DỰ THẢO Nghị định Quy định cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

DỰ THẢO Nghị định Quy định cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

CHÍNH PHỦ
______
Số: /2016/NĐ-CP
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
_____________________________________
Hà Nội, ngày tháng năm 2016

NGHỊ ĐỊNH
Quy định cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;
Căn cứ Luật Đầu tư ngày 26 tháng 11 năm 2014;
Căn cứ Luật Khám bệnh, chữa bệnh ngày 23 tháng 11 năm 2009;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Y tế,
Chính phủ ban hành Nghị định quy định cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
1. Nghị định này quy định về:
a) Hồ sơ, thủ tục cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh (sau đây gọi tắt là người hành nghề);
b) Các hình thức tổ chức của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
c) Điều kiện, hồ sơ, thủ tục cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
2. Nghị định này không điều chỉnh việc cấp chứng chỉ hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong quân đội.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi chung là tổ chức, cá nhân) thực hiện các hoạt động liên quan đến khám bệnh, chữa bệnh tại Việt Nam.
Điều 3. Giải thích từ ngữ
1. Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là người có chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh, làm việc toàn thời gian tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, có phạm vi hoạt động chuyên môn phù hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh mà mình phụ trách và chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ hoạt động chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
2. Bản sao hợp lệ là bản sao được cấp từ sổ gốc hoặc bản sao được chứng thực từ bản chính bởi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc bản sao đã được đối chiếu với bản chính.

Chương II
CẤP, CẤP LẠI CHỨNG CHỈ HÀNH NGHỀ
Mục 1
HỒ SƠ, THỦ TỤC CẤP, CẤP LẠI CHỨNG CHỈ HÀNH NGHỀ

Điều 4. Các trường hợp cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề
1. Việc cấp chứng chỉ hành nghề áp dụng đối với các trường hợp sau đây:
a) Cấp lần đầu chứng chỉ hành nghề;
b) Cấp sửa đổi, bổ sung chứng chỉ hành nghề khi có thay đổi nội dung trong chứng chỉ hành nghề, bao gồm:
– Bổ sung phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề khi người hành nghề đề nghị thêm kỹ thuật chuyên môn thuộc chuyên khoa khác với phạm vi hoạt động chuyên môn đã được cấp trong chứng chỉ hành nghề;
– Thay đổi phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề khi người hành nghề đề nghị thay đổi kỹ thuật chuyên môn thuộc chuyên khoa khác với phạm vi hoạt động chuyên môn đã được cấp trong chứng chỉ hành nghề;
– Thay đổi ngày tháng năm sinh, địa chỉ cư trú trong chứng chỉ hành nghề.
2. Việc cấp lại chứng chỉ hành nghề áp dụng đối với các trường hợp sau đây:
a) Chứng chỉ hành nghề bị thu hồi theo quy định tại Khoản 1 Điều 29 Luật khám bệnh, chữa bệnh;
b) Chứng chỉ hành nghề bị mất hoặc hư hỏng.
Điều 5. Hồ sơ đề nghị cấp lần đầu chứng chỉ hành nghề đối với người Việt Nam
1. Đơn đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề theo Mẫu 01 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.
2. Bản sao hợp lệ văn bằng chuyên môn phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề, cụ thể như sau:
a) Văn bằng chuyên môn y hoặc văn bằng cử nhân y khoa do nước ngoài cấp được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận tương đương trình độ đại học nhưng phải kèm theo giấy chứng nhận đã qua đào tạo bổ sung thời gian tối thiểu là 12 tháng theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế thì được coi là tương đương với văn bằng bác sỹ đa khoa;
b) Văn bằng cử nhân hóa học, sinh học, dược sĩ trình độ đại học đối với người đã được tuyển dụng làm chuyên ngành xét nghiệm trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 kèm theo chứng chỉ hoặc giấy chứng nhận đào tạo chuyên ngành kỹ thuật y học về xét nghiệm tối thiểu 3 tháng trở lên;
c) Giấy chứng nhận là lương y hoặc giấy chứng nhận người có bài thuốc gia truyền hoặc người có phương pháp chữa bệnh gia truyền do Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế cấp.
Trường hợp mất văn bằng chuyên môn phải có giấy chứng nhận tốt nghiệp hoặc bản sao hợp lệ giấy chứng nhận thay thế bằng tốt nghiệp do cơ sở đào tạo nơi đã cấp văn bằng chuyên môn đó cấp.
3. Giấy xác nhận quá trình thực hành theo Mẫu 02 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này hoặc bản sao hợp lệ các văn bằng, chứng chỉ, giấy chứng nhận đào tạo sau đại học chuyên ngành lâm sàng, bác sĩ nội trú, bác sĩ chuyên khoa I, bác sĩ chuyên khoa II (không bao gồm thời gian học chuyên khoa định hướng), trừ trường hợp là lương y, người có bài thuốc gia truyền hoặc người có phương pháp chữa bệnh gia truyền.
Trường hợp thời gian thực hành của chương trình đào tạo chưa đủ theo quy định thì người đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề phải thực hành bổ sung để đủ thời gian theo quy định tại Điều 24 Luật Khám bệnh, chữa bệnh.
4. Giấy chứng nhận đủ sức khỏe để hành nghề khám bệnh, chữa bệnh do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế cấp.
5. Phiếu lý lịch tư pháp.
6. Sơ yếu lý lịch tự thuật có xác nhận của thủ trưởng đơn vị nơi công tác đối với người đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề đang làm việc trong cơ sở y tế tại thời điểm đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề hoặc sơ yếu lý lịch tự thuật có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú đối với những người xin cấp chứng chỉ hành nghề không làm việc cho cơ sở y tế nào tại thời điểm đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề theo Mẫu 03 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.
7. Hai ảnh màu 04cm x 06cm được chụp trên nền trắng trong thời gian không quá 06 tháng, tính đến ngày nộp đơn.
Điều 6. Hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh lần đầu đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
1. Đơn đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề theo Mẫu 04 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.
2. Bản sao hợp lệ văn bằng chuyên môn y.
3. Giấy xác nhận quá trình thực hành:
a) Trường hợp thực hành tại Việt Nam thực hiện theo Mẫu 02 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này;
b) Trường hợp thực hành tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của nước ngoài thì giấy xác nhận quá trình thực hành phải bảo đảm các nội dung sau đây: họ và tên người thực hành; ngày, tháng, năm sinh; địa chỉ thường trú; số hộ chiếu (ngày cấp, nơi cấp); văn bằng chuyên môn; năm tốt nghiệp; nơi thực hành; thời gian thực hành; nhận xét về năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp.
4. Bản sao hợp lệ giấy phép lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền về lao động của Việt Nam cấp.
5. Bản sao hợp lệ của một trong các giấy tờ sau đây:
a) Giấy chứng nhận biết tiếng Việt thành thạo đối với người nước ngoài đăng ký sử dụng tiếng Việt để khám bệnh, chữa bệnh;
b) Giấy chứng nhận đủ trình độ phiên dịch của người phiên dịch phù hợp với ngôn ngữ mà người hành nghề đăng ký sử dụng để khám bệnh, chữa bệnh và hợp đồng lao động của người phiên dịch với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi người nước ngoài đó làm việc;
c) Đối với người nước ngoài đăng ký sử dụng ngôn ngữ không phải là ngôn ngữ mẹ đẻ để khám bệnh, chữa bệnh:
– Giấy chứng nhận sử dụng thành thạo ngôn ngữ mà người hành nghề đăng ký sử dụng theo quy định tại Điều 17 Nghị định này để khám bệnh, chữa bệnh;
– Giấy chứng nhận đủ trình độ phiên dịch của người phiên dịch ngôn ngữ mà người hành nghề đăng ký sử dụng để khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại Điều 18 Nghị định này và hợp đồng lao động của người phiên dịch với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi người nước ngoài đó làm việc.
6. Giấy chứng nhận đủ sức khỏe để hành nghề khám bệnh, chữa bệnh do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế cấp.
7. Lý lịch tư pháp (áp dụng đối với trường hợp không thuộc diện cấp giấy phép lao động).
8. Hai ảnh màu 04cm x 06cm được chụp trên nền trắng trong thời gian không quá 06 tháng, tính đến ngày nộp đơn.
Điều 7. Hồ sơ đề nghị cấp bổ sung phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề
1. Hồ sơ đề nghị cấp bổ sung phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề bao gồm:
a) Đơn đề nghị cấp bổ sung phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề theo Mẫu 05 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này;
b) Bản sao hợp lệ văn bằng và chứng chỉ, giấy chứng nhận chuyên môn phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn đề nghị bổ sung;
c) Bản sao hợp lệ chứng chỉ hành nghề đã được cấp;
d) Giấy xác nhận quá trình thực hành theo Mẫu 02 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.
2. Hồ sơ đề nghị cấp thay đổi phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh bao gồm:
a) Đơn đề nghị cấp thay đổi phạm vi hoạt động chuyên môn theo Mẫu 06 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này;
b) Bản sao hợp lệ văn bằng, chứng chỉ, giấy chứng nhận chuyên môn phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn đề nghị thay đổi;
c) Bản gốc chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh đã được cấp;
d) Giấy xác nhận quá trình thực hành quy định tại Khoản 3 Điều 5 Nghị định này;
đ) Hai ảnh màu 04cm x 06 cm được chụp trên nền trắng trong thời gian không quá 06 tháng tính đến ngày nộp đơn.
3. Hồ sơ đề nghị thay đổi ngày tháng năm sinh, địa chỉ cư trú trong chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh bao gồm:
a) Đơn đề nghị thay đổi ngày tháng năm sinh, địa chỉ cư trú theo Mẫu 07 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này;
b) Bản sao hợp lệ giấy tờ chứng minh thay đổi ngày tháng năm sinh, địa chỉ cư trú của người hành nghề;
c) Bản gốc chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh đã được cấp;
d) Hai ảnh màu 04cm x 06cm, được chụp trên nền trắng trong thời gian không quá 06 tháng, tính đến ngày nộp đơn.
Điều 8. Hồ sơ đề nghị cấp lại chứng chỉ hành nghề
1. Hồ sơ đề nghị cấp lại chứng chỉ hành nghề đối với người bị mất hoặc bị hư hỏng hoặc bị thu hồi chứng chỉ hành nghề theo quy định tại các điểm a và b Khoản 1 Điều 29 Luật khám bệnh, chữa bệnh bao gồm:
a) Đơn đề nghị cấp lại chứng chỉ hành nghề theo Mẫu 08 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này;
b) Hai ảnh màu 04 cm x 06 cm được chụp trên nền trắng trong thời gian không quá 06 tháng tính đến ngày nộp đơn.
2. Hồ sơ đề nghị cấp lại chứng chỉ hành nghề trong trường hợp bị thu hồi theo quy định tại các điểm c, d, đ, e và g Khoản 1 Điều 29 Luật khám bệnh, chữa bệnh bao gồm:
a) Đơn đề nghị cấp lại chứng chỉ hành nghề theo Mẫu 09 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này;
b) Giấy chứng nhận đã cập nhật kiến thức y khoa liên tục theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế;
c) Các giấy tờ quy định tại các khoản 2, 4, 5, 6 và 7 Điều 5 Nghị định này đối với người Việt Nam; Các giấy tờ quy định tại các khoản 2, 4, 5, 6 và 7 Điều 6 Nghị định này đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Điều 9. Tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề
1. Hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề theo quy định tại các điều 5, 6, 7 và 8 Nghị định này được thực hiện như sau đây:
a) Người đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền quy định tại Khoản 1 Điều 26 Luật khám bệnh, chữa bệnh gửi 01 bộ hồ sơ về Bộ Y tế;
b) Người đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền quy định tại Khoản 2 Điều 26 Luật khám bệnh, chữa bệnh gửi 01 bộ hồ sơ về Sở Y tế.
2. Trường hợp người hành nghề đã được Bộ Y tế hoặc Sở Y tế cấp chứng chỉ hành nghề nhưng tại thời điểm đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề, người hành nghề thay đổi nơi làm việc thì nộp hồ sơ như sau đây:
a) Người hành nghề đang làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý của Sở Y tế thì nộp hồ sơ về Sở Y tế nơi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó đặt trụ sở;
b) Người hành nghề đang làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Y tế thì nộp hồ sơ về Bộ Y tế.
3. Trường hợp tại thời điểm đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề, người hành nghề không làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nào thì nộp hồ sơ về Sở Y tế nơi có nơi đăng ký thường trú để đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề.
Điều 10. Trình tự cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề
1. Sau khi nhận được hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề, Bộ Y tế hoặc Sở Y tế (sau đây gọi tắt là cơ quan tiếp nhận hồ sơ) thực hiện như sau:
a) Trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp tại Cơ quan tiếp nhận hồ sơ thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ gửi ngay cho người đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề Phiếu tiếp nhận hồ sơ;
b) Trường hợp hồ sơ gửi theo đường bưu điện thì trong thời hạn 02 ngày tính từ thời điểm nhận được hồ sơ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ phải gửi Phiếu tiếp nhận cho người đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề;
c) Phiếu tiếp nhận hồ sơ theo quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này.
2. Trong thời gian 20 ngày kể từ ngày ghi trên Phiếu tiếp nhận hồ sơ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ phải tiến hành thẩm định hồ sơ và có biên bản thẩm định.
3. Trong thời gian 10 ngày làm việc, kể từ ngày có biên bản thẩm định hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề, nếu không có yêu cầu sửa đổi, bổ sung, cơ quan tiếp nhận hồ sơ phải cấp, cấp lại hoặc bổ sung phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề.
4. Trong thời gian 05 ngày làm việc, kể từ ngày có biên bản thẩm định hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề, nếu hồ sơ không hợp lệ thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ phải có văn bản thông báo cho người đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề để hoàn chỉnh hồ sơ. Văn bản thông báo phải nêu cụ thể là bổ sung thêm những tài liệu nào, sửa đổi nội dung gì.
5. Khi nhận được văn bản yêu cầu hoàn chỉnh hồ sơ, người đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề phải sửa đổi, bổ sung theo đúng những nội dung đã được ghi trong văn bản và gửi về cơ quan tiếp nhận hồ sơ. Ngày tiếp nhận hồ sơ bổ sung được ghi trên Phiếu tiếp nhận hồ sơ. Nếu cơ quan tiếp nhận hồ sơ không có văn bản yêu cầu tiếp tục sửa đổi, bổ sung thì phải cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề trong thời gian quy định tại các khoản 2 và 3 Điều này;
Sau 60 ngày, kể từ ngày cơ quan tiếp nhận hồ sơ có văn bản yêu cầu mà người đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề không bổ sung, sửa đổi hồ sơ thì phải thực hiện lại từ đầu thủ tục đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề.
6. Quản lý chứng chỉ hành nghề:
a) Chứng chỉ hành nghề do Bộ trưởng Bộ Y tế cấp theo Mẫu 01 Phụ lục III, do Giám đốc Sở Y tế cấp theo Mẫu 02 Phụ lục III và Quyết định bổ sung phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề do Bộ trưởng Bộ Y tế, Giám đốc Sở Y tế cấp theo Mẫu 03 Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này. Mã ký hiệu chứng chỉ hành nghề thực hiện theo Mẫu 04 Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này;
b) Cơ quan tiếp nhận hồ sơ tự in chứng chỉ hành nghề để cấp theo mẫu quy định tại điểm a khoản này, bảo đảm tính liên tục của số chứng chỉ hành nghề trong quá trình cấp và mỗi người hành nghề chỉ có một số chứng chỉ hành nghề;
c) Sở Y tế tiếp tục sử dụng phôi chứng chỉ hành nghề do Bộ Y tế cấp đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2016.
Điều 11. Hội đồng tư vấn về cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề
1. Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế thành lập Hội đồng tư vấn về cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề (sau đây gọi tắt là Hội đồng tư vấn) theo quy định tại Khoản 4 Điều 28 Luật khám bệnh, chữa bệnh.
2. Chủ tịch Hội đồng tư vấn có trách nhiệm chỉ đạo việc xây dựng quy chế hoạt động của Hội đồng tư vấn để trình Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế phê duyệt.
Mục 2
ĐĂNG KÝ HÀNH NGHỀ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH
Điều 12. Nguyên tắc đăng ký hành nghề
1. Một người hành nghề chỉ được làm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (trừ người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của trạm y tế cấp xã).
2. Một người hành nghề chỉ được đăng ký làm người phụ trách một khoa của một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (không được đồng thời làm người phụ trách từ hai khoa trở lên trong cùng một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc đồng thời làm người phụ trách khoa của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác).
3. Người hành nghề chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thể kiêm nhiệm phụ trách khoa trong cùng một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng chỉ được phụ trách một khoa và phải phù hợp với văn bằng chuyên môn được đào tạo của người đó.
4. Người hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được đăng ký làm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ngoài giờ.
5. Người hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước không được đăng ký làm người đứng đầu của bệnh viện tư nhân hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp, Luật hợp tác xã, trừ trường hợp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cử tham gia quản lý, điều hành tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có phần vốn của Nhà nước.
6. Người hành nghề đã đăng ký làm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được đăng ký làm việc ngoài giờ tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác trên cùng địa bàn tỉnh nhưng tổng thời gian làm ngoài giờ không quá 200 giờ theo quy định của Bộ luật Lao động.
7. Một người hành nghề được đăng ký hành nghề tại một hoặc nhiều cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng không được đăng ký hành nghề cùng một thời gian tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác nhau.
8. Người hành nghề đã đăng ký hành nghề ở một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh theo chế độ luân phiên cán bộ từ tuyến trên xuống tuyến dưới, khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo hoặc thực hiện kỹ thuật chuyên môn theo hợp đồng giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì không phải đăng ký hành nghề.
Điều 13. Đăng ký hành nghề khám bệnh, chữa bệnh
1. Việc đăng ký hành nghề do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện bằng văn bản theo mẫu quy định tại Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị định này.
2. Nội dung đăng ký hành nghề:
a) Địa điểm hành nghề: ghi rõ tên, địa chỉ của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi đăng ký hành nghề;
b) Thời gian hành nghề: ghi cụ thể thời gian làm việc: giờ trong ngày, ngày trong tuần tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
c) Người hành nghề:
– Danh sách người đăng ký hành nghề tại các khoa, phòng hoặc bộ phận chuyên môn;
– Ghi rõ chức danh mà người hành nghề được phân công đảm nhiệm là người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật hoặc người phụ trách khoa hoặc vị trí chuyên môn của người hành nghề.
Điều 14. Thủ tục đăng ký hành nghề
1. Thời điểm đăng ký hành nghề:
a) Đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đề nghị cấp giấy phép hoạt động thì việc đăng ký hành nghề cho người hành nghề được thực hiện cùng thời điểm cơ sở đề nghị cấp giấy phép hoạt động;
b) Đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được cấp giấy phép hoạt động khi có thay đổi về nhân sự thì trong thời hạn 10 ngày làm việc phải thông báo đến cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Tiếp nhận văn bản đăng ký hành nghề trong trường hợp thay đổi người hành nghề:
a) Bộ Y tế tiếp nhận việc đăng ký hành nghề của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế;
b) Sở Y tế tiếp nhận việc đăng ký hành nghề của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trụ sở đóng trên địa bàn quản lý, trừ các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định tại điểm a khoản này.
3. Trường hợp trong danh sách đăng ký hành nghề của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có người hành nghề đang hành nghề tại một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác thì trong danh sách đăng ký người hành nghề phải ghi rõ thời gian, địa điểm, vị trí chuyên môn của người hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó.
4. Trường hợp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh sa thải người hành nghề hoặc chấm dứt hợp đồng lao động với người hành nghề hoặc người hành nghề có thông báo nghỉ việc, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm gửi danh sách người hành nghề không còn làm việc tại cơ sở của mình đến cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quy định tại Khoản 2 Điều này để quản lý.
Điều 15. Quản lý thông tin đăng ký hành nghề
1. Trong thời gian 10 ngày làm việc kể từ khi nhận được danh sách người hành nghề quy định tại điểm b khoản 2 Điều 14 Nghị định này, Sở Y tế phải gửi danh sách người hành nghề về Bộ Y tế.
2. Trong thời gian 10 ngày làm việc sau khi nhận được danh sách người hành nghề quy định tại điểm a khoản 2 Điều 14 Nghị định này, Bộ Y tế phải gửi danh sách người hành nghề về Sở Y tế nơi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có người đăng ký hành nghề đặt trụ sở.
3. Bộ Y tế đăng tải danh sách đăng ký hành nghề khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý lên cổng thông tin điện tử của Bộ Y tế, Sở Y tế đăng tải danh sách đăng ký hành nghề khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý lên trang thông tin điện tử của Sở Y tế.

