình kỹ thuật, không để xảy ra sự cố, sai sót nghiêm trọng ảnh hưởng đến người bệnh.
    4.3. Đánh giá, đo lường, hợp tác và cải tiến chất lượng: Đã tiến hành tự đánh giá chất lượng bệnh viện theo tiêu chí của Bộ Y tế; công bố và phổ biến kết quả đánh giá chất lượng bệnh viện cho tất cả các khoa, phòng; báo cáo kết quả có phân tích rõ mặt mạnh, mặt yếu. Có kế hoạch cải tiến chất lượng, trong bản kế hoạch có xây dựng 5 chỉ số chất lượng cụ thể. Tiến hành đo lường và giám sát kế hoạch chất lượng dựa trên bản kế hoạch. Gửi đầy đủ số lượng các báo cáo liên quan đến hoạt động quản lý chất lượng theo yêu cầu của cấp trên, đầy đủ thông tin, trung thực, chính xác.
    Tồn tại, hạn chế: Nhân viên của tổ quản lý chất lượng còn kiêm nhiệm chưa được đào tạo về quản lý chất lượng; chưa lượng giá các kết quả đầu ra cụ thể.
    Việc quản lý sai sót, sự cố chưa theo hệ thống riêng; chưa có trường hợp tự báo cáo sai sót. Chưa có báo cáo đánh giá về sai sót, sự cố và phân tích xu hướng, nguyên nhân và đề xuất giải pháp hạn chế sai sót, sự cố.
    5. Phần E: Tiêu chí đặc thù chuyên khoa ( tiêu chí sản khoa, nhi khoa)
    Kết quả đạt được:
    Tiêu chí sản khoa, nhi khoa: Đã thành lập khoa sản, có bác sĩ chuyên khoa sản cấp I, có đơn nguyên hồi sức và cấp cứu sơ sinh; có khoa nhi và bác sĩ chuyên khoa nhi. Thực hiện tư vấn về sức khỏe sinh sản và chăm sóc trước sinh, sau sinh cho phụ nữ mang thai; truyền thông về chăm sóc sức khỏe sinh sản. Quy định về việc nuôi con bằng sữa mẹ; tuyên truyền, hướng dẫn các bà mẹ không sử dụng bình bú, sữa thay thế sữa mẹ; tuyên truyền tư vấn về nuôi con bằng sữa mẹ; cho mẹ nằm cùng trẻ sau sinh.
    Tồn tại, hạn chế: Tuy nhiên chưa có khoa sơ sinh riêng biệt; chưa có bác sĩ chuyên khoa II; chưa làm tờ rơi miễn phí tuyên truyền về chăm sóc sức khỏe sinh sản; chưa tổ chức lớp học tiền sản, hậu sản; chưa thành lập được phòng tư vấn về sức khỏe sinh sản.
    6. Đánh giá chung về việc thực hiên các quy định của Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện:
    Nâng cao chất lượng bệnh viện là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của toàn thể các khoa, phòng và toàn thể cán bộ viện chức bệnh viện; trong đó Đảng ủy và Ban Giám đốc bệnh viện đóng vai trò lãnh đạo, điều hành; Công đoàn cơ sở, Hội Cựu chiến binh và Đoàn Thanh niên CSHCM đóng vai trò nòng cốt trong việc vận động cán bộ viên chức tham gia. Các khoa, phòng, đơn vị trực tiếp tổ chức thực hiện.
    Tiến hành các hoạt động cải tiến và nâng cao chất lượng nhằm cung ứng dịch vụ y tế an toàn, chất lượng, hiệu quả và mang lại sự hài lòng cao nhất có thể cho người bệnh, người dân và nhân viên bệnh viện, phù hợp với khả năng, điều kiện của bệnh viện.
    Cải tiến các bảng biểu chưa hoàn chỉnh, cải tiến quy trình khám và điều trị bệnh, hướng dẫn làm các thủ tục chu đáo, ngày càng thuận tiện và rút ngắn thời gian chờ đợi bằng các biện pháp giảm bớt các thủ tục, tăng thêm bàn khám bệnh, tăng cường điều trị ngoại trú các bệnh mãn tính, sắp xếp phòng khám BHYT riêng; phòng chờ khám bệnh được trang bị thêm tiện nghi; tăng cường phương tiện cấp cứu người bệnh.
    Giảm tình trạng bệnh nhân nằm giường tạm, giường ghép tiến tới tất cả giường bệnh trang bị đầy đủ, đồng nhất; thực hiện các biện pháp giảm quá tải bệnh nội trú và khám ngoại trú bằng cách sắp xếp kê thêm giường bệnh, rút ngắn thời gian điều trị nội trú, bác sĩ các khoa lâm sàng tăng cường khoa khám bệnh vào các ngày cao điểm. Các buồng vệ sinh đầy đủ bồn rửa tay, xà phòng, dung dịch rửa tay; đủ tủ đầu giường cho từng bệnh nhân, đủ ghế ngồi cho người chăm sóc bệnh; Xây dựng khuôn viên bệnh viện thật sự mỹ quan, có vườn hoa, đài phun nước; Thực hiện việc giải thích về tình trạng sức khỏe, phương pháp điều trị, giá cả thuốc, vật tư y tế tiêu hao và một số thông tin cho bệnh nhân tham gia vào quá trình điều trị; giải quyết thắc mắc, khiếu nại có phân tích được các nhóm vấn đề, phân tích được các nguyên nhân gây phiền hà, thắc mắc của người bệnh.
    Tăng cường tuyển dụng, đào tạo để đạt được mục tiêu, chỉ số nhân sự theo kế hoạch, số lượng nguồn nhân lực phù hợp, đủ bác sĩ.
    Tăng cường đào tạo bác sĩ sau đại học để đạt tỷ lệ đặt ra, tổ chức hội thi tay nghề giỏi cho điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên, tổ chức các hình thức đào tạo truyền đạt kinh nghiệm, tự đào tạo.
    Tiến hành đánh giá việc triển khai nâng cao thái độ ứng xử của nhân viên bệnh viện thiết thực và hiệu quả; giảm bớt ý kiến phản ánh về tinh thần, thái độ phục vụ chưa tốt.
    Có cơ chế , chính sách thu hút nguồn nhân lực y tế có chất lượng, phát huy hiệu quả.Tăng mức thu nhập tăng thêm qua từng năm; điều kiện cơ sở vật chất, điều kiện làm việc, bảo hộ lao động ngày càng hoàn thiện; phấn đấu tổ chức nghỉ dưỡng tham quan cho tập thể hàng năm, hoạt động văn nghệ thể thao thường xuyên, hồ sơ quản lý sức khỏe được quản lý bằng công nghệ thông tin; tổ chức khảo sát, đánh giá nhân viên về môi trường làm việc.