Mục 3
THỰC HÀNH ĐỂ CẤP CHỨNG CHỈ HÀNH NGHỀ
Điều 16. Tổ chức việc thực hành
1. Tiếp nhận người thực hành:​
a) Người thực hành phải có Đơn đề nghị thực hành theo Mẫu 01 Phụ lục V ban hành kèm theo Nghị định này và bản sao hợp lệ có chứng thực văn bằng chuyên môn gửi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi cá nhân đăng ký tham gia thực hành;
b) Sau khi nhận được đơn đề nghị thực hành, nếu đồng ý tiếp nhận, người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm ký hợp đồng thực hành với người thực hành theo Mẫu 02 Phụ lục V ban hành kèm theo Nghị định này.
2. Phân công người hướng dẫn thực hành:
Người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ra quyết định phân công người hướng dẫn thực hành theo Mẫu 03 Phụ lục V ban hành kèm theo Nghị định này. Một người hướng dẫn thực hành chỉ được hướng dẫn tối đa là 5 người thực hành trong cùng một thời điểm.
3. Người hướng dẫn thực hành phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Có chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh;
b) Có phạm vi hoạt động chuyên môn phù hợp với văn bằng của người thực hành, trình độ đào tạo tương đương hoặc cao hơn người thực hành và có thời gian hành nghề khám bệnh, chữa bệnh liên tục từ 3 năm trở lên.
4. Trách nhiệm của người hướng dẫn thực hành:
a) Hướng dẫn thực hành khám bệnh, chữa bệnh cho người thực hành;
b) Nhận xét về kết quả thực hành và chịu trách nhiệm về nội dung nhận xét của mình.
5. Cấp giấy xác nhận quá trình thực hành: Sau khi có nhận xét của người hướng dẫn thực hành, người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp Giấy xác nhận quá trình thực hành theo Mẫu 02 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.

Mục 4
TIÊU CHÍ ĐỂ CÔNG NHẬN BIẾT TIẾNG VIỆT THÀNH THẠO
HOẶC SỬ DỤNG THÀNH THẠO NGÔN NGỮ KHÁC HOẶC
ĐỦ TRÌNH ĐỘ PHIÊN DỊCH TRONG KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH
Điều 17. Tiêu chí để công nhận người hành nghề biết tiếng Việt thành thạo hoặc sử dụng thành thạo ngôn ngữ khác trong khám bệnh, chữa bệnh
1. Người hành nghề được công nhận biết tiếng Việt thành thạo trong khám bệnh, chữa bệnh khi được cơ sở giáo dục quy định tại Điều 19 Nghị định này kiểm tra và công nhận thành thạo cả bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết bằng tiếng Việt, trừ các trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều này.
2. Người hành nghề được công nhận sử dụng thành thạo ngôn ngữ khác tiếng Việt mà không phải là tiếng mẹ đẻ của người đó trong khám bệnh, chữa bệnh khi được cơ sở giáo dục quy định tại Điều 19 Nghị định này kiểm tra để công nhận thành thạo cả bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết bằng ngôn ngữ mà người hành nghề đăng ký sử dụng trong khám bệnh, chữa bệnh, trừ các trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều này.
3. Các trường hợp được công nhận sử dụng tiếng Việt thành thạo hoặc sử dụng thành thạo ngôn ngữ khác trong khám bệnh, chữa bệnh mà không phải qua kiểm tra khi có một trong các văn bằng, chứng chỉ sau đây:
a) Có bằng tốt nghiệp trình độ trung cấp chuyên ngành y trở lên do cơ sở đào tạo hợp pháp của Việt Nam hoặc nước ngoài cấp mà toàn bộ chương trình đào tạo được sử dụng bằng tiếng Việt hoặc bằng ngôn ngữ mà người hành nghề đăng ký sử dụng trong khám bệnh, chữa bệnh;
b) Có chứng chỉ đã hoàn thành các khóa đào tạo chuyên ngành y có thời gian từ 12 tháng trở lên mà ngôn ngữ sử dụng trong đào tạo là tiếng Việt hoặc bằng ngôn ngữ mà người hành nghề đăng ký sử dụng trong khám bệnh, chữa bệnh;
c) Có bằng tốt nghiệp trình độ đại học chuyên ngành tiếng Việt hoặc bằng ngôn ngữ mà người hành nghề đăng ký sử dụng trong khám bệnh, chữa bệnh do các cơ sở đào tạo hợp pháp của Việt Nam hoặc nước ngoài cấp.
Các văn bằng, chứng chỉ quy định tại các điểm a, b khoản này, phải được cấp trong thời gian không quá 05 năm tính đến ngày nộp hồ sơ.
Điều 18. Tiêu chí để công nhận người có đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh
1. Người được công nhận đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh khi thành thạo cả bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết bằng tiếng nước ngoài và được cơ sở giáo dục quy định tại Điều 19 Nghị định này kiểm tra để công nhận đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh, trừ các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều này.
2. Các trường hợp được công nhận mà không phải qua kiểm tra khi có một trong các văn bằng, chứng chỉ sau đây:
a) Có bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên ngành y trở lên do cơ sở đào tạo hợp pháp của Việt Nam hoặc nước ngoài cấp mà toàn bộ chương trình đào tạo được sử dụng bằng ngôn ngữ nước ngoài mà người phiên dịch đăng ký làm phiên dịch;
b) Có chứng chỉ đã hoàn thành các khóa đào tạo chuyên ngành y có thời gian từ 12 tháng trở lên mà ngôn ngữ sử dụng trong đào tạo là ngôn ngữ nước ngoài mà người phiên dịch đăng ký làm phiên dịch;
c) Có bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên ngành y trở lên hoặc lương y và bằng tốt nghiệp đại học ngoại ngữ phù hợp với ngôn ngữ mà người phiên dịch đăng ký làm phiên dịch.
Các văn bằng, chứng chỉ quy định tại các điểm a và b khoản 2 Điều này phải được cấp trong thời gian không quá 05 năm tính đến ngày nộp hồ sơ.
3. Một người phiên dịch chỉ được phép làm người phiên dịch cho một người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh tại một thời điểm.
Điều 19. Điều kiện đối với cơ sở giáo dục được kiểm tra và công nhận biết tiếng Việt thành thạo hoặc sử dụng thành thạo ngôn ngữ khác hoặc đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh
Cơ sở giáo dục được kiểm tra để công nhận và công nhận biết tiếng Việt thành thạo hoặc sử dụng thành thạo ngôn ngữ khác hoặc đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh khi có đủ các điều kiện sau đây:
1. Là trường đại học chuyên ngành y của Việt Nam.
2. Có khoa hoặc bộ môn ngoại ngữ.
3. Có ngân hàng đề thi để kiểm tra và công nhận biết tiếng Việt thành thạo hoặc sử dụng thành thạo ngôn ngữ khác hoặc đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh.
Điều 20. Hồ sơ, thủ tục cấp giấy công nhận cơ sở giáo dục đủ điều kiện kiểm tra để công nhận và công nhận biết tiếng Việt thành thạo hoặc sử dụng thành thạo ngôn ngữ khác hoặc đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh
1. Hồ sơ:
a) Bản sao hợp lệ các giấy tờ chứng minh việc thành lập và hoạt động của cơ sở giáo dục;
b) Giấy tờ chứng minh có khoa hoặc bộ môn ngoại ngữ;
c) Danh sách giảng viên làm việc toàn thời gian của khoa hoặc bộ môn ngoại ngữ;
d) Ngân hàng đề thi được sử dụng để kiểm tra, công nhận biết tiếng Việt thành thạo hoặc sử dụng thành thạo ngôn ngữ khác hoặc đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh bằng một trong các ngôn ngữ sau đây: Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc.
2. Thủ tục:
a) Cơ sở giáo dục lập hồ sơ đề nghị công nhận đủ điều kiện kiểm tra để công nhận và công nhận biết tiếng Việt thành thạo hoặc sử dụng thành thạo ngôn ngữ khác hoặc đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh (sau đây gọi tắt là kiểm tra ngôn ngữ) theo quy định tại Khoản 1 Điều này và gửi về Bộ Y tế;
b) Khi nhận được hồ sơ, Bộ Y tế gửi cho Cơ sở giáo dục Phiếu tiếp nhận hồ sơ theo Mẫu 01 Phụ lục VI ban hành kèm theo Nghị định này;
c) Trong thời gian 20 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, nếu hồ sơ hợp lệ, Bộ Y tế phải cấp Giấy công nhận đủ điều kiện kiểm tra ngôn ngữ trong khám bệnh, chữa bệnh cho cơ sở giáo dục theo Mẫu 02 Phụ lục VI ban hành kèm theo Nghị định này. Trường hợp từ chối phải nêu rõ lý do;
d) Trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ thì trong thời gian 5 ngày làm việc, kể từ ngày ghi trên Phiếu tiếp nhận hồ sơ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ phải có văn bản thông báo cho cơ sở giáo dục để hoàn chỉnh hồ sơ. Văn bản thông báo phải nêu cụ thể là bổ sung những tài liệu nào, nội dung nào cần sửa đổi;
đ) Sau thời hạn 20 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung, sửa đổi, nếu cơ quan tiếp nhận hồ sơ không có văn bản yêu cầu sửa đổi, bổ sung thì phải cấp Giấy công nhận đủ điều kiện kiểm tra ngôn ngữ cho cơ sở giáo dục theo Mẫu 02 Phụ lục VI ban hành kèm theo Nghị định này; nếu không cấp Giấy công nhận đủ điều kiện thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.
Điều 21. Hồ sơ, thủ tục đề nghị kiểm tra để công nhận hoặc công nhận biết tiếng Việt thành thạo hoặc sử dụng thành thạo ngôn ngữ khác hoặc đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh
1. Hồ sơ đề nghị kiểm tra để công nhận thành thạo ngôn ngữ trong khám bệnh, chữa bệnh bao gồm:
a) Đơn đề nghị theo Mẫu 01 Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị định này;
b) Bản sao hợp lệ giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu còn hạn sử dụng;
c) Hai ảnh màu 04cm x 06cm được chụp trên nền trắng trong thời gian không quá 06 tháng tính đến ngày nộp đơn.
2. Hồ sơ đề nghị công nhận biết tiếng Việt thành thạo hoặc sử dụng thành thạo ngôn ngữ khác hoặc đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh bao gồm:
a) Đơn đề nghị công nhận biết thành thạo tiếng Việt hoặc ngôn ngữ khác hoặc đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh quy định tại Mẫu 02 Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị định này;
b) Các giấy tờ quy định tại các điểm b và c khoản 1 Điều này;
c) Bản sao hợp lệ văn bằng, chứng chỉ quy định tại Khoản 3 Điều 17 Nghị định này đối với trường hợp đề nghị công nhận biết tiếng Việt thành thạo hoặc thành thạo ngôn ngữ khác để khám bệnh, chữa bệnh; Khoản 2 Điều 18 Nghị định này đối với người đề nghị công nhận có đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh.
3. Thủ tục đề nghị kiểm tra để công nhận hoặc đề nghị công nhận:
a) Hồ sơ quy định tại Khoản 1 hoặc Khoản 2 Điều này được gửi tới cơ sở giáo dục quy định tại Điều 19 Nghị định này;
b) Sau khi nhận được hồ sơ, cơ sở giáo dục có trách nhiệm:
– Kiểm tra và cấp giấy chứng nhận theo Mẫu 03 Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị định này đối với các trường hợp quy định tại các khoản 1 và 2 Điều 17, Khoản 1 Điều 18 trong thời gian 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Kết quả kiểm tra phải được niêm yết công khai;
– Cấp giấy chứng nhận đối với các trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 17, Khoản 2 Điều 18 trong thời gian 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trường hợp không cấp giấy chứng nhận phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.