    Quy hoạch dài hạn của bệnh viện được phê duyệt và công khai, mở rộng thêm quy mô giường bệnh bệnh viện; nâng cấp, thực hiện các kỹ thuật cao; triển khai, thực hiện tốt các văn bản của cấp trên; có quy định về đánh giá sơ kết, tổng kết việc thực hiện các văn bản; lãnh đạo bệnh viện, khoa, phòng giảm bớt kiêm nhiệm nhiều công việc; cán bộ quản lý có đủ năng lực về tin học , ngoại ngữ đáp ứng cho công việc.
    Bệnh viện trang bị hệ thống camera an ninh tự động theo dõi toàn bệnh viện; không để xảy ra tình trạng mất trộm đối với bệnh nhân nằm viện; trang bị đầy đủ hệ thống cầu dao tự ngắt cho toàn bộ các máy móc thiết bị y tế; hệ thống báo cháy đầy đủ tất cả các khoa, phòng.
    Thiết lập công cụ tự động phân tích đưa ra thống kê, dự báo để trợ giúp cho lãnh đạo quản lý hoạt động bệnh viện. Triển khai áp dụng bệnh án nội trú, ngoại trú điện tử; có phần mềm kết nối các máy y tế; đồng bộ hóa toàn bộ dữ liệu của các khoa, phòng và máy móc, trang thiết bị y tế.
    Thành lập tổ Kiểm soát nhiễm khuẩn có đầy đủ nhân lực; việc theo dõi, giám sát thực hiện các quy trình và hướng dẫn phòng ngừa nhiễm khuẩn trong bệnh viện tiến hành thường xuyên; cung cấp đầy đủ dung dịch sát khuẩn; xây dựng bộ công cụ đánh giá sự tuân thủ, khảo sát việc rửa tay của nhân viên y tế. Hệ thống xử lý chất thải y tế đạt chuẩn quy định. Chất thải nguy hại sau khi xử lý không ảnh hưởng đến tác động của môi trường.
    Tiến hành các biện pháp nhận dạng người bệnh tránh nhầm lẫn, tiến tới người bệnh được cấp mã số/mã vạch để bảo đảm không nhầm lẫn; bước đầu thực hiện các biện pháp chống nhầm lẫn sai sót như thực hiện 5 đúng, quy định các hình thức nhận dạng người bệnh khi thực hiện phẫu thuật, thủ thuật; báo cáo định kỳ sai sót chuyên môn các khoa, phòng theo quy định, các sai sót được phát hiện đều có giải pháp khắc phục không để tái diễn. Tỷ lệ triển khai kỹ thuật theo phân tuyến được Hội đồng KHKT bệnh viện thông qua, trình Sở Y tế phê duyệt, xem xét tăng dần hàng năm của tất cả các khoa và theo lộ trình nâng hạng bệnh viện, tiến hành xây dựng danh mục dịch vụ kỹ thuật sử dụng tại bệnh viện dựa trên hướng dẫn của Bộ Y tế. Phác đồ điều trị được cập nhật theo mô hình bệnh tật của bệnh viện. Tiến hành giám sát tuân thủ toàn bộ các hướng dẫn điều trị của bệnh viện.
    Điều dưỡng trưởng bệnh viện và các điều dưỡng trưởng khoa có trình độ đại học đạt cao; thực hiện việc tư vấn, giáo dục sức khỏe phù hợp với tình trạng bệnh tật cho bệnh nhân khi vào viện, trong quá trình điều trị và khi ra viện.
    – Những tiêu chí sau khi áp dụng dễ cải tiến để nâng điểm nhất: A2, B3, B4, C2, C9
    – Những tiêu chí sau khi áp dụng khó cải tiến để nâng điểm nhất: A2.4; A2.5; A3.2; A1.6; A4.4; B2.1; C1.1; C7.1; C7.2; C7.5
    – Tác động lớn nhất của Bộ tiêu chí tới công tác quản lý của Bệnh viện là:
    Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng Bệnh viện là cơ sở để giúp bệnh viện xác định điểm mạnh, điểm yếu của mình, lựa chọn các vấn đề ưu tiên cần cải tiến để nâng cao chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, hướng tới mục tiêu cao nhất là làm hài lòng người bệnh trên quan điểm lấy người bệnh làm trung tâm.
    Bệnh viện xây dựng kế hoạch hoạt động chi tiết hàng năm và kế hoạch tổng thể đến năm 2020 và triển khai hoạt động với các giải pháp theo đúng kế hoạch; các văn bản liên quan đến hoạt động bệnh viện được phổ biến, triển khai tới tất cả cán bộ, viên chức bệnh viện; có tiêu chuẩn, quy trình cụ thể việc tuyển dụng; bổ nhiệm các vị trí quản lý trong bệnh viện công khai, minh bạch, trình độ ngoại ngữ tiếng Anh, vi tính từ bằng A,B trở lên đạt khá cao; thực hiện tốt công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý và bổ nhiệm theo quy hoạch.

    II. ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ:
    Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng Bệnh viện là cơ sở để giúp bệnh viện xác định điểm mạnh, điểm yếu của mình, lựa chọn các vấn đề ưu tiên cần cải tiến để nâng cao chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, hướng tới mục tiêu cao nhất là làm hài lòng người bệnh trên quan điểm lấy người bệnh làm trung tâm. Để bộ tiêu chí hoàn thiện hơn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và tiến dần đến hội nhập quốc tế, chúng tôi đề xuất kiến nghị một số giải pháp sau:
    I. Để bảo đảm triển khai thực tiễn Bộ tiêu chí cần:
    1. Công tác ban hành văn bản, kế hoạch triển khai thực hiện Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng Bệnh viện tại Bệnh viện.
    2. Công tác tuyên truyền, phổ biến Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện.
    3. Việc bảo đảm các điều kiện cho thi hành Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện ( tổ chức bộ máy, nhân lực, kinh phí, các điều kiện đảm bảo khác…)
    4. Việc kiểm tra đánh giá chất lượng bệnh viện
    Theo quan điểm của bệnh viện, nên gắn kết quả đánh giá chất lượng bệnh viện theo Bộ tiêu chí với một hoặc một số nội dung dưới đây:
    – Xếp hạng bệnh viện
    – Thi đua khen thưởng
    II. Đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung:
    – Sửa đổi các nội dung: A2.4 Bệnh viện hạng III ( tuyến huyện ) cơ sở vật chất khó thực hiện đạt ở mức 3;
    A2.5: Cơ sở hạ tầng theo thiết kế không cho phép cải tạo để đạt mức 3;
    A3.2: Do thói quen, ý thức người dân địa phương và giá trị tài sản mang theo khi đi khám chữa bệnh không lớn người dân có thói quen tự giữ và vị trí bệnh viện cự ly gần nhà dân nếu thiếu thưa gì thì về nhà lấy tới, nên bệnh viện;
    A4.4: Bệnh viện tuyến huyện ở Phú Yên khó thực hiện được tiêu chí này;
    B2.1: tiểu mục 7. mức 3 bệnh viện tuyến huyện khó thực hiện được nếu có thực hiện được thì chỉ có Sở Y tế tổ chức;
    C1.1: vì biên chế bệnh viện tuyến huyện có hạn và mức thu chưa đủ trả tiền trực, phẩu thuật.., bệnh viện không thể hợp đồng bảo vệ chuyên nghiệp nên tiểu mục 11. mức 3 khó thực hiện ở BV hạng III;
    C7.1: Bệnh viện tuyến huyện hạng III khó triển khai khoa dinh dưỡng ( tiểu mục 6. mức 3 );
    C7.2: Bệnh viện tuyến huyện hạng III khó triển khai khoa dinh dưỡng;
    C7.5: Bệnh viện tuyến huyện hạng III khó triển khai khoa dinh dưỡng nên không thể cung cấp chế độ dinh dưỡng cho người bệnh phù hợp với bệnh lý.
    Trên đây là một số góp ý Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện, Bệnh viện đa khoa huyện Đông Hòa kính gửi Cục quản lý khám chữa bệnh Bộ Y tế./.

    Nơi nhận: GIÁM ĐỐC
    – Cục quản lý khám chữa bệnh; (Đã ký)
    – lưu: KHNV; VT

    BSCKI. Trương Trọng Lành

  • SỞ Y TẾ PHÚ YÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    BVĐK H. ĐÔNG HÒA Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
    Số : / BC-BVĐK Đông Hòa, ngày 10 tháng 10 năm 2016

    GÓP Ý
    Dự thảo Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện năm 2016

    I. ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG BỆNH VIỆN
    1. Phần A: Hướng đến người bệnh (chỉ dẫn, đón tiếp, hướng dẫn cấp cứu người bệnh; điều kiện cơ sở vật chất phục vụ người bệnh; môi trương chăm sóc người bệnh: quyền và lợi ích của người bệnh)
    Kết quả đạt được : Bệnh viện đã có hệ thống chỉ dẫn, đón tiếp, hướng dẫn người bệnh đến khám bệnh và cấp cứu với hệ thống bảng hiệu bệnh viện, bảng hiệu khoa, phòng, sơ đồ chỉ dẫn và nhân viên tiếp đón ở các khoa;
    Người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh viện được giải thích về tình trạng bệnh tật và hướng điều trị; những vấn đề riêng tư của người bệnh được tôn trọng; nộp viện phí thuận tiện, công khai, minh bạch; các ý kiến góp ý của người bệnh và thân nhân người bệnh được bệnh viện tiếp nhận, phản hồi, giải quyết kịp thời. Tình trạng ý kiến phản ánh, phiền hà về tinh thần thái độ không tốt ngày càng giảm; hàng quí, năm bệnh viện tiến hành thực hiện khảo sát, đánh giá sự hài lòng và triển khai các biện pháp làm tăng sự hài lòng của người bệnh.
    Tồn tại, hạn chế : tuy nhiên hệ thống bảng biểu hướng dẫn chưa hoàn chỉnh, chưa đồng bộ, vẫn còn tình trạng bệnh nhân và thân nhân còn lúng túng khi vào bệnh viện, vào các khoa; có lúc, có nơi bệnh nhân chưa được hướng dẫn làm các thủ tục chu đáo; phòng chờ khám bệnh còn chật chội thiếu tiện nghi; cấp cứu người bệnh còn thiếu nhiều phương tiện, phòng ốc chật chội. Việc giải thích về tình trạng sức khỏe, phương pháp điều trị, giá cả thuốc, vật tư y tế tiêu hao và một số thông tin cho bệnh nhân tham gia vào quá trình điều trị chưa thực hiện đầy đủ; giường của người bệnh chưa có rèm che chắn, người bệnh chưa có khu vực cách ly tương đối yên tĩnh; chưa có website để đăng thông tin giá dịch vụ y tế, giá thuốc, vật tư, bệnh viện chưa thanh toán viện phí bằng thẻ tín dụng; giải quyết thắc mắc, khiếu nại chưa phân tích được các nhóm vấn đề, chưa phân tích được các nguyên nhân gây phiền hà, thắc mắc của người bệnh; bộ công cụ đánh giá sự hài lòng của người bệnh chưa xây dựng đồng bộ toàn bệnh viện và tính khách quan, độ tin cậy chưa cao, chưa phân tích sự hài lòng của người bệnh theo các khoa.
    2. Phần B: Phát triền nguồn nhân lực bệnh viện ( số lượng và cơ cấu nhân lực bệnh viện; chất lượng nguồn nhân lực; chế độ đãi ngộ và điều kiện môi trường làm việc; lãnh đạo bệnh viện)
    Kết quả đạt được : Nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất của bệnh viện nên bệnh viện luôn chú ý phát triển nguồn nhân lực bệnh viện; trong quy hoạch dài hạn cũng như kế hoạch hàng năm đều đề cập đầy đủ các nội dung liên quan đến tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, có chính sách thu hút, ưu đãi cán bộ y tế cần thiết cho bệnh viện; duy trì khá ổn định nguồn nhân lực; đã xem xét cơ cấu chức danh nghề nghiệp cần thiết cho hoạt động bệnh viện. Bệnh viện quan tâm đào tạo và phát triển kỹ năng nghề nghiệp cho cán bộ, viên chức bệnh viện theo kế hoạch đào tạo, đào tạo lại hàng năm; xây dựng và triển khai kế hoạch nâng cao kỹ năng giao tiếp, ứng xử, y đức cho nhân viên y tế; bệnh viện có chính sách hỗ trợ cho nhân viên được cử đi đào tạo, bố trí phù hợp sau đào tạo, tạo thu nhập ổn định để thu hút, duy trì nguồn nhân lực y tế có chất lượng.