Chương III
ĐIỀU KIỆN, HỒ SƠ, THỦ TỤC CẤP, CẤP LẠI, ĐIỀU CHỈNH
GIẤY PHÉP HOẠT ĐỘNG ĐỐI VỚI CƠ SỞ
KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH

Mục 1
ĐIỀU KIỆN CẤP GIẤY PHÉP HOẠT ĐỘNG ĐỐI VỚI CÁC
HÌNH THỨC TỔ CHỨC CỦA CƠ SỞ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH
Điều 22. Hình thức tổ chức của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải được thành lập theo quy định của pháp luật và theo một trong các hình thức tổ chức sau đây:
1. Bệnh viện.
2. Bệnh xá thuộc Công an nhân dân.
3. Phòng khám đa khoa.
4. Phòng khám chuyên khoa, bao gồm:
a) Phòng khám nội tổng hợp;
b) Phòng khám chuyên khoa thuộc hệ nội (tim mạch, hô hấp, tiêu hóa, nhi và chuyên khoa khác thuộc hệ nội);
c) Phòng khám tư vấn sức khỏe hoặc phòng tư vấn sức khỏe qua các phương tiện công nghệ thông tin, viễn thông;
d) Phòng khám chuyên khoa ngoại;
đ) Phòng khám chuyên khoa phụ sản;
e) Phòng khám chuyên khoa nam học;
g) Phòng khám chuyên khoa răng – hàm – mặt;
h) Phòng khám chuyên khoa tai – mũi – họng;
i) Phòng khám chuyên khoa mắt;
k) Phòng khám chuyên khoa thẩm mỹ;
l) Phòng khám chuyên khoa phục hồi chức năng;
m) Phòng khám chuyên khoa tâm thần;
n) Phòng khám chuyên khoa ung bướu;
o) Phòng khám chuyên khoa da liễu;
p) Phòng khám chuyên khoa dinh dưỡng;
q) Phòng khám hỗ trợ điều trị cai nghiện ma túy;
r) Phòng khám, điều trị HIV/AIDS;
s) Phòng khám chuyên khoa khác.
5. Phòng chẩn trị y học cổ truyền.
6. Phòng khám bác sỹ gia đình: Thực hiện theo quy định của Bộ Y tế.
7. Phòng xét nghiệm.
8. Phòng khám chẩn đoán hình ảnh, Phòng X-Quang.
9. Cơ sở giám định y khoa, cơ sở giám định pháp y, cơ sở giám định pháp y tâm thần có thực hiện khám bệnh, chữa bệnh thì phải tổ chức theo một trong các hình thức tổ chức cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định tại các khoản 1, 3 và điểm m khoản 4 Điều này và đáp ứng điều kiện quy định tương ứng với hình thức tổ chức đó.
10. Nhà hộ sinh.
11. Phòng khám, tư vấn và điều trị dự phòng.
12. Phòng khám, điều trị bệnh nghề nghiệp.
13. Cơ sở dịch vụ y tế bao gồm:
a) Cơ sở dịch vụ tiêm (chích), thay băng, đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp;
b) Cơ sở dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tại nhà;
c) Cơ sở dịch vụ cấp cứu, hỗ trợ vận chuyển người bệnh trong nước và ra nước ngoài;
d) Cơ sở dịch vụ kính thuốc;
đ) Cơ sở dịch vụ làm răng giả;
e) Cơ sở dịch vụ thẩm mỹ;
g) Cơ sở dịch vụ xoa bóp;
h) Cơ sở dịch vụ y tế khác.
14. Trạm y tế cấp xã, trạm xá.
15. Cơ sở y tế cơ quan, đơn vị, tổ chức có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải thực hiện theo một trong các hình thức tổ chức quy định tại các khoản 3 và 4 Điều này.
16. Trung tâm y tế huyện có chức năng khám bệnh, chữa bệnh tại các huyện chưa có bệnh viện huyện thì cấp giấy phép hoạt động theo hình thức tổ chức tương đương với bệnh viện đa khoa.
Điều 23. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với bệnh viện
1. Quy mô bệnh viện:
a) Bệnh viện đa khoa phải có ít nhất 30 giường bệnh;
b) Bệnh viện chuyên khoa, bệnh viện y học cổ truyền phải có ít nhất 20 giường bệnh; riêng đối với bệnh viện chuyên khoa mắt sử dụng kỹ thuật cao phải có ít nhất 10 giường bệnh.
2. Cơ sở vật chất:
a) Tùy theo quy mô bệnh viện đa khoa hoặc chuyên khoa, bệnh viện phải được thiết kế, xây dựng theo hình thức nhà hợp khối, cao tầng và phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
– Bố trí các khoa, phòng, hành lang bảo đảm hoạt động chuyên môn theo mô hình tập trung, liên hoàn, khép kín trong phạm vi khuôn viên của bệnh viện; bảo đảm điều kiện vô trùng và các điều kiện vệ sinh môi trường theo quy định của pháp luật;
– Đối với bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa bảo đảm diện tích sàn xây dựng ít nhất là 50m2/giường bệnh trở lên; chiều rộng mặt trước (mặt tiền) bệnh viện phải đạt ít nhất 10m.
b) Bảo đảm các điều kiện về an toàn bức xạ, xử lý chất thải y tế, phòng cháy chữa cháy theo quy định của pháp luật;
c) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
3. Thiết bị y tế:
a) Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn của bệnh viện;
b) Có đủ phương tiện vận chuyển cấp cứu trong và ngoài bệnh viện. Trường hợp không có phương tiện cấp cứu ngoài bệnh viện, phải có hợp đồng với cơ sở có phương tiện cấp cứu ngoài bệnh viện hợp pháp.
4. Tổ chức:
a) Các khoa:
– Có ít nhất 02 trong 04 khoa nội, ngoại, sản, nhi đối với bệnh viện đa khoa hoặc một khoa lâm sàng phù hợp đối với bệnh viện chuyên khoa;
– Khoa khám bệnh: Có nơi tiếp đón người bệnh, phòng cấp cứu,lưu bệnh, phòng khám, phòng tiểu phẫu (nếu cần);
– Khoa cận lâm sàng: Có ít nhất một phòng xét nghiệm và một phòng chẩn đoán hình ảnh. Riêng đối với bệnh viện chuyên khoa mắt nếu không có bộ phận chẩn đoán hình ảnh thì phải có hợp đồng hỗ trợ chuyên môn với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được cấp giấy phép hoạt động có bộ phận chẩn đoán hình ảnh;
– Khoa dược;
– Các khoa, phòng chuyên môn khác trong bệnh viện phải phù hợp với quy mô, chức năng nhiệm vụ.
b) Có các phòng chức năng về kế hoạch tổng hợp, tổ chức nhân sự, quản lý chất lượng, điều dưỡng, tài chính kế toán.
5. Nhân sự:
a) Số lượng nhân viên hành nghề làm việc toàn thời gian (cơ hữu) trong từng khoa phải đạt tỷ lệ ít nhất là 50% trên tổng số nhân viên hành nghề trong khoa;
b) Số lượng người làm việc, cơ cấu chức danh nghề nghiệp thực hiện theo quy định của Bộ Y tế;
c) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của bệnh viện phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
– Là bác sỹ có chứng chỉ hành nghề phù hợp với ít nhất một trong các chuyên khoa mà bệnh viện đăng ký hoạt động;
– Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 54 tháng. Việc phân công, bổ nhiệm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của bệnh viện phải được thể hiện bằng văn bản;
– Là người làm việc toàn thời gian tại bệnh viện.
d) Trưởng khoa lâm sàng phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
– Là bác sỹ có chứng chỉ hành nghề phù hợp với chuyên khoa đó;
– Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh về chuyên khoa đó ít nhất là 54 tháng. Việc phân công, bổ nhiệm trưởng khoa phải được thể hiện bằng văn bản;
– Là người làm việc toàn thời gian tại bệnh viện.
đ) Trưởng các khoa cận lâm sàng (xét nghiệm, vi sinh, giải phẫu bệnh):
– Là bác sỹ hoặc kỹ thuật viên có trình độ đại học trở lên chuyên ngành xét nghiệm hoặc vi sinh hoặc giải phẫu bệnh có chứng chỉ hành nghề với phạm vi hoạt động chuyên môn phù hợp, tương ứng với từng khoa hoặc cử nhân hóa học, sinh học, dược sĩ trình độ đại học đối với người đã được tuyển dụng làm chuyên ngành xét nghiệm trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 được cấp chứng chỉ hành nghề chuyên khoa xét nghiệm đối với khoa xét nghiệm.
– Có thời gian làm việc xét nghiệm ít nhất là 54 tháng kể cả thời gian học sau đại học về chuyên khoa xét nghiệm, vi sinh, giải phẫu bệnh kể từ ngày bắt đầu thực hiện công việc xét nghiệm, vi sinh, giải phẫu bệnh (xác định từ thời điểm ký kết hợp đồng lao động hoặc có quyết định tuyển dụng) đến ngày được phân công, bổ nhiệm làm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của khoa xét nghiệm, vi sinh, giải phẫu bệnh.
– Là người làm việc toàn thời gian tại bệnh viện.
e) Trưởng khoa chẩn đoán hình ảnh, khoa X-quang:
– Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của khoa chẩn đoán hình ảnh phải là bác sỹ có chứng chỉ hành nghề chuyên khoa chẩn đoán hình ảnh và có thời gian trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh về chẩn đoán hình ảnh ít nhất là 54 tháng;
– Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của khoa X-Quang phải có trình độ cử nhân X-Quang (trình độ đại học) trở lên, có chứng chỉ hành nghề và có thời gian trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh về X-Quang ít nhất là 54 tháng. Cử nhân X-Quang (trình độ đại học) được đọc và mô tả hình ảnh chẩn đoán nhưng
không được kết luận chẩn đoán.
Trường hợp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không có bác sỹ chuyên khoa chẩn đoán hình ảnh hoặc bác sỹ X-Quang thì bác sỹ chỉ định kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh sẽ kết luận chẩn đoán.
g) Trưởng khoa khác không thuộc đối tượng cấp chứng chỉ hành nghề phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
Tốt nghiệp đại học và có thời gian làm việc về chuyên khoa đó ít nhất là 36 tháng kể từ ngày được cấp bằng tốt nghiệp đại học đến ngày được phân công, bổ nhiệm làm trưởng khoa. Việc phân công, bổ nhiệm trưởng khoa phải được thể hiện bằng văn bản;
– Là người làm việc toàn thời gian tại bệnh viện.
h) Trưởng khoa dược là người làm việc toàn thời gian tại bệnh viện và phải đáp ứng quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định tổ chức và hoạt động của khoa Dược bệnh viện;
i) Ngoài các đối tượng quy định tại các điểm c, d, đ, e, g và h khoản này, các đối tượng khác làm việc trong bệnh viện nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề và chỉ được thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi công việc được phân công. Việc phân công phải được thể hiện bằng văn bản và phải phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề. Những đối tượng khác có đủ điều kiện nhưng không thuộc đối tượng cấp chứng chỉ hành nghề, được thực hiện công việc trong phạm vi được phân công, việc phân công phải được thể hiện bằng văn bản và phải phù hợp với bằng cấp của người đó;
k) Có người phụ trách an toàn bức xạ (nếu cơ sở có sử dụng thiết bị bức xạ, nguồn phóng xạ, thuốc phóng xạ sử dụng trong y tế và thiết bị sử dụng trong y học hạt nhân).
Điều 24. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với bệnh xá thuộc Công an nhân dân
1. Quy mô
Bệnh xá phải có ít nhất 10 giường bệnh trở lên.
2. Cơ sở vật chất
a) Có nơi tiếp đón người bệnh, phòng khám, phòng cấp cứu, phòng người bệnh, bộ phận xét nghiệm có diện tích đủ để triển khai các phương tiện, dụng cụ phục vụ cho công tác khám bệnh, chữa bệnh;
b) Bảo đảm các điều kiện về an toàn bức xạ, quản lý chất thải y tế, phòng cháy, chữa cháy theo quy định của pháp luật;
c) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ cho chăm sóc người bệnh.
3. Thiết bị y tế
Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà bệnh xá đăng ký.
4. Tổ chức: Có ít nhất 02 chuyên khoa nội, ngoại, bao gồm phòng cấp cứu; phòng người bệnh; bộ phận cận lâm sàng.
5. Nhân sự:
a) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của bệnh xá phải là bác sỹ có chứng chỉ hành nghề phù hợp với một trong những chuyên khoa mà bệnh xá đăng ký hoạt động và có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 54 tháng tại chuyên khoa đó;
b) Ngoài người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của bệnh xá, các đối tượng khác làm việc trong bệnh xá nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề và chỉ được thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi công việc được phân công. Việc phân công phải phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó.
Điều 25. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với phòng khám đa khoa
1. Quy mô phòng khám đa khoa:
a) Phòng khám đa khoa phải đáp ứng ít nhất các điều kiện sau đây:
– Có ít nhất 02 trong 04 chuyên khoa nội, ngoại, sản, nhi.
– Phòng cấp cứu.
– Phòng tiểu phẫu (nếu có thực hiện tiểu phẫu).
– Phòng lưu người bệnh.
– Cận lâm sàng: Có bộ phận xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh.
b) Trường hợp phòng khám đa khoa có đủ điều kiện cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh quy định tại khoản 13 Điều 22 Nghị định này thì được bổ sung vào quy mô của phòng khám đa khoa.
2. Cơ sở vật chất:
a) Địa điểm cố định, tách biệt với nơi sinh hoạt gia đình;
– Bảo đảm đủ ánh sáng, có trần chống bụi, tường và nền nhà phải sử dụng các chất liệu dễ tẩy rửa làm vệ sinh.
b) Có nơi tiếp đón, phòng cấp cứu, phòng lưu người bệnh, phòng khám chuyên khoa và phòng tiểu phẫu (nếu cần). Các phòng khám trong phòng khám đa khoa phải đáp ứng các yêu cầu ít nhất về diện tích như sau đây:
– Phòng cấp cứu có diện tích ít nhất là 12m2;
– Phòng lưu người bệnh có diện tích ít nhất là 15m2; có ít nhất từ 02 giường lưu trở lên, nếu có từ 03 giường lưu trở lên thì diện tích phải bảo đảm ít nhất là 05m2 trên một giường bệnh;
– Các phòng khám chuyên khoa và buồng tiểu phẫu có diện tích ít nhất là 10m2.
c) Bảo đảm các điều kiện về an toàn bức xạ, xử lý chất thải y tế, phòng cháy chữa cháy theo quy định của pháp luật;
d) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
3. Thiết bị y tế:
a) Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà phòng khám đa khoa đăng ký;
b) Có hộp thuốc chống sốc và đủ thuốc cấp cứu chuyên khoa.
4. Nhân sự:
a) Số lượng bác sỹ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh làm việc toàn thời gian phải đạt tỷ lệ ít nhất là 50% trên tổng số bác sỹ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh của phòng khám đa khoa;
b) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám đa khoa phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
– Là bác sỹ có chứng chỉ hành nghề phù hợp với ít nhất một trong các chuyên khoa mà phòng khám đa khoa đăng ký;
– Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 54 tháng. Việc phân công, bổ nhiệm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám đa khoa phải được thể hiện bằng văn bản;
– Là người làm việc toàn thời gian tại phòng khám đa khoa;
c) Số lượng người làm việc, cơ cấu, chức danh nghề nghiệp của phòng khám đa khoa thực hiện theo quy định của Bộ Y tế.
Ngoài người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám đa khoa, các đối tượng khác làm việc trong phòng khám đa khoa nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề, việc phân công phải phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó.
Đối với các đối tượng khác có đủ điều kiện nhưng không thuộc đối tượng cấp chứng chỉ hành nghề, được thực hiện trong phạm vi công việc được phân công, việc phân công phải được thể hiện bằng văn bản và phải phù hợp với văn bằng chuyên môn của người đó.
Điều 26. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với phòng khám chuyên khoa
1. Cơ sở vật chất:
a) Đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 25 Nghị định này;
b) Phòng khám chuyên khoa phải có buồng khám bệnh, chữa bệnh có diện tích ít nhất là 10m2 và nơi đón tiếp người bệnh (trừ Phòng khám tư vấn sức khỏe hoặc phòng tư vấn sức khỏe qua các phương tiện công nghệ thông tin, viễn thông). Riêng đối với phòng khám chuyên khoa ngoại, phòng khám chuyên khoa thẩm mỹ phải có thêm buồng lưu người bệnh có diện tích ít nhất là 12m2; phòng khám phục hồi chức năng phải có thêm buồng phục hồi chức năng có diện tích ít nhất là 10m2;
c) Ngoài quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều này, tùy theo phạm vi hoạt động chuyên môn đăng ký, phòng khám phải đáp ứng thêm các điều kiện sau đây:
– Trường hợp có thực hiện thủ thuật, bao gồm cả kỹ thuật cấy ghép răng (implant) thì phòng thủ thuật có diện tích ít nhất là 10m2;
– Trường hợp có thực hiện thăm dò chức năng thì buồng thăm dò chức năng có diện tích ít nhất là 10m2;
– Trường hợp có thực hiện việc khám phụ khoa hoặc khám các bệnh lây truyền qua đường tình dục thì phòng khám phụ khoa có diện tích ít nhất là 10m2;
– Trường hợp có thực hiện kỹ thuật kế hoạch hóa gia đình thì phòng thực hiện kỹ thuật kế hoạch hóa gia đình có diện tích ít nhất là 10m2;
– Trường hợp có thực hiện bó bột thì phòng bó bột có diện tích ít nhất là 10m2;
– Trường hợp có thực hiện vận động trị liệu thì phòng vận động trị liệu có diện tích ít nhất là 20m2;
– Trường hợp phòng khám chuyên khoa răng hàm mặt hơn 01 ghế răng thì phải bảo đảm diện tích cho mỗi ghế răng ít nhất là 5m2;
– Trường hợp phòng khám chuyên khoa sử dụng thiết bị bức xạ (bao gồm cả thiết bị X-quang chụp răng gắn liền với ghế răng) phải đáp ứng các quy định của pháp luật về an toàn bức xạ;
– Phải bố trí khu vực thanh tiệt trùng riêng biệt để xử lý dụng cụ y tế sử dụng lại.
d) Bảo đảm các điều kiện về an toàn bức xạ, xử lý chất thải y tế, phòng cháy chữa cháy theo quy định của pháp luật; bảo đảm vô trùng đối với buồng thực hiện thủ thuật, buồng kế hoạch hóa gia đình;
đ) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
2. Thiết bị y tế:
a) Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở đăng ký;
b) Có hộp thuốc chống sốc và đủ thuốc cấp cứu chuyên khoa;
c) Phòng khám tư vấn sức khỏe hoặc phòng tư vấn sức khỏe qua các phương tiện công nghệ thông tin, viễn thông không phải có thiết bị, dụng cụ y tế quy định tại điểm a và b khoản này nhưng phải có đủ các phương tiện công nghệ thông tin, viễn thông, thiết bị phù hợp với phạm vi hoạt động đăng ký.
3. Nhân sự:
a) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám chuyên khoa phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
– Là bác sỹ có chứng chỉ hành nghề phù hợp với chuyên khoa mà phòng khám đăng ký.
– Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 54 tháng về chuyên khoa đó.
Ngoài ra, riêng đối với các phòng khám chuyên khoa dưới đây, người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật phải đáp ứng các điều kiện như sau:
+ Phòng khám chuyên khoa Phục hồi chức năng: là bác sĩ có chứng chỉ hành nghề về chuyên khoa vật lý trị liệu – phục hồi chức năng hoặc phục hồi chức năng;
+ Phòng khám, điều trị hỗ trợ cai nghiện ma túy: là bác sĩ chuyên khoa tâm thần hoặc bác sĩ đa khoa có chứng chỉ đào tạo về chuyên khoa tâm thần;
+ Phòng khám, điều trị HIV/AIDS: là bác sĩ chuyên khoa truyền nhiễm hoặc bác sĩ đa khoa có chứng nhận đã đào tạo, tập huấn về điều trị HIV/AIDS;
+ Phòng khám dinh dưỡng: là bác sĩ chuyên khoa dinh dưỡng hoặc bác sĩ đa khoa có chứng chỉ đào tạo về chuyên khoa dinh dưỡng;
+ Phòng khám chuyên khoa thẩm mỹ: là bác sĩ chuyên khoa phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ hoặc chuyên khoa phẫu thuật thẩm mỹ.
+ Phòng khám chuyên khoa nam học: là bác sĩ chuyên khoa nam học hoặc bác sĩ đa khoa có chứng chỉ đào tạo về chuyên khoa nam học.
b) Ngoài người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám chuyên khoa, các đối tượng khác làm việc trong phòng khám chuyên khoa nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề và được phân công công việc phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó.
Điều 27. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với phòng chẩn trị y học cổ truyền
1. Cơ sở vật chất:
a) Đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 25 Nghị định này;
b) Buồng chẩn trị có diện tích ít nhất là 10m2 và có nơi đón tiếp người bệnh;
c) Tùy theo phạm vi hoạt động chuyên môn đăng ký, phòng chẩn trị y học cổ truyền phải đáp ứng thêm các điều kiện sau đây:
– Trường hợp có châm cứu, xoa bóp day ấn huyệt thì phải có buồng hoặc bố trí nơi kê giường châm cứu, xoa bóp day ấn huyệt với diện tích ít nhất là 05m2 một giường bệnh;
– Trường hợp có xông hơi thuốc thì phải có buồng xông hơi. Diện tích ít nhất là 02m2 đối với một buồng xông hơi, buồng phải kín nhưng đủ ánh sáng;
d) Bảo đảm các điều kiện về an toàn bức xạ (nếu sử dụng các thiết bị bức xạ), xử lý chất thải y tế, phòng cháy chữa cháy theo quy định của pháp luật;
đ) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
2. Thiết bị y tế:
a) Nếu thực hiện việc khám bệnh, kê đơn, bốc thuốc:
– Có tủ thuốc, các vị thuốc được đựng trong ô kéo hoặc trong chai lọ thủy tinh hoặc nhựa trắng có nắp và ghi rõ tên vị thuốc ở bên ngoài;
– Có cân thuốc và phân chia các vị thuốc theo thang, giấy gói thuốc (không dùng giấy báo, giấy có chữ).
b) Trường hợp thực hiện việc châm, cứu, xoa bóp day ấn huyệt phải có ít nhất các thiết bị sau:
– Có giường châm, cứu, xoa bóp day ấn huyệt;
– Có đủ dụng cụ để châm, cứu, xoa bóp day ấn huyệt, đèn hồng ngoại;
– Có đủ dụng cụ và hướng dẫn xử lý vượng châm.
c) Trường hợp thực hiện xông hơi thuốc: phải có phòng xông hơi, có hệ thống tạo hơi thuốc, van điều chỉnh, có bảng hướng dẫn xông hơi và hệ thống chuông báo trong trường hợp khẩn cấp.
3. Nhân sự:
a) Người làm việc tại cơ sở nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề và được phân công công việc phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó;
b) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng chẩn trị y học cổ truyền phải là bác sỹ chuyên khoa y học cổ truyền hoặc y sỹ chuyên khoa y học cổ truyền hoặc là người có giấy chứng nhận là lương y do Bộ Y tế hoặc Sở Y tế cấp hoặc người có bài thuốc gia truyền hoặc có phương pháp chữa bệnh gia truyền và phải có chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh y học cổ truyền;
– Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ truyền ít nhất là 54 tháng đối với bác sỹ chuyên khoa y học cổ truyền;
– Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ truyền ít nhất là 48 tháng đối với y sỹ chuyên khoa y học cổ truyền;
– Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ truyền ít nhất là 36 tháng đối với lương y hoặc người có bài thuốc gia truyền hoặc người có phương pháp chữa bệnh gia truyền.
Điều 28. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với phòng xét nghiệm
1. Cơ sở vật chất:
a) Đáp ứng các điều kiện theo quy định tại các điểm a, d và đ khoản 1 Điều 26 Nghị định này;
b) Tùy theo phạm vi hoạt động chuyên môn đăng ký, phòng xét nghiệm phải đáp ứng thêm các điều kiện sau đây:
– Trường hợp thực hiện một trong các xét nghiệm huyết học hoặc hóa sinh hoặc di truyền y học thì phòng xét nghiệm có diện tích ít nhất là 10m2;
– Trường hợp thực hiện hai trong các xét nghiệm huyết học, hóa sinh, di truyền y học thì phòng xét nghiệm có diện tích ít nhất là 15m2;
– Trường hợp thực hiện cả 03 xét nghiệm huyết học, hóa sinh, di truyền y học thì phòng xét nghiệm có diện tích ít nhất là 20m2;
– Trường hợp thực hiện giải phẫu bện và tế bào học thì phòng xét nghiệm phải có diện tích tối thiểu là 20m2 và phải riêng biệt với các phòng xét nghiệm khác;
– Trường hợp thực hiện xét nghiệm vi sinh thì phòng xét nghiệm phải có diện tích ít nhất là 20m2 và phải riêng biệt với các phòng xét nghiệm khác;
– Bề mặt tường của phòng xét nghiệm phải sử dụng vật liệu không thấm nước sát đến trần nhà;
– Bề mặt sàn của phòng xét nghiệm phải sử dụng vật liệu không thấm nước, bề mặt phẳng, không đọng nước;
– Bàn xét nghiệm phải sử dụng vật liệu không thấm nước, chống ăn mòn, có hệ thống chậu rửa, vòi nước sạch lắp ngay tại bàn.
– Có nơi chờ lấy bệnh phẩm, nơi nhận bệnh phẩm, nơi vệ sinh dụng cụ.
b) Đối với phòng xét nghiệm có thực hiện xét nghiệm vi sinh vật có nguy cơ gây bệnh truyền nhiễm cho người thì ngoài việc đáp ứng các điều kiện quy định của pháp luật về bảo đảm an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm;
c) Đối với phòng xét nghiệm HIV phải thực hiện đúng quy định của pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS;
d) Bảo đảm xử lý chất thải y tế, phòng cháy chữa cháy theo quy định của pháp luật;
đ) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
2. Thiết bị y tế:
Có đủ thiết bị xét nghiệm, dụng cụ y tế để thực hiện được phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở đăng ký trong đó ít nhất phải có đủ trang thiết bị để thực hiện được 01 trong 06 loại xét nghiệm vi sinh, hóa sinh, huyết học, miễn dịch, giải phẫu bệnh, di truyền y học.
3. Nhân sự:
a) Người làm việc tại cơ sở nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề và được phân công công việc phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó.
b) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng xét nghiệm phải đáp ứng các điều kiện như sau:
– Là bác sỹ hoặc kỹ thuật viên chuyên ngành xét nghiệm trình độ đại học trở lên có chứng chỉ hành nghề chuyên khoa xét nghiệm; hoặc cử nhân hóa học, sinh học, dược sĩ trình độ đại học đối với người đã được tuyển dụng làm chuyên ngành xét nghiệm trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 và được cấp chứng chỉ hành nghề chuyên khoa xét nghiệm.
– Có thời gian làm việc xét nghiệm ít nhất là 54 tháng kể cả thời gian học sau đại học về chuyên khoa xét nghiệm kể từ ngày bắt đầu thực hiện công việc xét nghiệm (xác định từ thời điểm ký kết hợp đồng lao động hoặc có quyết định tuyển dụng) đến ngày được phân công, bổ nhiệm làm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng xét nghiệm.
Điều 29. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với phòng khám chẩn đoán hình ảnh, phòng X-Quang
1. Cơ sở vật chất:
a) Đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 25 Nghị định này;
– Phòng X quang, chụp cắt lớp vi tính (CT scanner), cộng hưởng từ (MRI) phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật về an toàn bức xạ;
– Phòng siêu âm, phòng nội soi chẩn đoán được thiết kế độc lập, mỗi phòng có diện tích ít nhất là 10m2; riêng đối với nội soi tiêu hóa nếu thực hiện cả hai kỹ thuật nội soi tiêu hóa trên và nội soi tiêu hóa dưới thì phải có 02 buồng riêng biệt.
b) Bảo đảm các điều kiện về an toàn bức xạ, xử lý chất thải y tế, chất thải nguy hại (nếu có), phòng cháy chữa cháy theo quy định của pháp luật;
c) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
2. Thiết bị y tế:
a) Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở đăng ký;
b) Có thiết bị phòng hộ cá nhân theo quy định của pháp luật về an toàn bức xạ.
3. Nhân sự:
a) Người làm việc tại cơ sở nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề và được phân công công việc phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó.
b) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám chẩn đoán hình ảnh phải là bác sỹ có chứng chỉ hành nghề chuyên khoa chẩn đoán hình ảnh và có thời gian trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh về chuyên khoa chẩn đoán hình ảnh ít nhất là 54 tháng;
c) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng X-Quang phải là cử nhân X-Quang trình độ đại học trở lên, có chứng chỉ hành nghề và có thời gian trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh về X-Quang ít nhất là 54 tháng. Cử nhân X-Quang (trình độ đại học) được đọc và mô tả hình ảnh chẩn đoán nhưng không được kết luận chẩn đoán.
Trường hợp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không có bác sỹ chuyên khoa chẩn đoán hình ảnh hoặc bác sỹ X-Quang thì bác sỹ chỉ định kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh sẽ kết luận chẩn đoán.
Điều 30. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với nhà hộ sinh
1. Cơ sở vật chất:
a) Đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 25 Nghị định này;
– Các phòng chức năng phải được thiết kế liên hoàn, hợp lý để thuận tiện cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh.
b) Nhà hộ sinh phải có các buồng khám thai, khám phụ khoa, kỹ thuật kế hoạch hóa gia đình, mỗi buồng có diện tích ít nhất là 10m2; buồng đẻ có diện tích ít nhất là 16m2, phải bố trí góc sơ sinh; phòng nằm của sản phụ có diện tích ít nhất là 20m2; Trường hợp phòng nằm của sản phụ có từ 2 giường bệnh trở lên thì phải bảo đảm diện tích ít nhất cho một giường bệnh là 5m2;
c) Bảo đảm các điều kiện về an toàn bức xạ (nếu có sử dụng các thiết bị bức xạ), xử lý chất thải y tế, phòng cháy chữa cháy theo quy định của pháp luật;
d) Bảo đảm có đủ điện, nước, thông tin liên lạc và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
2. Thiết bị y tế:
a) Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà nhà hộ sinh đăng ký;
b) Có phương tiện vận chuyển cấp cứu trong và ngoài nhà hộ sinh. Trường hợp không có phương tiện vận chuyển cấp cứu ngoài nhà hộ sinh thì phải có hợp đồng hỗ trợ với cơ sở có phương tiện vận chuyển cấp cứu hợp pháp.
c) Có hộp thuốc chống sốc và đủ thuốc cấp cứu chuyên khoa.
3. Tổ chức, nhân sự:
a) Người làm việc tại nhà hộ sinh nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề và được phân công công việc phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó.
b) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của nhà hộ sinh phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
– Là bác sỹ chuyên khoa sản phụ khoa hoặc hộ sinh viên tốt nghiệp đại học có chứng chỉ hành nghề;
– Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh về sản phụ khoa ít nhất là 54 tháng;
– Là người làm việc toàn thời gian tại nhà hộ sinh.
Điều 31. Phòng khám, tư vấn và điều trị dự phòng
1. Quy mô: phòng khám, tư vấn và điều trị dự phòng có quy mô tương đương với phòng khám đa khoa hoặc phòng khám chuyên khoa quy định tại Điều 25 và 26 Nghị định này.
2. Cơ sở vật chất:
a) Trường hợp có quy mô tương đương với phòng khám đa khoa thì cơ sở vật chất phải đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 25 Nghị định này;
b) Trường hợp có quy mô tương đương với phòng khám chuyên khoa thì cơ sở vật chất phải đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 26 Nghị định này.
3. Thiết bị y tế:
a) Đáp ứng các điều kiện về thiết bị y tế phù hợp với quy mô tương ứng với phòng khám đa khoa quy định tại Khoản 3 Điều 25 hoặc quy mô tương đương phòng khám chuyên khoa theo quy định tại Khoản 2 Điều 26 Nghị định này.
b) Nếu phòng khám thực hiện tiêm chủng vắc xin, sinh phẩm điều trị thì phải thực hiện theo quy định hiện hành.
3. Nhân sự:
a) Người làm việc tại cơ sở nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề và được phân công công việc phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó.
b) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của Phòng khám, tư vấn và điều trị dự phòng phải là bác sỹ đa khoa có chứng chỉ hành nghề và có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 54 tháng;
– Là người làm việc toàn thời gian tại phòng khám.
Điều 32. Phòng khám, điều trị bệnh nghề nghiệp
1. Cơ sở vật chất: Tùy vào quy mô của phòng khám, nếu tương đương với phòng khám đa khoa thì phải đáp ứng các điều kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 25; nếu tương đương với phòng khám chuyên khoa thì phải đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 26 Nghị định này và có ít nhất hai bộ phận xét nghiệm (sinh hóa, độc chất, vi sinh) và chẩn đoán hình ảnh.
2. Thiết bị y tế:
a) Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở đăng ký;
b) Có hộp thuốc chống sốc và đủ thuốc cấp cứu chuyên khoa;
3. Nhân sự:
a) Người làm việc tại cơ sở nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề và chứng chỉ đào tạo về bệnh nghề nghiệp, được phân công công việc phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó;
b) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của Phòng khám, điều trị bệnh nghề nghiệp phải là bác sĩ chuyên khoa bệnh nghề nghiệp hoặc bác sĩ đa khoa có chứng chỉ hành nghề và chứng chỉ đào tạo về bệnh nghề nghiệp;
– Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh nghề nghiệp ít nhất là 54 tháng;
– Là người làm việc toàn thời gian tại phòng khám.
Điều 33. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở dịch vụ tiêm (chích), thay băng, đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp
1. Cơ sở vật chất:
a) Địa điểm cố định, có đủ ánh sáng, tách biệt với nơi sinh hoạt gia đình;
b) Buồng tiêm (chích), thay băng phải có diện tích ít nhất là 10m2;
c) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện vệ sinh khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
2. Thiết bị y tế:
a) Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở đã đăng ký;
b) Có hộp thuốc chống sốc.
3. Nhân sự:
a) Người làm việc tại cơ sở nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề và được phân công công việc phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó.
b) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật đối với cơ sở dịch vụ tiêm (chích), thay băng, đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
– Là người tốt nghiệp trung cấp y trở lên có chứng chỉ hành nghề;
– Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh về tiêm (chích), thay băng, đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp ít nhất là 45 tháng.
Điều 34. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà
1. Thiết bị y tế:
Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở dịch vụ đăng ký.
2. Nhân sự:
a) Người làm việc tại cơ sở nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề và được phân công công việc phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó.
b) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật đối với cơ sở dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà phải là người tốt nghiệp trung cấp y trở lên có chứng chỉ hành nghề và có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 45 tháng;
Điều 35. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở dịch vụ cấp cứu, hỗ trợ vận chuyển người bệnh
1. Cơ sở vật chất:
a) Địa điểm cố định, có đủ ánh sáng, tách biệt với nơi sinh hoạt gia đình;
b) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện vệ sinh khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
2. Thiết bị, phương tiện vận chuyển y tế:
a) Có đủ phương tiện vận chuyển cấp cứu với đầy đủ thiết bị, dụng cụ y tế;
b) Có hộp thuốc chống sốc và đủ thuốc cấp cứu bảo đảm an toàn và điều kiện vệ sinh cho người bệnh.
2. Nhân sự:
a) Người làm việc tại cơ sở nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề và được phân công công việc phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó.
b) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở dịch vụ cấp cứu, hỗ trợ vận chuyển người bệnh trong nước và ra nước ngoài phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
– Là bác sỹ có chứng chỉ hành nghề;
– Có văn bằng chuyên môn hoặc chứng chỉ hoặc giấy chứng nhận đã được học về chuyên ngành hồi sức cấp cứu;
– Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 54 tháng.
3. Có hợp đồng vận chuyển cấp cứu với công ty dịch vụ hàng không nếu cơ sở đăng ký vận chuyển người bệnh ra nước ngoài.
​Điều 36. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở dịch vụ kính thuốc
1. Cơ sở vật chất:
a) Địa điểm cố định, có đủ ánh sáng, tách biệt với nơi sinh hoạt gia đình;
b) Cơ sở có diện tích ít nhất là 15m2;
c) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện vệ sinh khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
2. Thiết bị y tế:
Có đủ dụng cụ, thiết bị y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở đã đăng ký.
3. Nhân sự:
a) Người hành nghề tại cơ sở dịch vụ kính thuốc phải có chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh phạm vi hành nghề chuyên khoa mắt hoặc đo kiểm, chẩn đoán tật khúc xạ mắt và được phân công công việc phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó.
b) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật đối với cơ sở dịch vụ kính thuốc:
​- Là người làm việc toàn thời gian tại cơ sở dịch vụ kính thuốc,
​- Trình độ trung cấp y trở lên được cấp chứng chỉ hành nghề về chuyên khoa mắt hoặc đo kiểm, chẩn đoán tật khúc xạ mắt,
​- Có thời gian hành nghề chuyên khoa mắt tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc đo kiểm, chẩn đoán tật khúc xạ mắt tại cơ sở dịch vụ kính thuốc ít nhất là 36 tháng;
Điều 37. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở dịch vụ làm răng giả (nha công)
Cơ sở dịch vụ làm răng giả chỉ cấp cho nha công quy định tại khoản 3 Điều này và phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
1. Cơ sở vật chất:
a) Có địa điểm cố định;
b) Bảo đảm các điều kiện về xử lý chất thải y tế, phòng cháy chữa cháy theo quy định của pháp luật;
c) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
d) Phòng khám và lắp răng, hàm giả phải có diện tích ít nhất là10m2;
– Phòng làm răng, hàm giả phải có diện tích ít nhất là 10m2; trường hợp không có phòng làm răng, hàm giả thì phải ký hợp đồng với cơ sở làm răng, hàm giả khác.
2. Thiết bị y tế:
Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở đăng ký.
3. Nhân sự:
Người phụ trách cơ sở dịch vụ làm răng giả phải ít nhất là thợ trồng răng (nha công) đã hành nghề từ năm 1980 trở về trước và tại thời điểm đó đã đủ 18 tuổi trở lên, đồng thời phải có giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã theo mẫu quy định tại Phụ lục VIII ban hành kèm theo Nghị định này.