    Tồn tại, hạn chế : Bệnh viện chưa đạt được mục tiêu, chỉ số theo kế hoạch, số lượng nguồn nhân lực chưa phù hợp, còn thiếu bác sĩ; chưa thực hiện làm việc theo ca, kíp ở các khoa cần thiết như Hồi sức Cấp cứu, khoa Ngoại-Sản, còn nhân viên thường trực 24/24. Tỷ lệ bác sĩ được đào tạo sau đại học chưa đạt tỷ lệ đặt ra, chưa tổ chức hội thi tay nghề giỏi cho bác sĩ, điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên, dược sĩ…các hình thức đào tạo truyền đạt kinh nghiệm, tự đào tạo còn hạn chế. Tiến hành đánh giá việc triển khai nâng cao thái độ ứng xử của nhân viên bệnh viện chưa thiết thực và hiệu quả, vẫn còn ý kiến phản ánh về tinh thần, thái độ phục vụ chưa tốt. Cơ chế, chính sách thu hút nguồn nhân lực y tế có chất lượng chưa phát huy hiệu quả, mức thu nhập tăng thêm chưa cao; điều kiện cơ sở vật chất, điều kiện làm việc, bảo hộ lao động chưa thật sự hoàn thiện; chưa tổ chức nghỉ dưỡng tham quan cho tập thể hàng năm, hoạt động văn nghệ thể dục thể thao chưa thường xuyên, hồ sơ quản lý sức khỏe chưa được quản lý bằng công nghệ thông tin.
    3. Phần C: Hoạt động chuyên môn ( An ninh trật tự và an toàn cháy nổ; quản lý hồ sơ bệnh án; ứng dụng công nghệ thông tin; phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn; chất lượng lâm sàng; hoạt động điều dưỡng và chăm sóc người bệnh; dinh dưỡng và tiết chế; chất lượng xét nghiệm; quản lý cung ứng và sử dụng thuốc; nghiên cứu khoa học)
    3.1 Kết quả đạt được:
    3.1.1 Bảo đảm an ninh trật tự bệnh viện: Bệnh viện có lực lượng bảo vệ nhưng chưa chuyên nghiệp, khuôn viên bệnh viện có tường rào bao quanh, có quy định hạn chế người nhà người bệnh vào khu vực chuyên môn trong các giờ quy định; có quy định phối hợp với cơ quan an ninh địa phương, có các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện trộm cắp, cướp giật trong khu vực bệnh viện. Bảo đảm an toàn điện và phòng chống cháy nổ với phân công nhân viên phụ trách an toàn điện và phòng chống cháy nổ; có phương án phòng chống cháy nổ, có hệ thống chữa cháy, cửa thoát hiểm, họng nước cứu hỏa.
    3.1.2. Quản lý hồ sơ bệnh án: Hồ sơ bệnh án được quản lý khá tốt; các thông tin về chăm sóc và điều trị người bệnh được ghi vào hồ sơ, thông tin đầy đủ theo quy định, không sữa chữa, tẩy xóa, hồ sơ bệnh án được kiểm tra, đánh giá thường quy; các thông tin mã bệnh được mã hóa chính xác theo ICD. Bệnh án được lưu trữ tập trung, có giá sắp xếp theo trật tự thống nhất dễ tìm kiếm.
    3.1.3. Ứng dụng công nghệ thông tin: Quản lý khá tốt cơ sở dữ liệu và thông tin y tế. Có hệ thống danh mục thống nhất toàn bệnh viện về giá dịch vụ kỹ thuật cho tất cả đối tượng người bệnh, áp dụng phần mềm báo cáo thống kê bệnh viện kết xuất số liệu tự động từ các phần mềm khác ( Mới lắp đặt ); áp dụng hệ thống mã hóa lâm sàng theo quy định của Bộ Y tế. Thực hiện các giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và hoạt động chuyên môn; bệnh viện có tổ công nghệ thông tin, xây dựng hệ thống máy tính nối mạng nội bộ và ứng dụng phần mềm quản lý chuyên môn trên mạng đến tất cả các khoa, phòng.
    3.1.4. Phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn: Đã thành lập hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn, tổ kiểm soát nhiễm khuẩn và mạng lưới nhiễm khuẩn bệnh viện; xây dựng quy chế hoat động của hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn, có nhân viên chuyên trách cho công tác nhiễm khuẩn; hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn hoạt động thường xuyên theo kế hoạch. Các nhân viên của tổ kiểm soát nhiễm khuẩn được tham gia các lớp đào tạo về kiểm soát nhiễm khuẩn; các thành viên của mạng lưới được tham gia huấn luyện cập nhật chuyên môn về kiểm soát nhiễm khuẩn; xây dựng và ban hành các hướng dẫn về phòng ngừa chuẩn; có quy trình xử lý các trường hợp rủi ro, phơi nhiễm với các bệnh nguy hiểm hoặc nguy cơ nhiễm khuẩn cao; có hệ thống khử khuẩn tập trung. Đã triển khai thực hiện chương trình rửa tay; có các bản hướng dẫn rửa tay tại các bồn rửa tay. Có phân công nhân viên kiểm soát nhiễm khuẩn; xây dựng kế hoạch giám sát nhiễm khuẩn trong phạm vi bệnh viện. Thực hiện phân loại chất thải y tế; có trang bị túi, thùng để thu gom chất thải y tế; thực hiện xử lý chất thải rắn y tế theo quy định. Có hệ thống xử lý chất thải lỏng và hoạt động thường xuyên; các chỉ tiêu đầu ra của nước thải đạt quy chuẩn quan trắc về môi trường.
    3.1.5. Năng lực thực hiện kỹ thuật chuyên môn: Bảo đảm xác định chính xác người bệnh khi cung cấp dịch vụ, thực hiện các hình thức thủ công như ghi tên, tuổi, địa chỉ, ghi sổ, phát sổ cho người bệnh và các mẫu bệnh phẩm, thuốc, vật tư… có liên quan đến người bệnh để tránh nhầm lẫn khi cung cấp dịch vụ. Bệnh viện có chủ trương phát triển, thực hiện các kỹ thuật theo đúng phân tuyến và công bố công khai cho nhân viên y tế, người bệnh và người dân. Bệnh viện xây dựng kế hoạch triển khai kỹ thuật mới của bệnh viện hàng năm, trong đó áp dụng một số kỹ thuật mới, hiện đại. Bệnh viện phê duyệt và áp dụng đúng như hướng dẫn quy trình kỹ thuật của Bộ Y tế và sử dụng thống nhất trong toàn bệnh viện. Bệnh viện có các hướng dẫn điều trị của Bộ Y tế có sẵn tại các khoa, phòng. Ban hành các quy định về việc áp dụng các phác đồ điều trị và theo dõi việc tuân thủ phổ biến đến tất cả nhân viên y tế.
    3.1.6. Hoạt động điều dưỡng và chăm sóc người bệnh: Đã thiết lập đầy đủ hệ thống tổ chức điều dưỡng trong bệnh viện gồm phòng diều dưỡng, hội đồng điều dưỡng và đầy đủ các điều dưỡng trưởng khoa. Có tài liệu cập nhật nội dung về nội dung hướng dẫn, tư vấn điều trị và chăm sóc, giáo dục sức khỏe; các quy định có sẵn tại khoa, phòng; nhân viên y tế thực hiện đầy đủ các quy định. Bệnh viện có quy định cụ thể về chăm sóc thể chất và vệ sinh cá nhân cho người bệnh; Nhân viên y tế hướng dẫn người nhà cách chăm sóc người bệnh. Việc chăm sóc người bệnh cấp I chủ yếu do điều dưỡng thực hiên. Hệ thống lan can và chấn song cửa sổ được thiết kế để người bệnh không bị té ngã do vô ý; các vị trí có nguy cơ trượt, vấp ngã được ưu tiên xử lý.
    3.1.7. Năng lực thực hiện chăm sóc dinh dưỡng và tiết chế: Nhân viên y tế có tư vấn chế độ ăn phù hợp cho người bệnh nhưng chưa hướng dẫn, hỗ trợ, kiểm tra, giám sát chế độ dinh dưỡng tại các khoa điều trị.
    3.1.8. Chất lượng xét nghiệm: Phòng xét nghiệm được xây dựng độc lập, có đầy đủ nhân sự và trang thiết bị bảo đảm thực hiện các hoạt động xét nghiệm huyết học, hóa sinh, vi sinh; đã thiết lập hệ thống quản lý chất lượng xét nghiệm.
    3.1.9. Quản lý cung ứng và sử dụng thuốc: Khoa dược đã được thành lập và phụ trách khoa có trình độ đại học; khoa có các hoạt động thông tin, cấp phát thuốc, kho bảo quản, quản lý xuất nhập, tồn thuốc; khoa có quy trình cấp phát thuốc trong bệnh viện từ khoa dược đến người bệnh; có xây dựng và quản lý danh mục thuốc cấp cứu; báo cáo thường xuyên các số liệu về sử dụng thuốc. Thực hiện tốt quy chế kê đơn có xây dựng các quy trình chuyên môn liên quan đến sử dụng thuốc; có hướng dẫn sử dụng thuốc cho điều dưỡng, cán bộ y tế bệnh viện. Có thực hiện việc thông tin thuốc, giám sát ADR. Hội đồng thuốc và điều trị được thiết lập và có các hoạt động như xây dựng danh mục thuốc, xây dựng hướng dẫn điều trị, phân tích vấn đề sử dụng thuốc trong các buổi giao ban, tổ chức tập huấn, đào tạo về sử dụng thuốc cho nhân viên y tế.
    3.1.10. Nghiên cứu khoa học: Bệnh viện đã tích cực triển khai hoạt động nghiên cứu khoa học. Có đầy đủ các phương tiện và hoạt động được phục vụ trình chiếu, báo cáo khoa học; có tiến hành sinh hoạt khoa học định kỳ; tiến hành thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học và báo cáo kết quả nghiên cứu. Có kế hoạch triển khai áp dụng các kết quả nghiên cứu của bệnh viện để cải tiến hoạt động bệnh viện.
    3.2. Tồn tại hạn chế:
    3.2.1. Bảo đảm an ninh trật tự bệnh viện: Bệnh viện chưa có hệ thống camera an ninh tự động theo dõi toàn bệnh viện; tình trạng mất trộm thỉnh thoảng vẫn xảy ra đối với tài sản bệnh viện và bệnh nhân nằm viện. Chưa trang bị đầy đủ hệ thống cầu dao tự ngắt cho toàn bộ các máy móc thiết bị y tế, hệ thống báo cháy tự động chưa có ở tất cả các khoa, phòng; chưa tham gia bảo hiểm cháy nổ.
    3.2.2. Quản lý hồ sơ bệnh án: Bệnh viện chưa thực hiện bệnh án điện tử, chưa cập nhật bệnh án qua mạng nội bộ; bệnh nhân chưa được mã hóa, các thông tin chưa được lưu trữ toàn bộ trên hệ thống máy tính.
    3.2.3. Ứng dụng công nghệ thông tin: Các chỉ số thông tin bệnh viện chưa được đánh giá, kết xuất trực tiếp từ phần mềm một cách chi tiết theo cơ cấu tài chính, thuốc , vật tư theo ngày, tuần, tháng, quý. Chưa có công cụ tự động phân tích đưa ra thống kê, dự báo. Chưa áp dụng bệnh án nội trú, ngoại trú điện tử; chưa đồng bộ hóa toàn bộ dữ liệu của các khoa, phòng và máy móc, trang thiết bị y tế; chưa có phần mềm dịch vụ khám chữa bệnh từ xa.
    3.2.4. Phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn: Tổ kiểm soát nhiễm khuẩn chưa đầy đủ nhân lực; việc theo dõi, giám sát việc thực hiện các quy trình và hướng dẫn phòng ngừa nhiễm khuẩn trong bệnh viện chưa thường xuyên; chưa cung cấp đầy đủ dung dịch sát khuẩn theo quy chuẩn; chưa xây dựng bộ công cụ đánh giá sự tuân thủ, khảo sát việc rửa tay của nhân viên y tế. Chưa tiến hành nghiên cứu về kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện; chưa tính được tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện. Nhà lưu trữ rác chưa đạt chuẩn quy định. Chất thải lỏng sau khi xử lý chưa thể tái sử dụng.
    3.2.5. Năng lực thực hiện kỹ thuật chuyên môn: Người bệnh chưa được cấp mã số/mã vạch để bảo đảm không nhầm lẫn; tỷ lệ triển khai kỹ thuật theo phân tuyến còn thấp dưới 60%; chưa tiến hành xây dựng quy trình kỹ thuật sử dụng tại bệnh viện dựa trên hướng dẫn của Bộ Y tế. Phác đồ điều trị chưa được cập nhật theo mô hình bệnh tật của bệnh viện. Chưa tiến hành giám sát tuân thủ toàn bộ các hướng dẫn điều trị của bệnh viện.