Điều 38. Điều kiện hoạt động đối với cơ sở dịch vụ thẩm mỹ
1. Các cơ sở, cá nhân có thực hiện các hoạt động xăm, phun, thêu trên da không sử dụng thuốc gây tê dạng tiêm phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Cơ sở vật chất:
– Địa điểm cố định.
– Bảo đảm các điều kiện vệ sinh.
​b) Thiết bị: Có đủ dụng cụ, thiết bị, vật tư phù hợp với phạm vi hoạt động của cơ sở và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
c) Nhân sự:
– Người thực hiện xăm, phun, thêu trên da tại cơ sở dịch vụ thẩm mỹ là người làm việc toàn thời gian tại cơ sở, phải có chứng nhận đào tạo về phun, xăm, thêu trên da do cơ sở đào tạo hợp pháp cấp.
2. Trong thời gian 15 ngày trước khi cơ sở chính thức hoạt động, cơ sở phải có văn bản thông báo gửi về Sở Y tế nơi đặt trụ sở để quản lý theo mẫu quy định tại Phụ lục IX ban hành kèm theo Nghị định này và không phải cấp giấy phép hoạt động.
3. Các tổ chức, cá nhân thực hiện dịch vụ thẩm mỹ có sử dụng thuốc, hóa chất và trang thiết bị để can thiệp vào cơ thể người (phẫu thuật, thủ thuật, can thiệp xâm lấn hoặc các can thiệp khác có tiêm, chích, bơm, chiếu tia, đốt) làm thay đổi màu sắc da, hình dạng, khiếm khuyết của các bộ phận trên cơ thể (da, mũi, mắt, môi, khuôn mặt, ngực, bụng, mông và các bộ phận khác), xăm, phun, thêu trên da có sử dụng thuốc gây tê dạng tiêm phải thực hiện tại bệnh viện có chuyên khoa thẩm mỹ hoặc phòng khám chuyên khoa thẩm mỹ, tùy theo phạm vi hoạt động chuyên môn được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Điều 39 . Điều kiện hoạt động đối với cơ sở dịch vụ xoa bóp
1. Cơ sở vật chất:
a) Địa điểm cố định, có đủ ánh sáng, tách biệt với nơi sinh hoạt gia đình;
b) Các phòng xoa bóp phải bảo đảm các điều kiện sau:
– Diện tích của phòng xoa bóp tối thiểu là 10m2, trần nhà cao từ 2,5m trở lên; trường hợp có từ 02 giường xoa bóp trở lên thì phải bảo đảm diện tích cho mỗi giường xoa bóp ít nhất là 4m2 và có vách ngăn lửng cho từng giường xoa bóp;
– Cửa ra vào có kính trong, phía trên cách mặt đất 1,5m, cao 0,5m, rộng 0,3m.
– Mỗi phòng xoa bóp có chuông cấp cứu bố trí một chiều từ phòng xoa bóp tới phòng bác sĩ hoặc nơi đón tiếp khách hàng. Có hệ thống công tắc đèn đặt bên ngoài phòng xoa bóp.
– Có bản quy trình kỹ thuật xoa bóp chữ to, dễ đọc dán hoặc treo trên tường phòng xoa bóp in trên khổ giấy A1.
c) Có trang bị tủ có nhiều ngăn có khóa để bảo quản tài sản của khách hàng;
d) Có buồng tắm hợp vệ sinh, bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện vệ sinh khác để phục vụ chăm sóc khách hàng;
đ) Không có hệ thống khóa và chốt bên trong phòng xoa bóp; Không có các phương tiện thông tin liên lạc từ bên ngoài để liên hệ vào phòng xoa bóp.
2. Thiết bị y tế:
a) Giường xoa bóp có kích thước cao từ 0,6m đến 0,8m; rộng từ 0,7m đến 0,9m, dài từ 2,0m đến 2,2m, có đệm chắc; ga trải giường, gối, khăn tắm phải được hấp tiệt trùng, chỉ sử dụng một lần.
– Giường đặt vị trí Ê 45 độ so với kính trong của cửa ra vào.
b) Phòng bác sĩ có giường khám bệnh, tủ thuốc cấp cứu, bàn làm việc và một số dụng cụ kiểm tra sức khỏe;
c) Có đủ danh mục thuốc theo quy định, có dụng cụ y tế thông thường.
3. Nhân sự:
a) Người làm việc tại cơ sở nếu có thực hiện kỹ thuật xoa bóp thì phải có chứng chỉ hành nghề xoa bóp do cơ sở đào tạo hợp pháp cấp.
Nhân viên thực hiện kỹ thuật xoa bóp phải mặc trang phục gọn, sạch, đẹp, kín đáo, có phù hiệu ghi rõ tên cơ sở, tên nhân viên, có ảnh 3cm x 4cm.
b) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật đối với cơ sở dịch vụ xoa bóp phải là bác sĩ hoặc y sỹ hoặc kỹ thuật viên thuộc một trong các chuyên ngành phục hồi chức năng, vật lý trị liệu, y học cổ truyền hoặc có chứng chỉ đào tạo chuyên khoa chuyên khoa phục hồi chức năng, vật lý trị liệu hoặc y học cổ truyền. Trường hợp có chỉ định thuốc thì người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật phải là bác sỹ các chuyên ngành phục hồi chức năng, vật lý trị liệu, y học cổ truyền.
4. Trong thời gian 15 ngày trước khi cơ sở chính thức hoạt động, cơ sở phải có văn bản thông báo gửi về Sở Y tế nơi đặt trụ sở để quản lý theo mẫu quy định tại Phụ lục IX ban hành kèm theo Nghị định này và không phải cấp giấy phép hoạt động.
Điều 40. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với trạm y tế cấp xã, trạm xá
1. Cơ sở vật chất:
a) Bảo đảm thiết kế theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế;
b) Bảo đảm các điều kiện về an toàn bức xạ, xử lý chất thải y tế, phòng cháy chữa cháy theo quy định của pháp luật;
c) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
2. Thiết bị y tế:
a) Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở đăng ký.
b) Có hộp thuốc chống sốc.
3. Nhân sự:
a) Người chịu trách nhiệm chuyên môn phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
– Là bác sỹ hoặc y sỹ có chứng chỉ hành nghề.
– Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 54 tháng đối với bác sĩ và 45 tháng đối với y sỹ.
b) Số lượng người hành nghề thuộc trạm y tế cấp xã phải đáp ứng định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế nhà nước theo quy định của pháp luật;
c) Nhân viên y tế thôn, bản thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu theo sự phân công và chỉ đạo về chuyên môn của Trưởng Trạm y tế xã.
Điều 41. Phạm vi hoạt động chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Căn cứ vào hình thức tổ chức, điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định tại Nghị định này, Bộ trưởng Bộ Y tế quy định phạm vi hoạt động chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Điều 42. Quy định về nội dung biển hiệu của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh sau khi được cấp giấy phép hoạt động phải có biển hiệu theo quy định của pháp luật về biển hiệu, không sử dụng biểu tượng chữ thập đỏ trên biển hiệu và có đủ các thông tin cơ bản sau đây:
1. Tên đầy đủ của cơ sở, số giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh.
2. Địa chỉ của cơ sở được ghi trong giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh; số điện thoại.
3. Thời gian làm việc hằng ngày.

Mục 2
THẨM QUYỀN, HỒ SƠ, THỦ TỤC CẤP, CẤP LẠI, ĐIỀU CHỈNH
GIẤY PHÉP HOẠT ĐỘNG ĐỐI VỚI CƠ SỞ
KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH
Điều 43. Thẩm quyền cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1. Bộ trưởng Bộ Y tế, Giám đốc Sở Y tế cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại Khoản 1 Điều 45 Luật khám bệnh, chữa bệnh.
2. Giám đốc Sở y tế cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại khoản 2 Điều 45 Luật khám bệnh, chữa bệnh
Điều 44. Hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định tại khoản 1 Điều 46 Luật khám bệnh, chữa bệnh, cụ thể như sau đây:
a) Đơn đề nghị cấp giấy phép hoạt động theo Mẫu 01 Phụ lục X ban hành kèm theo Nghị định này;
b) Bản sao hợp lệ quyết định thành lập của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước (nếu có) hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân hoặc Giấy chứng nhận đầu tư đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có vốn đầu tư nước ngoài;
c) Bản sao hợp lệ chứng chỉ hành nghề của người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; người phụ trách bộ phận chuyên môn;
d) Danh sách đăng ký người làm việc của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (bao gồm đăng ký người hành nghề và người làm việc chuyên môn y tế tại cơ sở nhưng không thuộc diện phải cấp chứng chỉ hành nghề) theo mẫu quy định tại Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị định này;
đ) Bản kê khai cơ sở vật chất, thiết bị y tế, bản mô tả mô hình tổ chức của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo Mẫu 02 Phụ lục X ban hành kèm theo Nghị định này;
e) Tài liệu chứng minh cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đáp ứng điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị y tế, tổ chức nhân sự phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn của một trong các hình thức tổ chức quy định tại Mục 1 Chương III Nghị định này;
g) Điều lệ tổ chức và hoạt động đối với bệnh viện Nhà nước thực hiện theo mẫu quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế; đối với bệnh viện tư nhân thực hiện theo Mẫu 03 Phụ lục X ban hành kèm theo Nghị định này và phương án hoạt động ban đầu đối với bệnh viện;
h) Bản sao hợp lệ hợp đồng với công ty dịch vụ hàng không để vận chuyển người bệnh đối với cơ sở dịch vụ cấp cứu, hỗ trợ vận chuyển người bệnh ra nước ngoài;
i) Bản sao hợp lệ hợp đồng vận chuyển người bệnh đối với bệnh viện không có phương tiện vận chuyển cấp cứu;
k) Danh mục phạm vi hoạt động chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đề xuất trên cơ sở danh mục kỹ thuật chuyên môn do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành.
2. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi thay đổi hình thức tổ chức, chia tách, hợp nhất, sáp nhập thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi thay đổi địa điểm:
a) Đơn đề nghị cấp Giấy phép hoạt động theo Mẫu 04 Phụ lục X;
b) Các giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này (nếu có sự thay đổi so với hồ sơ tại địa điểm trước đây).
4. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi thay đổi tên cơ sở khám bệnh, chữa bệnh:
a) Đơn đề nghị cấp Giấy phép hoạt động theo Mẫu 05 Phụ lục X;
b) Các giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này (nếu có sự thay đổi so với hồ sơ trước đây).
5. Hồ sơ đề nghị điều chỉnh nội dung giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi thay đổi quy mô giường bệnh hoặc cơ cấu tổ chức hoặc phạm vi hoạt động chuyên môn thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 46 Luật khám bệnh, chữa bệnh bao gồm:
a) Đơn đề nghị theo Mẫu 06 Phụ lục X ban hành kèm theo Nghị định này;
b) Bản kê khai cơ sở vật chất, thiết bị y tế và hồ sơ nhân sự tương ứng với quy mô hoặc phạm vi hoạt động chuyên môn dự kiến điều chỉnh.
6. Hồ sơ đề nghị thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh:
a) Đơn đề nghị theo Mẫu 07 Phụ lục X ban hành kèm theo Nghị định này;
b) Quyết định bãi nhiệm người chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở trước đây;
c) Quyết định bổ nhiệm người chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
d) Bản sao hợp lệ chứng chỉ hành nghề của người được bổ nhiệm chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
đ) Hợp đồng lao động hoặc quyết định tuyển dụng của người được bổ nhiệm chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
e) Giấy xác nhận quá trình đã hành nghề 36 tháng sau khi được cấp chứng chỉ hành nghề;
g) Bản gốc Giấy phép hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được cấp.
7. Hồ sơ đề nghị cấp lại giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bị mất hoặc hư hỏng hoặc bị thu hồi theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 48 Luật khám bệnh, chữa bệnh bao gồm:
a) Đơn đề nghị theo Mẫu 08 Phụ lục X ban hành kèm theo Nghị định này;
b) Bản gốc giấy phép bị hư hỏng (nếu có).
Điều 45. Thủ tục cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1. Hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định tại Điều 43 Nghị định này, được lập thành 01 bộ và gửi tới cơ quan có thẩm quyền như sau:
a) Bộ Y tế đối với hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc Bộ Y tế, bệnh viện tư nhân hoặc bệnh viện thuộc các bộ khác;
b) Sở Y tế đối với hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn, trừ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định tại điểm a khoản này.
2. Trình tự xem xét việc đề nghị cấp giấy phép hoạt động:
a) Sau khi nhận được hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, Bộ Y tế hoặc Sở Y tế (sau đây gọi tắt là cơ quan tiếp nhận hồ sơ) thực hiện như sau:
– Trường hợp nộp hồ sơ tại cơ quan tiếp nhận hồ sơ thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ gửi cho cơ sở đề nghị cấp giấy phép hoạt động Phiếu tiếp nhận hồ sơ;
– Trường hợp nộp hồ sơ qua đường bưu điện thì trong thời hạn 03 ngày cơ quan tiếp nhận hồ sơ gửi cho cơ sở đề nghị cấp giấy phép hoạt động Phiếu tiếp nhận hồ sơ.
– Phiếu tiếp nhận hồ sơ theo Mẫu 09 Phụ lục X ban hành kèm theo Nghị định này;
b) Trường hợp hồ sơ hợp lệ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ phải xem xét để cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động trong thời gian như sau:
– 60 ngày đối với bệnh viện;
– 45 ngày đối với các hình thức tổ chức khám bệnh, chữa bệnh khác.
Trường hợp không cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.
c) Trường hợp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động chưa hợp lệ thì trong thời gian 10 ngày làm việc, kể từ ngày ghi trên Phiếu tiếp nhận hồ sơ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ phải có văn bản thông báo cho cơ sở đề nghị cấp giấy phép hoạt động để hoàn chỉnh hồ sơ. Văn bản thông báo phải nêu cụ thể là bổ sung những tài liệu nào, nội dung nào cần sửa đổi;
d) Khi nhận được văn bản yêu cầu hoàn chỉnh hồ sơ, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đề nghị cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải bổ sung, sửa đổi theo đúng những nội dung đã được ghi trong văn bản và gửi về cơ quan tiếp nhận hồ sơ.
đ) Sau 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung, sửa đổi, nếu cơ quan tiếp nhận hồ sơ không có văn bản yêu cầu sửa đổi, bổ sung thì phải cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động trong thời gian quy định tại điểm b khoản này; nếu không cấp, cấp lại, điều chỉnh thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do;
Sau 60 ngày, kể từ ngày cơ quan tiếp nhận hồ sơ có văn bản yêu cầu mà cơ sở đề nghị cấp giấy phép hoạt động không bổ sung, sửa đổi, hoặc bổ sung, sửa đổi hồ sơ nhưng không đạt yêu cầu thì phải thực hiện lại từ đầu thủ tục đề nghị cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động.
3. Giấy phép hoạt động do Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế cấp theo mẫu quy định tại Phụ lục XI và theo mã số quy định tại Mẫu 04 Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này.
Điều 46. Tổ chức thẩm định để cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1. Bộ trưởng Bộ Y tế, Giám đốc Sở Y tế thành lập đoàn thẩm định để cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo thẩm quyền.
2. Đoàn thẩm định thực hiện thẩm định theo thời hạn quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều này.
3. Đoàn thẩm định lập Biên bản thẩm định cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo mẫu quy định tại Phụ lục XII ban hành kèm theo Nghị định này;
Biên bản thẩm định các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ trưởng Bộ Y tế được làm thành 03 bản: 01 bản lưu tại Bộ Y tế, 01 bản lưu tại Sở Y tế nơi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đặt trụ sở, 01 bản lưu tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thẩm định;
Biên bản thẩm định các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý của Giám đốc Sở Y tế được làm thành 02 bản: 01 bản lưu tại Sở Y tế, 01 bản lưu tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thẩm định.
4. Quản lý giấy phép hoạt động:
a) Mỗi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chỉ được cấp một giấy phép hoạt động;
b) Bản sao hợp lệ giấy phép hoạt động và hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động được lưu tại cơ quan cấp giấy phép hoạt động;
c) Sau khi cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh:
– Bộ Y tế phải gửi văn bản thông báo cho Ủy ban nhân dân tỉnh và Sở Y tế nơi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được cấp giấy phép hoạt động đặt trụ sở trong thời gian không quá 30 ngày kể từ ngày cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động;
– Sở Y tế phải gửi văn bản thông báo cho Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được cấp giấy phép hoạt động đặt trụ sở trong thời gian không quá 30 ngày kể từ ngày cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động.
– Bộ Y tế phải đăng tải danh sách cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động thuộc thẩm quyền lên cổng thông tin điện tử của Bộ Y tế. Sở Y tế phải đăng tải danh sách cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động thuộc thẩm quyền lên trang tin điện tử của Sở Y tế.