    3.2.6. Hoạt động điều dưỡng và chăm sóc người bệnh: Bệnh viện chưa có biển báo, hướng dẫn người bệnh cách gọi nhân viên y tế trong trường hợp khẩn cấp tại những vị trí dễ quan sát; chưa thực hiện việc tư vấn, giáo dục sức khỏe phù hợp với bệnh lý khi vào viện, trong quá trình điều trị và khi ra viện; chưa thực hiện các chăm sóc như cho ăn uống, vận động, phục hồi chức năng do điều dưỡng/hộ lý thực hiện cho người bệnh có nhu cấu; người bệnh chăm sóc cấp I chưa được điều dưỡng chăm sóc toàn bộ; chưa dán các vật liệu tăng ma sát ở các vị trí có nguy cơ trượt ngã; chưa có đầy đủ giường bệnh an toàn. Chưa có hệ thống ôxy trung tâm; chưa có hệ thống camera để theo dõi người bệnh từ xa.
    3.2.7. Năng lực thực hiện chăm sóc dinh dưỡng và tiết chế: Chưa thành lập khoa dinh dưỡng theo quy định. Việc cung cấp suất ăn bệnh lý chưa đầy đủ.
    3.2.8. Chất lượng xét nghiệm: Khoa xét nghiệm chưa thực hiện được giải phẫu bệnh; chưa có cán bộ xét nghiệm trình độ sau đại học; chưa có hoạt động thống kê, phân tích và tính độ lệch chuẩn về chất lượng các xét nghiệm.
    3.2.9. Quản lý cung ứng và sử dụng thuốc: Phụ trách khoa dược chưa có trình độ sau đại học, chưa có cán bộ chuyên trách làm công tác dược lâm sàng và thông tin thuốc; chưa kiểm soát hoàn toàn lượng thuốc thông qua hệ thống phần mềm quản lý của bệnh viện, chưa có phòng pha chế thuốc; chưa theo dõi được nồng độ thuốc trong máu, chưa có phần mềm theo dõi và quản lý lịch sử dùng thuốc của người bệnh. Bệnh viện chưa có hệ thống lưu trữ thông tin thuốc, chưa xây dựng đầy đủ các văn bản quy định về quản lý và sử dụng thuốc trong bệnh viện.
    3.2.10. Nghiên cứu khoa học: Các đề tài nghiên cứu chưa được đăng trên các tạp chí khoa học trong và ngoài tỉnh; chất lượng triển khai, ứng dụng kết quả các đề tài nghiên cứu chưa cao.
    4. Phần D: Cải tiền chất lượng ( Thiết lập hệ thống và xây dựng, triển khai kế hoạch cải tiến chất lượng; phòng ngừa các sai sót, sự cố và khắc phục; đánh giá, đo lường, hợp tác và cải tiến chất lượng)
    Kết quả đạt được:
    4.1. Thiết lập hệ thống quản lý chất lượng bệnh viện: Đã thành lập hội đồng, tổ và mạng lưới quản lý chất lượng bệnh viện. Đã xây dựng quy chế hoạt động của hội đồng chất lượng; tổ chất lượng bệnh viện có đầy đủ thành viên theo cơ cấu; xây dựng và ban hành các văn bản về quản lý chất lượng trong bệnh viện; xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng chung cho toàn bệnh viện đầy đủ và cụ thể; xây dựng đề án nâng cao chất lượng bệnh viện; đang triển khai lập website của bệnh viện, xây dựng các phong trào nâng cao chất lượng.
    4.2. Phòng ngừa các sai sót, sự cố và khắc phục: Đã thực hiện báo cáo sai sót, sự cố xảy ra theo quy định. Có các bảng kiểm trong phòng mổ và phòng làm thủ thuật; có quy định kiểm tra lại thuốc trước khi sử dụng cho người bệnh; kiểm tra các quy trình kỹ thuật, không để xảy ra sự cố, sai sót nghiêm trọng ảnh hưởng đến người bệnh.
    4.3. Đánh giá, đo lường, hợp tác và cải tiến chất lượng: Đã tiến hành tự đánh giá chất lượng bệnh viện theo tiêu chí của Bộ Y tế; công bố và phổ biến kết quả đánh giá chất lượng bệnh viện cho tất cả các khoa, phòng; báo cáo kết quả có phân tích rõ mặt mạnh, mặt yếu. Có kế hoạch cải tiến chất lượng, trong bản kế hoạch có xây dựng 5 chỉ số chất lượng cụ thể. Tiến hành đo lường và giám sát kế hoạch chất lượng dựa trên bản kế hoạch. Gửi đầy đủ số lượng các báo cáo liên quan đến hoạt động quản lý chất lượng theo yêu cầu của cấp trên, đầy đủ thông tin, trung thực, chính xác.
    Tồn tại, hạn chế: Nhân viên của tổ quản lý chất lượng còn kiêm nhiệm chưa được đào tạo về quản lý chất lượng; chưa lượng giá các kết quả đầu ra cụ thể.
    Việc quản lý sai sót, sự cố chưa theo hệ thống riêng; chưa có trường hợp tự báo cáo sai sót. Chưa có báo cáo đánh giá về sai sót, sự cố và phân tích xu hướng, nguyên nhân và đề xuất giải pháp hạn chế sai sót, sự cố.
    5. Phần E: Tiêu chí đặc thù chuyên khoa ( tiêu chí sản khoa, nhi khoa)
    Kết quả đạt được:
    Tiêu chí sản khoa, nhi khoa: Đã thành lập khoa sản, có bác sĩ chuyên khoa sản cấp I, có đơn nguyên hồi sức và cấp cứu sơ sinh; có khoa nhi và bác sĩ chuyên khoa nhi. Thực hiện tư vấn về sức khỏe sinh sản và chăm sóc trước sinh, sau sinh cho phụ nữ mang thai; truyền thông về chăm sóc sức khỏe sinh sản. Quy định về việc nuôi con bằng sữa mẹ; tuyên truyền, hướng dẫn các bà mẹ không sử dụng bình bú, sữa thay thế sữa mẹ; tuyên truyền tư vấn về nuôi con bằng sữa mẹ; cho mẹ nằm cùng trẻ sau sinh.
    Tồn tại, hạn chế: Tuy nhiên chưa có khoa sơ sinh riêng biệt; chưa có bác sĩ chuyên khoa II; chưa làm tờ rơi miễn phí tuyên truyền về chăm sóc sức khỏe sinh sản; chưa tổ chức lớp học tiền sản, hậu sản; chưa thành lập được phòng tư vấn về sức khỏe sinh sản.
    6. Đánh giá chung về việc thực hiên các quy định của Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện:
    Nâng cao chất lượng bệnh viện là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của toàn thể các khoa, phòng và toàn thể cán bộ viện chức bệnh viện; trong đó Đảng ủy và Ban Giám đốc bệnh viện đóng vai trò lãnh đạo, điều hành; Công đoàn cơ sở, Hội Cựu chiến binh và Đoàn Thanh niên CSHCM đóng vai trò nòng cốt trong việc vận động cán bộ viên chức tham gia. Các khoa, phòng, đơn vị trực tiếp tổ chức thực hiện.
    Tiến hành các hoạt động cải tiến và nâng cao chất lượng nhằm cung ứng dịch vụ y tế an toàn, chất lượng, hiệu quả và mang lại sự hài lòng cao nhất có thể cho người bệnh, người dân và nhân viên bệnh viện, phù hợp với khả năng, điều kiện của bệnh viện.
    Cải tiến các bảng biểu chưa hoàn chỉnh, cải tiến quy trình khám và điều trị bệnh, hướng dẫn làm các thủ tục chu đáo, ngày càng thuận tiện và rút ngắn thời gian chờ đợi bằng các biện pháp giảm bớt các thủ tục, tăng thêm bàn khám bệnh, tăng cường điều trị ngoại trú các bệnh mãn tính, sắp xếp phòng khám BHYT riêng; phòng chờ khám bệnh được trang bị thêm tiện nghi; tăng cường phương tiện cấp cứu người bệnh.
    Giảm tình trạng bệnh nhân nằm giường tạm, giường ghép tiến tới tất cả giường bệnh trang bị đầy đủ, đồng nhất; thực hiện các biện pháp giảm quá tải bệnh nội trú và khám ngoại trú bằng cách sắp xếp kê thêm giường bệnh, rút ngắn thời gian điều trị nội trú, bác sĩ các khoa lâm sàng tăng cường khoa khám bệnh vào các ngày cao điểm. Các buồng vệ sinh đầy đủ bồn rửa tay, xà phòng, dung dịch rửa tay; đủ tủ đầu giường cho từng bệnh nhân, đủ ghế ngồi cho người chăm sóc bệnh; Xây dựng khuôn viên bệnh viện thật sự mỹ quan, có vườn hoa, đài phun nước; Thực hiện việc giải thích về tình trạng sức khỏe, phương pháp điều trị, giá cả thuốc, vật tư y tế tiêu hao và một số thông tin cho bệnh nhân tham gia vào quá trình điều trị; giải quyết thắc mắc, khiếu nại có phân tích được các nhóm vấn đề, phân tích được các nguyên nhân gây phiền hà, thắc mắc của người bệnh.
    Tăng cường tuyển dụng, đào tạo để đạt được mục tiêu, chỉ số nhân sự theo kế hoạch, số lượng nguồn nhân lực phù hợp, đủ bác sĩ.
    Tăng cường đào tạo bác sĩ sau đại học để đạt tỷ lệ đặt ra, tổ chức hội thi tay nghề giỏi cho điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên, tổ chức các hình thức đào tạo truyền đạt kinh nghiệm, tự đào tạo.
    Tiến hành đánh giá việc triển khai nâng cao thái độ ứng xử của nhân viên bệnh viện thiết thực và hiệu quả; giảm bớt ý kiến phản ánh về tinh thần, thái độ phục vụ chưa tốt.
    Có cơ chế , chính sách thu hút nguồn nhân lực y tế có chất lượng, phát huy hiệu quả.Tăng mức thu nhập tăng thêm qua từng năm; điều kiện cơ sở vật chất, điều kiện làm việc, bảo hộ lao động ngày càng hoàn thiện; phấn đấu tổ chức nghỉ dưỡng tham quan cho tập thể hàng năm, hoạt động văn nghệ thể thao thường xuyên, hồ sơ quản lý sức khỏe được quản lý bằng công nghệ thông tin; tổ chức khảo sát, đánh giá nhân viên về môi trường làm việc.
    Quy hoạch dài hạn của bệnh viện được phê duyệt và công khai, mở rộng thêm quy mô giường bệnh bệnh viện; nâng cấp, thực hiện các kỹ thuật cao; triển khai, thực hiện tốt các văn bản của cấp trên; có quy định về đánh giá sơ kết, tổng kết việc thực hiện các văn bản; lãnh đạo bệnh viện, khoa, phòng giảm bớt kiêm nhiệm nhiều công việc; cán bộ quản lý có đủ năng lực về tin học , ngoại ngữ đáp ứng cho công việc.
    Bệnh viện trang bị hệ thống camera an ninh tự động theo dõi toàn bệnh viện; không để xảy ra tình trạng mất trộm đối với bệnh nhân nằm viện; trang bị đầy đủ hệ thống cầu dao tự ngắt cho toàn bộ các máy móc thiết bị y tế; hệ thống báo cháy đầy đủ tất cả các khoa, phòng.
    Thiết lập công cụ tự động phân tích đưa ra thống kê, dự báo để trợ giúp cho lãnh đạo quản lý hoạt động bệnh viện. Triển khai áp dụng bệnh án nội trú, ngoại trú điện tử; có phần mềm kết nối các máy y tế; đồng bộ hóa toàn bộ dữ liệu của các khoa, phòng và máy móc, trang thiết bị y tế.
    Thành lập tổ Kiểm soát nhiễm khuẩn có đầy đủ nhân lực; việc theo dõi, giám sát thực hiện các quy trình và hướng dẫn phòng ngừa nhiễm khuẩn trong bệnh viện tiến hành thường xuyên; cung cấp đầy đủ dung dịch sát khuẩn; xây dựng bộ công cụ đánh giá sự tuân thủ, khảo sát việc rửa tay của nhân viên y tế. Hệ thống xử lý chất thải y tế đạt chuẩn quy định. Chất thải nguy hại sau khi xử lý không ảnh hưởng đến tác động của môi trường.