Chương V
CẤP CHỨNG CHỈ HÀNH NGHỀ, GIẤY PHÉP HOẠT ĐỘNG KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH TRỰC TUYẾN

Điều 47. Yêu cầu đối với hồ sơ đăng ký, đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề, cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh trực tuyến
Hồ sơ đăng ký, đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề, cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh trực tuyến (sau đây gọi tắt là hồ sơ đăng ký trự tuyến) được coi là hợp lệ khi bảo đảm đầy đủ các yêu cầu sau đây:
1. Có đầy đủ hồ sơ, giấy tờ theo quy định và nội dung hồ sơ, giấy tờ đó được kê khai đầy đủ theo quy định như hồ sơ bằng bản giấy và được chuyển sang dạng văn bản điện tử. Tên văn bản điện tử phải được đặt tương ứng với tên loại giấy tờ trong hồ sơ bằng bản giấy.
2. Các thông tin đăng ký, đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề, cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh được nhập đầy đủ và chính xác theo thông tin trong các văn bản gốc.
Điều 48. Trình tự đăng ký trực tuyến
1. Cá nhân người nộp hồ sơ hoặc người đại diện theo pháp luật kê khai thông tin, tải văn bản điện tử, xác nhận nộp hồ sơ đăng ký trực tuyến bằng chữ ký số và thanh toán lệ phí theo quy trình trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Y tế hoặc trang tin điện tử của Sở Y tế.
Trường hợp không sử dụng chữ ký số để xác nhận hồ sơ, tổ chức, cá nhân đăng ký trực tuyến phải scan hồ sơ bản giấy gửi kèm lên hệ thống đăng ký về cơ quan tiếp nhận hồ sơ xem xét, đối chiếu.
2. Sau khi hoàn thành việc gửi hồ sơ đăng ký trực tuyến, cơ quan tiếp nhận hồ sơ trực tuyến gửi Phiếu tiếp nhận hồ sơ trực tuyến cho người nộp hồ sơ.
3. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ đăng ký trực tuyến thực hiện các thủ tục hành chính tương ứng với với quy định tại Chương II và Chương III Nghị định này.
4. Kết quả của thủ tục hành chính trực tuyến là văn bản có chữ ký của cơ quan hoặc là văn bản điện tử có chữ ký số tiếp nhận hồ sơ và có giá trị pháp lý như kết quả thủ tục hành chính giải quyết theo phương thức thông thường.
5. Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện việc cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề, cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh trực tuyến để bảo đảm thực hiện trước ngày 01 tháng 01 năm 2018.
Điều 49. Lưu trữ hồ sơ đăng ký trực tuyến
1. Trường hợp thực hiện đăng ký trực tuyến, cơ sở đăng ký phải lưu trữ hồ sơ đăng ký bằng bản giấy để có thể kiểm tra và xác thực khi cần thiết.
2. Trường hợp các giấy tờ trong hồ sơ đăng ký quy định tại Khoản 1 Điều này bị mất hoặc hư hỏng, cá nhân, tổ chức đăng ký có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho cơ quan tiếp nhận hồ sơ và hoàn chỉnh hồ sơ; thông báo bằng văn bản cho cơ quan tiếp nhận hồ sơ sau khi đã hoàn chỉnh lại hồ sơ; chỉ được tiến hành cập nhật hồ sơ sau khi có sự đồng ý của cơ quan tiếp nhận hồ sơ.
4. Trong thời gian 60 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo về việc mất hồ sơ nếu cá nhân, tổ chức đăng ký không có văn bản thông báo đã hoàn chỉnh lại hồ sơ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm:
a) Hủy bỏ các thông tin đã đăng tải trên cổng thông tin điện tử có liên quan đến cá nhân, tổ chức đăng ký đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề,
cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh;
b) Thu hồi chứng chỉ hành nghề, giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh và hủy bỏ các thông tin đã đăng tải trên Cổng thông tin điện tử có liên quan đến chứng chỉ hành nghề, giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh;
c) Người hành nghề, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không được tiếp tục hoạt động khám bệnh chữa bệnh kể từ thời điểm cơ quan tiếp nhận hồ sơ hủy bỏ các thông tin theo quy định tại Điểm a và điểm b Khoản 4 Điều này.

Chương VI
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 50. Hiệu lực thi hành
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016.
2. Điều 3 Nghị định số 87/2011/NĐ-CP ngày 27 tháng 9 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi một số điều của Luật khám bệnh, chữa bệnh hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.
Điều 51. Điều khoản chuyển tiếp
1. Trường hợp tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề, cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực thì thực hiện theo các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.
2. Các cá nhân, tổ chức đã thực hiện dịch vụ thẩm mỹ quy định tại Điều 38 Nghị định này trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì phải bảo đảm đáp ứng đủ các điều kiện và thủ tục theo quy định tại Nghị định này.
3. Phòng khám, điều trị bệnh nghề nghiệp, phòng khám, điều trị HIV/AIDS, phòng khám chuyên khoa dinh dưỡng, phòng khám hỗ trợ điều trị cai nghiện ma túy, phòng khám, điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đang hoạt động trước ngày Nghị định này có hiệu lực được tiếp tục hoạt động và phải hoàn thành thủ tục để cấp giấy phép hoạt động trước ngày 31 tháng 12 năm 2016.
Điều 52. Trách nhiệm thi hành
1. Bộ trưởng Bộ Y tế có trách nhiệm hướng dẫn tổ chức thực hiện Nghị định này.
2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

Nơi nhận:
– Ban Bí thư Trung ương Đảng;
– Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ;
– HĐND, UBND các tỉnh, TP trực thuộc TW;
– Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
– Văn phòng Chủ tịch nước;
– Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
– Văn phòng Quốc hội;
– Toà án nhân dân tối cao;
– Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
– Kiểm toán Nhà nước;
– Ngân hàng Chính sách Xã hội;
– Ngân hàng Phát triển Việt Nam;
– UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
– Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
– VPCP: BTCN, các PCN,
– Các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;
– Lưu: Văn thư, KGVX (5b).

1

CÙNG DANH MỤC

118 comments

  • Thân gửi các đàn em cử nhân kỹ thuật hình ảnh.Tên gọi Cử nhân XQUANG được ghi trong Nghị định này là từ ngữ dùng chung cho tất cả các anh chị em đã tốt nghiệp hoặc hiện đang học tại Khoa KỸ THUẬT Y HỌC của các trường ĐẠI HỌC Y DƯỢC trên cả nước được đào tạo cơ bản về mọi mặt trong lãnh vực CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH( từ điên tim, siêu âm,  CT, MRI), mà nguồn nhân lực chủ yếu được tuyển dụng là các Kỹ thuật viên XQuang chuyên trách chụp XQuang tại các KHOA XQUANG của các bệnh viện trong cả nước được nâng cao trình độ ở bậc ĐẠI HỌC. Sau này được tuyển thẳng từ các em học sinh tốt nghiệp phổ thông lên ĐẠI HỌC.Do đó , vấn đề này không cần phải bàn cãi nữa, vì khi áp dụng để CẤP GIẤY PHÉP HOẠT ĐỘNG thì HỘI ĐÒNG TƯ VẤN  của các SỞ Y TẾ  các tỉnh thừa hiểu rằng CỬ NHÂN XQUANG và CỬ NHÂN KỸ THUẬT HÌNH ẢNH LÀ MỘT, và khi xét duyệt hồ sơ để cấp phép cũng chỉ cho phép hoạt động trong phạm vi PHÒNG CHỤP XQUANG QUY ƯỚC mà thôi .Các ACE cần trao đổi xin liên hệ trực tiếp qua số điện thoại Cn BỀN, số đt: 0918868241Thân chào!!!!

    • Đàn anh hiểu vậy,nói vậy chứ cơ bản nơi cấp phép có  nghĩ vậy không hay bê y chang từ  ngữ trong  nghị định mà áp dụng thì khổ.

    • Vay thi cu nhan cong nghê sinh học va cu nhan sinh học có duoc xem la một không a. Vi hiên nay các so y tế không cap cchn cho cu nhan cnsh trong khi đôi tuong nay hoc them xet nghiêm 3-10 thang. Mong bo y te co huong dan ro hon

  • Dự thảo nói:1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 nhưng đến nay chẳng thấy thông tư hay nghị định nào liên quan được ban hành cả.Kính mong dự thảo sớm được thực hiện. xin cảm ơn nhiều.

  • Đề nghị Bộ Y Tế và Ban soạn thảo xem xét, bổ sung thêm đối tượng Cử nhân công nghệ sinh học được cấp chứng chỉ hành nghề 

  • Mong Bộ y tế và ban soạn thảo bổ sung thêm đối tượng cử nhân Công nghệ sinh học cũng được cấp chứng chỉ hành nghề. Cảm ơn

  • đề nghị giữa bộ và các trường đại học y dược phải thống nhất với nhau là: cử nhân x quang( học  x quang) hay là cử nhân kỹ thuật hình ảnh ( học x quang,ctscanner, mir). vì khi ra trường sv được nhận bằng CN kỹ thuật hình ảnh, mà bộ y tế lại quy định là cử nhân  xquang.nên khi áp dụng vào thông tư này sẽ không phù hợp vì không có quy định nào nói đến cn kỹ thuật hình ảnh và cũng không có bằng nào là cử nhân x quang. xin chân thành cảm ơn quý cấp.

  • MONG RẰNG ĐỐI TƯỢNG CỬ NHÂN CÔNG NGHỆ SINH HỌC ĐƯỢC CẤP CHỨNG CHỈ HÀNH NGHỀ, VÀ HÃY GIA HẠN THÊM THỜI GIAN ĐƯỢC TUYỂN DỤNG LÀM CHUYÊN NGÀNH XÉT NGHIỆM VÀO THỜI GIAN NGHỊ ĐỊNH BAN HÀNH

  • Tôi tốt nghiệp cử nhân Công nghệ sinh học đã lâu hiện đang làm trong khoa xét nghiệm của bệnh viện, với thâm niên nghề cao nhưng vẫn không được cấp chứng chỉ hành nghề, tôi mong rằng Bộ Y Tế có thể xem xét và cấp CCHN cho đối tượng Cử nhân Công nghệ sinh học vì theo tôi được biết các đồng nghiệp của tôi là cử nhân sinh học, hóa học đã được cấp CCHN rồi. Xin cảm ơn

  • Tại Chương 2, Mục 1 Điều 5 Khoản 2 Điểm b) Cấp cho đối tượng Cử nhân sinh học, hóa học thì mong Bộ Y Tế hãy xem xét cấp cho đối tượng cử nhân Công nghệ sinh học đang làm công tác xét nghiệm cũng được cấp chứng chỉ hành nghề.

  • Sao không thấy Chủ tịch Hội KTHA phía nam Thái Văn Lộc có ý kiến gì hết vậy.
    Quá thất vọng.

    • Đúng đấy Hội KTHA  ở đâu chả thấy lên tiến gì cả, Tôi thấy mấy anh nói đúng đâu có bằng cử nhân xquang đại học chỉ có cử nhân KTHA đại học thôi.cục phải xem lại từ ngữ cho phù hợp. xin cảm ơn

  • kính gởi bộ y tế.tôi xin phép góp ý kiến phần chẩn đoán hình ảnh như sau: Trước kia ngành hình ảnh học chưa được phát triển, chủ yếu là x quang nên các trường đại học đào tạo ktv x quang, cử nhân  xquang ( học x quang). ngày nay nghành hình ảnh học phát triển thêm ctscanner,siêu âm,MRI, nên các trường đào tạo cử nhân kỹ thuật hình ảnh ( học x quang, siêu âm, ctscanner, MRI). cho nên tôi xin ý kiến1.phụ trách chuyên môn phòng chẩn đoán hình ảnh phải là BS chẩn đoán hình ảnh hoặc phải là CN kỹ thuật hình ảnh ( tốt nghiệp đại học)2. Phụ trách phòng x quang phải là cử nhân x quang ( tốt nghiệp đại học). xin chân thành cảm ơn.

    • Tôi thấy đóng góp này chí lý! Công bằng! Mong xem xét thêm!

  • Làm lâu năm trong phòng xét nghiệm của bệnh viện quận nhưng không được lên cấp cao hơn do tôi tốt nghiệp bằng cử nhân Công nghệ sinh học, tôi mông Bộ Y Tế xem xét và bổ sung thêm đối tượng Cử nhân Công nghệ sinh học để tôi có được vị trí xứng đáng với thành quả lao động, cống hiến mấy năm. Cảm ơn

  • Đề nghị BYT cho dịch vụ chăm sóc răg miệng vào cho y sĩ đa khoa học chuyển đổi chuyên khoa răng,điều dưỡng nha khoa nữa.nên áp dụng ở các tỉnh vùng sâu vùng xa để nhân dân được chăm sóc răng miệng tốt hơn.đó như là cơ sở chăm sóc ban đầu.chuyên môn của y sĩ ck răng,diều dưỡng hoàn toàn có thể làm tốt việc lấy cao răng,hàn răng,nhổ răng sữa,và răng lung lay,mong byt xem xét cho họ một con đường kiếm sống.

  • Kính thưa Cục Quản lý khám, chữa bệnh !
    Tôi là một Cử nhân Vật lý trị liệu – Phục hồi chức năng, trong quá trình công tác tôi nhận thấy bác sỹ Phục hồi chức năng không được đào tạot về thực hành kỹ thuật Vật lý trị liệu- Phục hồi chức năng , hơn nữa nhiều bác sỹ không biết là có tồn tại hay không nhớ tên kỹ thuật điều trị điều này dẫn đến việc ra chỉ định không sát thực với mục tiêu điều trị , làm ảnh hưởng lớn đến nghành Phục hồi chức năng.
    Trong chương trình đào tạo Cử nhân Vật Lý Trị liệu – Phục hồi chức năng được đào tạo đầy đủ các chuyên môn Dược lý, Nội , Ngoại khoa Thần kinh , Cơ , Xương , Khớp, Hô Hấp, Tim mạch, Y học cổ truyền… đủ đáp ứng khám , điều trị phục hồi chức năng các bệnh lý liên quan các chuyên khoa trên.
    Trong thực tế lâm sàng Phục hồi chức năng, hiệu quả điều trị chủ yếu do trình độ tay nghề của kỹ thuật viên Vật Lý trị liệu – Phục hồi chức năng mang lại.
    Do đó , tôi tha thiết đề nghị Cục Quản Lý khám, chữa bệnh tư vấn cho bộ Y tế sớm xây dựng cơ chế hành nghề cho phép Cử Nhân Vật lý trị liệu – Phục hồi chức năng được phép chịu trách nhiệm chuyên môn, kỹ thuật một cơ sở Phục hồi chức năng , ghóp phần xây dựng , nâng cao chất lượng của các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc.
    Chân thành cám ơn!

    • Kính gởi : Bộ y tế. Tôi cũng là cử nhân vật lý trị liệu. Tôi cũng luôn thắc mắc về văn bằng của mình,  là chuyên ngành vật lý trị liệu _ phục hồi chức năng mà trong văn bằng  chỉ cần ghi  cử nhân y học như vậy là chung quá. Và chúng tôi cũng học đầy đủ các kiến thức nội ngoại,  cận lâm sàng mà sao phải luôn làm theo chỉ định của Bs chỉ chứng nhận chứ không phải chứng chỉ vật lý trị liệu đã vậy chỉ định còn sai nhiều  so với trong tài liệu  chuyên ngành như vậy rất có hại và thiệt thoi cho bệnh nhân   vậy Tôi kính trình lên Bộ y tế xem xét v để có hướng điều chỉnh trong công tác khám chữa bệnh để đem lại lợi ích cho người dân.     

    • Tôi thấy nghành PHCN ở Việt Nam còn rất hạn chế , Tôi xin đóng góp ý kiến cho CỬ Nhân PHCN đc khám bệnh chuyên PHCN vì bác sĩ PHCN ở Việt Nam đa phần học 6 tháng chứng chỉ PHCN  . Về ra chỉ định thì sai khiến lợi ích bệnh nhân bị đe dọa nghiêm trọng. Ở Vn chúng ta quá chú trọng về thấy mà thợ (Cử Nhân PHCN) mới là những người điều trị chủ yếu, BS họ ra những cái chỉ định máy móc đáp ứng nhu cầu bảo hiểm. 6 tháng mà  chỉ định những người học 4 năm đại học . Tôi tha thiết mong các ban nghành lãnh đạo cho CỬ Nhân PHCN được khám bệnh. Đó mới là cái lâu dài cho nghànhNhư trong các bệnh viện lớn HCM Cử NHân được ra chỉ định và được cất nhắc trưởng khoa. Họ phát triển PHCN vượt qua miền bắc quá nhanh. Nếu cục khám chữa bệnh cho CỬ Nhân PHCN đc khám bệnh tôi tin là nghành sẽ phát triển hơn nữa. Để nghành PHCN còn có sinh viên muốn học . Bây h chắc 1 năm ra trg chỉ vài chục cử nhân ĐH. ko có cao đẳng. Tha thiết mong quý ban giúp đỡ

    • Mong bộ y tế xem xét như bạn Vũ Hồng Thái viết và cũng gọi tên cho đúng văn bằng là cử nhân vật lý trị liệu chứ không gọi là kỹ thuật viên để các em trung cấp còn phấn đấu đi học.

  • kính thưa cô chú con thống nhất với dự thảo , tuy nhiên con xin góp một số ý kiến . con tốt nghiệp nghành cử nhân vật lý trị liệu nhưng con thấy trong dự thảo chỉ đề cấp đến ở Điều 39 . Điều kiện hoạt động đối với cơ sở dịch vụ xoa bóp, thì chúng con chì có thể làm trong dịch vụ này , chúng con muốn cùng nghành y tế chung tay trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân . hiện nay bác sỹ chuyên nghành vật lý trị liệu – phục hồi chức năng rất hiếm , ở vùng sâu vùng xa của chúng con càng hiếm , mà nhu cầu điều trị vật lý trị liệu – phục hồi chức năng của bệnh nhân hiện nay rất nhiều , ở bệnh viện cử nhân vật lý trị liệu không được cho chỉ định vật lý trị liệu -phục hồi chức năng , các bệnh gãy xương chúng con không được cho chỉ định xquang để kiểm tra để đưa ra chương trình điều trị cho hiệu quả đây rất thiệt thòi cho bệnh nhân và bào hiểm y tế cũng không cho chúng con thực hiện . bên ngoài bệnh viện thì chúng con không được đăng ký theo chuyên nghành mình đã học, mà chỉ đăng ký  dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà hoặc đăng ký ở điều 39 . con mong sao các cô chú xem xét lại để cho cử nhân vật lý trị liệu – phục hồi chức năng cho được chì định vật lý trị liệu – phục hồi chức năng , được cho các xquang cơ bản để theo dõi và điều trị bệnh , bên ngoài con mong cho chúng con được mở phòng thực hiện kỹ thuật vật lý trị liệu – phục hồi chức năng hoặc phòng điều trị phục hồi chức năng để chúng con có thể an tâm công việc và làm việc tận tâm hơn cho nghành y tế . kính chúc sức khỏe cô chú . trân trọng kính chào 

  • Kính gởi Bộ y tế. Tôi là cử nhân chuyềnnganh vật lý trị liệu phục hồi chức năng. Tôi cũng được học đầy đủ các kiến thức về nội ngoại, dược, cận lâm sàng mà tại sao phải luôn làm theo chỉ định của BS chỉ có chứng nhận chứ không phải chứng chỉ chuyên ngành  vật lý trị liệu đa vậy chỉ định còn nhiều cái không phù hợp trong tài liệu chuyên ngành  như vậy luôn dẫn đến thiệt thòi cho người bệnh nên Tôi kúnh mong Bộ y tế xem xét lại việc kgám chữa bệnh trong ngành vật lý trị liệu_ phục hồi chức năng để mang lại lợi úch cho người dân.

    • Kính gửi ban soạn thảo nghị định, Những nhà quản lý tầm vĩ mô về luật khám chữa bệnh. Tôi xin có một số phản hồi về dự thảo nghị định như sau: hiện nay Việt Nam đã hội nhập ASIAN và các tổ chức khác nên thiết nghĩ luật khám chữa bệnh của nước ta trong bối cảnh này cũng nên mang tính tương đồng với các nước trong khu vực ví dụ như Thái Lan cụ thể tôi muốn đề cập đến ngành Vật lý trị liệu ở Thái Lan, tôi thấy có phòng khám Vật lý trị liệu (PHYSIOTHERAPY CLINIC), cùng tồn tại song song với  phòng khám phục hồi chức năng (REABILITATION CLINIC) vậy tôi kính mong ban soạn thảo có thể nghiên cứu sự khác nhau này giữa Việt Nam và Thái Lan và các nước ở châu Âu. Theo tôi được biết,tại các nước này thì Physiotherapist ( CN Vật lý trị liệu) có thể đứng tên phòng khám Vật lý trị liệu (physiotherapy clinic). Rất mong nhận được sự quan tâm của quý ban ngành, để nước ta có luật (nghị định) phù hợp nhất. Trân trọng cảm ơn

  • ĐỀ NGHỊ BỘ Y TẾ. CỤC QUẢN LÝ KHÁM CHỮ BỆNH, NÊN SỬA LẠI LÀ CỬ NHÂN XÉT NGHIỆM, VÌ BẰNG CẤP GHI LÀ CỬ NHÂN CHỨ KHÔNG PHẢI GHI LÀ KỸ THUẬT VIÊN. GIỐNG NHƯ CỬ NHÂN X -QUANG. GHI KỸ THUẬT VIÊN THÌ TƯƠNG ỨNG CHỈ LÀ TỐT NGHIỆP TRUNG CẤP MÀ THÔI.

  • Kính gửi Chính phủ và Bộ Y Tế!Tôi tốt nghiệp đại học với văn bằng cử nhân công nghệ sinh học và đã thực hành và công tác trong phòng xét nghiệm y học từ năm 2009. Trong chương II mục 1 điều 5 khoản 2 điểm b dự thảo này có đề cập đến văn bằng cử nhân sinh học có bao gồm ngành của tôi không? Vì theo thông tư 41/2015/TT-BYT có quy định văn bằng cử nhân sinh học nhưng Sở Y Tế khi thực hiện cấp CCHN lại từ chối ngành của tôi vì trong văn bằng có chữ công nghệ. Kính mong Chính phủ và Bộ Y Tế mở rộng phạm vi cấp CCHN chuyên môn xét nghiệm cho văn bằng Cử nhân công nghệ sinh học để tôi yên tâm công tác và có kế hoạch định hướng phát triển nghề nghiệp rõ ràng. Xin chân thành cảm ơn!

  • Đề nghị cấp giays phép hoạt động cho cử nhân Vạt Lý Trị liệu nữa chư?y sỹ đông y, bs đa khoa học thêm một thời gian ngắn vãn đường đường được caps phép họt động. Cử nhán y khoa vạt lý trị liệu- phục hồi chúc năng quá trình kinh nghiệm và học hành nhiều thời gian vats vả đúng chuyên ngành phsir caps giays phép hoạt động cho họ chưs?

    • ĐỀ NGHỊ BỘ Y TẾ. CỤC QUẢN LÝ KHÁM CHỮ BỆNH, NÊN SỬA LẠI LÀ CỬ NHÂN XÉT NGHIỆM, VÌ BẰNG CẤP GHI LÀ CỬ NHÂN CHỨ KHÔNG PHẢI GHI LÀ KỸ THUẬT VIÊN. GIỐNG NHƯ CỬ NHÂN X -QUANG. GHI KỸ THUẬT VIÊN THÌ TƯƠNG ỨNG CHỈ LÀ TỐT NGHIỆP TRUNG CẤP MÀ THÔI.

  • ĐỀ NGHỊ BỘ Y TẾ. CỤC QUẢN LÝ KHÁM CHỮ BỆNH, NÊN SỬA LẠI LÀ CỬ NHÂN XÉT NGHIỆM, VÌ BẰNG CẤP GHI LÀ CỬ NHÂN CHỨ KHÔNG PHẢI GHI LÀ KỸ THUẬT VIÊN. GIỐNG NHƯ CỬ NHÂN X -QUANG. GHI KỸ THUẬT VIÊN THÌ TƯƠNG ỨNG CHỈ LÀ TỐT NGHIỆP TRUNG CẤP MÀ THÔI.

  • Đề nghị ban soạn thảo, quý cấp có thẩm quyền tạo điều kiện cho cử nhân Công nghệ sinh học đang làm xét nghiệm tại bệnh viện được cấp chứng chỉ hành nghề. Xin cảm ơn

  • Tại Chương 2, Mục 1 Điều 5 Khoản 2 Điểm b) Cấp cho đối tượng Cử nhân sinh học, hóa học thì mong Bộ Y Tế hãy xem xét cấp cho đối tượng cử nhân Công nghệ sinh học đang làm công tác xét nghiệm cũng được cấp chứng chỉ hành nghề và gia hạn thêm thời điểm ký kết hợp đồng làm việc. Xin cảm ơn!!

  • thưa cac cấp.ở cac trường đại học hcm.hue . đêu cấp bằng la cn ky thuật hinh ảnh( học xq.SA.ctscanner.mir). lam gi co bằng cn xquang.cho tôi xin gop y kiến.nên đổi cn xquang thanh cn ktha(cđha) cho phu hợp với văn bằng.tôi xin chân thanh cảm ơn.

  • Rất chân thành cảm ơn quí cấp có thẩm quyền đã tạo điều kiện cho cử nhân chẩn đoán hình ảnh tìm lại con đường sống, uy tín và danh dự, tạo được sự công bằng xã hội cho cử nhân các ngành, giúp chúng tôi có nhiều động lực hơn để cống hiến cho xã hội 

  • Thành thật cảm ơn lãnh đạo Bộ y tế, lãnh đạo cục khám chữa bệnh, Ban soạn thảo văn bản đã quan tâm đến hệ Cử nhân ký thuật hình ảnh..

  • chan thanh cam on lanh dao bo y te, lanh dao Cuc kham chua benh, Ban soan thao van ban da quan tam den he Cn ky thuat hinh  anh..

  • Đề nghị ban soạn thảo nói rỏ hơn điều kiện cụ thể , s) Phòng khám chuyên khoa khác và h) Cơ sở dịch vụ y tế khác. Để cá nhân đủ điều kiện được hành nghề . Cám ơn !

  • Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Bộ y tế, lãnh đạo cục khám chữa bệnh, Ban soạn thảo văn bản đã quan tâm đến hệ Cứ nhân ký thuật hình ảnh.

  • Một dự thảo hợp tình hợp lý, rõ ràng, chính xác, mong dự thảo sớm được thông qua và thực hiện.

  • Mừng muốn rơi nước mắt. tính pháp lý, nhân văn, xã hội và kinh tế của nghị định đã chặt chẻ và rỏ ràng hơn nhiều rồi. Xin chân thành cảm ơn tất cả các cấp và các cá nhân đã đóng góp soạn thảo nghị định nầy. . 
    Xin đại diện những người làm công tác kỷ thuật và chẩn đoán hình ảnh, tôi xin lại một lại để tạ ơn quý cấp.

    • Xin quy cap xem xet lai danh hieu cu nhan xquang đai hoc. Vi chung chi van bang la cu nhan ky thuat hinh anh. Khong có cu nhan xquang .

  • Xin quy cap xem xet lai danh hieu cu nhan xquang đai hoc. Vi chung chi van bang la cu nhan ky thuat hinh anh. Khong có cu nhan xquang .

  • Trong các ngành mũi nhọn của công nghệ sinh học có kỹ thuật y sinh. Hiện nay ứng dụng của công nghệ sinh học trong lĩnh vực y dược rất nhiều, thậm chí chuyên sâu về y dược nhiều hơn cả cuj73 nhân sinh học.  Vậy thì cử nhân công nghệ sinh học có được xem như cử nhân sinh học hay không, Điều nay Bộ y tế chưa quy định rõ. Rất mong Bộ y tế xem xét thực tế về các ngành liên quan tới kỹ thuật xét nghiệm hơn. Xin cảm ơn. 

    • Đúng đấy chị, mong rằng cử nhân Công nghệ sinh học cũng được cấp chứng chỉ hành nghề

  • Điều 22 có …,s) Phòng khám chuyên khoa khác ,…và h) Cơ sở dịch vụ y tế khác..như vậy người có CCHN  được phép mở DV y tế khác ngoài các loại hình mà bộ kể ra phù hợp với bằng cấp ,cụ thể dịch vụ chăm sóc răng miệng hay phòng khám chuyên khoa tâm lý . Đề nghị bộ nói rỏ hơn , xin cám ơn !

  • Chương II
    CẤP, CẤP LẠI CHỨNG CHỈ HÀNH NGHỀ
    Mục 1
    HỒ SƠ, THỦ TỤC CẤP, CẤP LẠI CHỨNG CHỈ HÀNH NGHỀ
    Điều 5. Hồ sơ đề nghị cấp lần đầu chứng chỉ hành nghề đối với người Việt Nam
    2. Bản sao hợp lệ văn bằng chuyên môn phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề, cụ thể như sau:
    b) Văn bằng cử nhân hóa học, sinh học, dược sĩ trình độ đại học đối với người đã được tuyển dụng làm chuyên ngành xét nghiệm trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 kèm theo chứng chỉ hoặc giấy chứng nhận đào tạo chuyên ngành kỹ thuật y học về xét nghiệm tối thiểu 3 tháng trở lên;
    kính thưa BỘ y tế; Cử nhân sinh học ở đây là bao gồm Sinh học và công nghệ sinh học phải không ạ ?

  • Hiện nay, con tôi đã tốt nghiệp cử nhân công nghệ sinh học và đang làm trong khoa xét nghiệm của bệnh viện. Cháu nó rất tâm huyết với nghề nhưng lại không được cấp chứng chỉ hành nghề, điều nay tôi rất lo lắng vì cháu nó không được công nhận chuyên môn và không được làm việc lâu dài trong bệnh viện được. Tôi mong Bộ Y Tế hãy thêm CỬ NHÂN CÔNG NGHỆ SINH HỌC vào đối tượng được cấp chứng chỉ hành nghề, để con tôi được an tâm công tác. Xin chân thành cảm ơn Bộ Y Tế rất nhiều!!!!

  • Cử nhân Công nghệ sinh học đã và đang đóng vai trò quan trọng trong các phòng/khoa Xét nghiệm của bệnh viện nhưng lai không được cấp chứng chỉ hành nghề. Đề nghị Bộ Y tế nên thêm vào đối tượng CỬ NHÂN CÔNG NGHỆ SINH HỌC vào chương II mục 1 Điều 5 Khoản 2 Điểm b trước ngày nghị định ban hành, để chúng tôi yên tâm công tác và được đối xử bình đẳng như cử nhân sinh học, hóa học. Xin chân thành cảm ơn

  • Khi Nghị định 41 ban hành cho phép đối tượng cử nhân sinh học, hóa học làm việc trong ngành xét nghiệm được cấp chứng chỉ hành nghề nhưng đối tượng Cử nhân Công nghệ sinh học lại không được cấp. Kính mong Bộ Y Tế xem xét, bổ sung thêm đối tượng Cử nhân Công nghệ sinh học cũng được cấp chứng chỉ hành nghề. Xin cảm ơn!!