    Tiến hành các biện pháp nhận dạng người bệnh tránh nhầm lẫn, tiến tới người bệnh được cấp mã số/mã vạch để bảo đảm không nhầm lẫn; bước đầu thực hiện các biện pháp chống nhầm lẫn sai sót như thực hiện 5 đúng, quy định các hình thức nhận dạng người bệnh khi thực hiện phẫu thuật, thủ thuật; báo cáo định kỳ sai sót chuyên môn các khoa, phòng theo quy định, các sai sót được phát hiện đều có giải pháp khắc phục không để tái diễn. Tỷ lệ triển khai kỹ thuật theo phân tuyến được Hội đồng KHKT bệnh viện thông qua, trình Sở Y tế phê duyệt, xem xét tăng dần hàng năm của tất cả các khoa và theo lộ trình nâng hạng bệnh viện, tiến hành xây dựng danh mục dịch vụ kỹ thuật sử dụng tại bệnh viện dựa trên hướng dẫn của Bộ Y tế. Phác đồ điều trị được cập nhật theo mô hình bệnh tật của bệnh viện. Tiến hành giám sát tuân thủ toàn bộ các hướng dẫn điều trị của bệnh viện.
    Điều dưỡng trưởng bệnh viện và các điều dưỡng trưởng khoa có trình độ đại học đạt cao; thực hiện việc tư vấn, giáo dục sức khỏe phù hợp với tình trạng bệnh tật cho bệnh nhân khi vào viện, trong quá trình điều trị và khi ra viện.
    – Những tiêu chí sau khi áp dụng dễ cải tiến để nâng điểm nhất: A2, B3, B4, C2, C9
    – Những tiêu chí sau khi áp dụng khó cải tiến để nâng điểm nhất: A2.4; A2.5; A3.2; A1.6; A4.4; B2.1; C1.1; C7.1; C7.2; C7.5
    – Tác động lớn nhất của Bộ tiêu chí tới công tác quản lý của Bệnh viện là:
    Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng Bệnh viện là cơ sở để giúp bệnh viện xác định điểm mạnh, điểm yếu của mình, lựa chọn các vấn đề ưu tiên cần cải tiến để nâng cao chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, hướng tới mục tiêu cao nhất là làm hài lòng người bệnh trên quan điểm lấy người bệnh làm trung tâm.
    Bệnh viện xây dựng kế hoạch hoạt động chi tiết hàng năm và kế hoạch tổng thể đến năm 2020 và triển khai hoạt động với các giải pháp theo đúng kế hoạch; các văn bản liên quan đến hoạt động bệnh viện được phổ biến, triển khai tới tất cả cán bộ, viên chức bệnh viện; có tiêu chuẩn, quy trình cụ thể việc tuyển dụng; bổ nhiệm các vị trí quản lý trong bệnh viện công khai, minh bạch, trình độ ngoại ngữ tiếng Anh, vi tính từ bằng A,B trở lên đạt khá cao; thực hiện tốt công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý và bổ nhiệm theo quy hoạch.

    II. ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ:
    Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng Bệnh viện là cơ sở để giúp bệnh viện xác định điểm mạnh, điểm yếu của mình, lựa chọn các vấn đề ưu tiên cần cải tiến để nâng cao chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, hướng tới mục tiêu cao nhất là làm hài lòng người bệnh trên quan điểm lấy người bệnh làm trung tâm. Để bộ tiêu chí hoàn thiện hơn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và tiến dần đến hội nhập quốc tế, chúng tôi đề xuất kiến nghị một số giải pháp sau:
    I. Để bảo đảm triển khai thực tiễn Bộ tiêu chí cần:
    1. Công tác ban hành văn bản, kế hoạch triển khai thực hiện Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng Bệnh viện tại Bệnh viện.
    2. Công tác tuyên truyền, phổ biến Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện.
    3. Việc bảo đảm các điều kiện cho thi hành Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện ( tổ chức bộ máy, nhân lực, kinh phí, các điều kiện đảm bảo khác…)
    4. Việc kiểm tra đánh giá chất lượng bệnh viện
    Theo quan điểm của bệnh viện, nên gắn kết quả đánh giá chất lượng bệnh viện theo Bộ tiêu chí với một hoặc một số nội dung dưới đây:
    – Xếp hạng bệnh viện
    – Thi đua khen thưởng
    II. Đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung:
    – Sửa đổi các nội dung: A2.4 Bệnh viện hạng III ( tuyến huyện ) cơ sở vật chất khó thực hiện đạt ở mức 3;
    A2.5: Cơ sở hạ tầng theo thiết kế không cho phép cải tạo để đạt mức 3;
    A3.2: Do thói quen, ý thức người dân địa phương và giá trị tài sản mang theo khi đi khám chữa bệnh không lớn người dân có thói quen tự giữ và vị trí bệnh viện cự ly gần nhà dân nếu thiếu thưa gì thì về nhà lấy tới, nên bệnh viện;
    A4.4: Bệnh viện tuyến huyện ở Phú Yên khó thực hiện được tiêu chí này;
    B2.1: tiểu mục 7. mức 3 bệnh viện tuyến huyện khó thực hiện được nếu có thực hiện được thì chỉ có Sở Y tế tổ chức;
    C1.1: vì biên chế bệnh viện tuyến huyện có hạn và mức thu chưa đủ trả tiền trực, phẩu thuật.., bệnh viện không thể hợp đồng bảo vệ chuyên nghiệp nên tiểu mục 11. mức 3 khó thực hiện ở BV hạng III;
    C7.1: Bệnh viện tuyến huyện hạng III khó triển khai khoa dinh dưỡng ( tiểu mục 6. mức 3 );
    C7.2: Bệnh viện tuyến huyện hạng III khó triển khai khoa dinh dưỡng;
    C7.5: Bệnh viện tuyến huyện hạng III khó triển khai khoa dinh dưỡng nên không thể cung cấp chế độ dinh dưỡng cho người bệnh phù hợp với bệnh lý.
    Trên đây là một số góp ý Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện, Bệnh viện đa khoa huyện Đông Hòa kính gửi Cục quản lý khám chữa bệnh Bộ Y tế./.

    Nơi nhận: GIÁM ĐỐC
    – Cục quản lý khám chữa bệnh; (Đã ký)
    – lưu: KHNV; VT

    BSCKI. Trương Trọng Lành

  • Trong file tải về tôi chỉ coi được tới hết tiêu chí B, từ trang 61 trở đi là các tiêu chí phần C trở đi tôi có thể coi được ở đâu ạ?

Quản lý hành nghề y

PHIẾU KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CÁC CƠ SỞ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH TƯ NHÂN

Phiếu khảo sát thực trạng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân phục vụ quá trình xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn xếp hạng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân. Ban hành kèm theo công văn số 273/KCB-HN ngày 10 tháng 3 năm 2017 v/v góp ý kiến dự thảo Thông tư hướng dẫn xếp hạng cơ sở KBCB tư nhân