  • Rất mong Bộ Y Tế xem xét đối tượng Cử nhân công nghệ sinh học đã có chứng chỉ Kỹ thuật y học trên 3 tháng và đang làm công tác xét nghiệm cũng được cấp chứng chỉ hành nghề

  • Kính mong Bộ Y Tế xem xét, bổ sung thêm đối tượng Cử nhân Công nghệ sinh học đang làm việc tại khoa Xét nghiệm của bệnh viện được cấp chứng chỉ hành nghề. Xin cảm ơn

  • Tại điểm 3, điều 9: “Trường hợp …. người hành nghề không làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nào thì nộp hồ sơ về Sở Y tế nơi có nơi đăng ký thường trú để đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề”
    Tại điểm này sẽ làm khó cho các Sở Y tế: Đề nghị ban soạn thảo nghiên cứu bỏ điểm này và có thể thêm vào: Địa phương nào xác nhận thực hành thì địa phương đó cấp CCHN.

  • Tại điểm 3, điều 9: “Trường hợp …. người hành nghề không làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nào thì nộp hồ sơ về Sở Y tế nơi có nơi đăng ký thường trú để đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề”
    Tại điểm này sẽ làm khó cho các Sở Y tế: VD Phòng khám đa khoa tư nhân của Tỉnh A xác nhận thực hành về tỉnh B cấp CC (cá nhân có hộ khẩu ở tỉnh B).
    Đề nghị ban soạn thảo nghiên cứu bỏ điểm này và có thể thêm vào: Địa phương nào xác nhận thực hành thì địa phương đó cấp CCHN.

  • có văn bằng cn x quang đại học. xin đề nghị cả 2 văn bằng cn x quang và cn kỹ thuật hình ảnh đều được đứng tên phòng x quang. rất cảm ơn quí cấp

    • ĐỀ NGHỊ BỘ Y TẾ. CỤC QUẢN LÝ KHÁM CHỮ BỆNH, NÊN SỬA LẠI LÀ CỬ NHÂN XÉT NGHIỆM, VÌ BẰNG CẤP GHI LÀ CỬ NHÂN CHỨ KHÔNG PHẢI GHI LÀ KỸ THUẬT VIÊN. GIỐNG NHƯ CỬ NHÂN X -QUANG. GHI KỸ THUẬT VIÊN THÌ TƯƠNG ỨNG CHỈ LÀ TỐT NGHIỆP TRUNG CẤP MÀ THÔI.

    • ĐỀ NGHỊ BỘ Y TẾ. CỤC QUẢN LÝ KHÁM CHỮ BỆNH, NÊN SỬA LẠI LÀ CỬ NHÂN XÉT NGHIỆM, VÌ BẰNG CẤP GHI LÀ CỬ NHÂN CHỨ KHÔNG PHẢI GHI LÀ KỸ THUẬT VIÊN. GIỐNG NHƯ CỬ NHÂN X -QUANG. GHI KỸ THUẬT VIÊN THÌ TƯƠNG ỨNG CHỈ LÀ TỐT NGHIỆP TRUNG CẤP MÀ THÔI.

  • kính mong Bộ y tế và ban soạn thảo xem xét lại,nên cấp CCHN cho các cử nhân công nghệ sinh hoc. Đã học lớp bồi dưỡng xét nghiệm 1 năm,công tác tại phòng xét nghiệm hơn 5 năm nhưng không được cấp CCHN thật sự rất buồn và thất vọng. 

  • Tại điểm 3, điều 9: “Trường hợp tại thời điểm đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề, người hành nghề không làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nào thì nộp hồ sơ về Sở Y tế nơi có nơi đăng ký thường trú để đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề”Tại điểm này sẽ làm khó cho các Sở Y tế: VD Phòng khám đa khoa tư nhân của Tỉnh A xác nhận thực hành về tỉnh B cấp CC (cá nhân có hộ khẩu ở tỉnh B).Đề nghị ban soạn thảo nghiên cứu bỏ điểm này và có thể thêm vào: Địa phương nào xác nhận thực hành thì địa phương đó cấp CCHN.  

    • Không tính thời gian học chuyên khoa định hướng là sao.mới mấy tháng trước tính mà 4 tháng sau bỏ.

  • Tại điểm 3, điều 9: “Trường hợp tại thời điểm đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề, người hành nghề không làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nào thì nộp hồ sơ về Sở Y tế nơi có nơi đăng ký thường trú để đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề”Tại điểm này sẽ làm khó cho các Sở Y tế: VD Phòng khám đa khoa tư nhân của Tỉnh A xác nhận thực hành về tỉnh B cấp CC (cá nhân có hộ khẩu ở tỉnh B)….Đề nghị ban soạn thảo nghiên cứu bỏ điểm này và có thể thêm vào: Địa phương nào xác nhận thực hành thì địa phương đó cấp CCHN.  

  • Tại điểm 3, điều 9: “Trường hợp tại thời điểm đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề, người hành nghề không làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nào thì nộp hồ sơ về Sở Y tế nơi có nơi đăng ký thường trú để đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề”
    Tại điểm này sẽ làm khó cho các Sở Y tế: VD Phòng khám đa khoa tư nhân của Tỉnh A xác nhận thực hành về tỉnh B cấp CC (cá nhân có hộ khẩu ở tỉnh B).
    Đề nghị ban soạn thảo nghiên cứu bỏ điểm này và có thể thêm vào: Địa phương nào xác nhận thực hành thì địa phương đó cấp CCHN.

  • kính thưa cô chú con thống nhất với dự thảo , tuy nhiên con xin góp một số ý kiến . con tốt nghiệp nghành cử nhân vật lý trị liệu nhưng con thấy trong dự thảo chỉ đề cấp đến ở Điều 39 . Điều kiện hoạt động đối với cơ sở dịch vụ xoa bóp, thì chúng con chì có thể làm trong dịch vụ này , chúng con muốn cùng nghành y tế chung tay trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân . hiện nay bác sỹ chuyên nghành vật lý trị liệu – phục hồi chức năng rất hiếm , ở vùng sâu vùng xa của chúng con càng hiếm , mà nhu cầu điều trị vật lý trị liệu – phục hồi chức năng của bệnh nhân hiện nay rất nhiều , theo khoản 3 điều 4 thông tư 46/2013/TT-BYT ban hành ngày 31/12/2013  cử nhân vật lý trị liệu không được cho chỉ định vật lý trị liệu -phục hồi chức năng , các bệnh gãy xương chúng con không được cho chỉ định xquang để kiểm tra để đưa ra chương trình điều trị cho hiệu quả đây rất thiệt thòi cho bệnh nhân và bào hiểm y tế cũng không cho chúng con thực hiện . bên ngoài bệnh viện thì chúng con không được đăng ký theo chuyên nghành mình đã học, mà chỉ đăng ký  dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà hoặc đăng ký ở điều 39 . con mong sao các cô chú xem xét lại để cho cử nhân vật lý trị liệu – phục hồi chức năng cho được chì định vật lý trị liệu – phục hồi chức năng , được cho các xquang cơ bản để theo dõi và điều trị bệnh , bên ngoài con mong cho chúng con được mở phòng thực hiện kỹ thuật vật lý trị liệu – phục hồi chức năng hoặc phòng điều trị phục hồi chức năng để chúng con có thể an tâm công việc và làm việc tận tâm hơn cho nghành y tế . kính chúc sức khỏe cô chú . trân trọng kính chào 

  • Đề nghị cho phép cử nhân vật lý trị liệu được khám và chỉ định kỹ thuật vật lý trị liệu-phục hồi chức năng, được phép mở phòng khám vật lý trị liệu- phục hồi chức năng chứ không phải chỉ có mở xoa bóp.

  • Kính gửi: Bộ y tế,
    Tôi là Cử nhân Phục hồi chức năng (Theo bằng đại học được cấp của Đại học Kỹ thuật y tế Hải Dương)
    Trong quá trình học tập, rèn luyện và làm việc thực tế, tôi nhận thấy khả năng làm việc độc lập về chuyên ngành vật lý trị liệu/ phục hồi chức năng của các cử nhân (Đại học). Chúng tôi có thể độc lập khám, lượng giá, lên kế hoạch phục hồi chức năng cho bệnh nhân. Với đặc thù đạo tạo chuyên ngành vật lý trị liệu/ phục hồi chức năng hiện nay thì những kỹ thuật chuyên ngành các cử nhân có thể nắm vững và độc lập làm việc, thực hành trực tiếp trên bệnh nhân chứ không phải là bác sĩ phục hồi chức năng.
    Với thực tế hiện tại ở Việt Nam chuyên ngành vật lý trị liệu – phục hồi chức năng chưa được chú trọng phát triển trong khi tại các nước tiên tiến khác chuyên ngành này rất được chú trọng. Là bước thứ 3 của y học sau phòng bệnh và điều trị.
    Vì vậy, tôi mong rằng các ban ngành có thẩm quyền hãy xem xét và tạo cơ hội để cử nhân phục hồi chức năng – vật lý trị liệu nói riêng và chuyên ngành Phục hồi chức năng nói chung được đứng tên Phòng khám phục hồi chức năng hoặc đủ điều kiện mở phòng tập luyện phục hồi chức năng, góp phần để Bước thức 3 của y học là Phục hồi được phát triển và phù hợp với trình độ của chúng tôi hiện tại.
    Trân trọng./.

  • Phòng Hành nghề y;
    – Ban soạn thảo Nghị định về Hành nghề Khám chữa bệnh;
    -Cục Quản lý KCB Bộ y tế.
    Chúng tôi là những Cử nhân Đại học Vật lý trị liệu( VLTL) sau khi đọc dự thảo Nghị định về hành nghề y dược được đăng ngày 24/3/2016 và ngày 20/7/2016, xin phép được đề đạt nguyện vọng và có ý kiến như sau:
    – Dự thảo ngày 24/3/2016 tại Điều 29 khoản 4, điểm K quy định về người chịu trách nhiệm chuyên môn của phòng khám PHCN là Cử nhân Vật lý Trị liệu trình độ Đại học trở lên, chúng tôi rất vui mừng và thấy như vậy là rất phù hợp!
    – Tuy nhiên tới dự thảo đăng ngày 20/7/2016 tại Điều 26, điểm 3 quy định điều kiện cấp phép phòng khám chuyên khoa lại ghi: phụ trách chuyên môn phòng khám Phục hồi chức năng( PHCN) là Bs chuyên khoa VLTL và PHCN hoặc PHCN. Như vậy là CN. VLTL- PHCN lại không được đứng làm người chịu trách nhiệm chuyên môn?!
    Điều 39 : Cơ sở dịch vụ xoa bóp do Bs, KTV, y sỹ có chứng chỉ PHCN hoặc y sỹ yhct chịu trách nhiệm chuyên môn, điều này chúng tôi hoàn toàn nhất trí. Tuy nhiên chỉ giới hạn cho đối tượng là Bs, Cử nhân hay KTV muốn làm chỉ dịch vụ xoa bóp, xông hơi mà thôi. Những dịch vụ khác của Vật lý trị liệu- PHCN thì không thể triển khai.
    Chúng tôi là những Cử nhân Đại học Vật lý trị liệu nhận thấy và kính đề nghị:
    – Nhằm gia tăng cơ hội tiếp cận dịch vụ PHCN cho người bệnh vốn nhu cầu to lớn tại cộng đồng và cơ hội phát triển nghề nghiệp PHCN, tăng thu nhập, công bằng. Kính mong BYT, Cục Quản lý KCB cho phép Cử nhân đại học Vật lý trị liệu được chịu trách nhiệm chuyên môn phòng khám Phục hồi chức năng (chỉ không được kê đơn thuốc!)
    – Hoặc thêm khoản: Cơ sở dịch vụ Vật lý trị liệu vào Điều 29 quy định về cơ sở dịch vụ y tế.
    Cử nhân VLTL- PHCN là người được đào tạo đầy đủ để có khả năng độc lập: Khám, lượng giá, chẩn đoán vấn đề Giảm khả năng, Khuyết tật sau đó có khả năng lập kế hoạch PHCN bằng sử dụng thành thạo nhiều kỹ thuật VLTL- PHCN như : Điện trị liệu, Nhiệt trị liệu, vận động trị liệu, di động khớp, laser, xoa bóp…
    -Xoa bóp chỉ là 01 kỹ thuật nhỏ trong PHCN. Vậy nếu cho CN.VLTLchỉ được làm cơ sở xoa bóp là không hợp lý và rất lãng phí về nhân lực y tế nói chung và nghành PHCN- VLTL nói riêng.
    Kính mong phòng Quản lý hành nghề y, Ban soạn thảo Cục Quản lý KCB, Bộ y tế xét duyệt, sửa đổi.
    Xin trân trọng cảm ơn!

  •  Kính gửi ban soạn thảo , cục Quản lý KCB!
    Dự thảo ngày 24/3/2016 tại Điều 29 khoản 4, điểm K quy định về người chịu trách nhiệm chuyên môn của phòng khám PHCN là Cử nhân Vật lý Trị liệu Đại học trở lên, chúng toi thấy rất phù hợp!
    Tới Dự thảo lần này ngày 20/7/2016 tại Điều 26, điểm 3 quy định điều kiện cấp phép phòng khám chuyên khoa lại ghi: phụ trách chuyên môn phòng khám PHCN là BS phcn.
    Điều 39 : cơ sở dịch vụ xoa bóp do Bs, ktv, y sỹ có chứng chỉ Phcn hoặc y sỹ yhct chịu trách nhiệm chuyên môn.
    Chúng tôi là CN. Vật lý trị liệu nhận thấy và kính đề nghị:
    – Nhằm gia tăng cơ hội tiếp cận dịch vụ PHCN cho nguoi bệnh và cơ hội phát triển nghề, tăng thu nhập, công bằng nghề nghiệp. Hãy cho phép CN. Vật lý trị liệu được chịu trách nhiệm phòng khám Phục hồi chức năng, chỉ không được kê đơn thuốc!
    – Hoặc thêm khoản: Cơ sở dịch vụ Vật lý trị liệu vào Điều 29 quy định về cơ sở dịch vụ y tế.
    Cử nhân VLTL- PHCN là người được đào tạo đầy đủ để có khả năng độc lập: Khám, lượng giá, chẩn đoán vấn đề Giảm khả năng, khuyết tật sau đó có khả năng lập kế hoạch PHCN bằng sử dụng thành thạo nhiều kỹ thuật VLTL- PHCN như : Điện trị liệu, vận động trị liệu, di động khớp, laze, xoa bóp…
    Xoa bóp chỉ là 01 kỹ thuật trong PHCN. Vậy nếu cho CN.VLTl chỉ được làm cơ sở xoa bóp là không hợp lý và lãng phi, mất công bằng!
    Kính mong phòng PHCC, Cục QLKCB, BYT xét duyệt!
    Xin trân trọng cảm ơn!

  • kính gửi bộ y tếtôi là cử nhân phục hồi chức năng,sau quá trình học tập và làm việc tôi nhận thấy bs phcn hiện nay là bs học chứng chỉ phcn 3- 6 tháng chưa đủ để hiểu sâu về phcn trong khi cử nhân phcn sau 4 năm học tập đầy đủ các kiến thức để độc lập trong khám, lượng giá và lập kế hoạch phcn vì thế xin bộ y tế sửa đổi khoản 3 điều 29 về điều kiện cấp chứng chỉ hoạt động cho các phòng khám chuyên khoa về nhân sự phòng khám phục hồi chức năng: Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật là cử nhân vật lý trị liệu – phục hồi chức năng (trình độ đại học trở lên)

  • Kính gửi Cục Quản lý khám, chữa bệnh Bộ Y Tế ! Tôi là Cử nhân đại học Phục hồi chức năng (Theo bằng đại học được cấp của Đại học Kỹ thuật y tế Hải Dương)
    Trong quá trình học tập, rèn luyện và làm việc thực tế, tôi nhận thấy khả năng làm việc độc lập về chuyên ngành vật lý trị liệu/ phục hồi chức năng của các cử nhân (Đại học). Chúng tôi có thể độc lập khám, lượng giá, lên kế hoạch phục hồi chức năng cho bệnh nhân. Với đặc thù đào tạo chuyên ngành vật lý trị liệu/ phục hồi chức năng hiện nay thì những kỹ thuật chuyên ngành các cử nhân có thể nắm vững và độc lập làm việc, thực hành trực tiếp trên bệnh nhân.Thực tế lâm sàng cho thấy,hiệu quả điều trị PHCN người bệnh phụ thuộc vào trình độ chuyên môn của KTV PHCN Với thực tế hiện tại ở Việt Nam chuyên ngành vật lý trị liệu – phục hồi chức năng chưa được chú trọng phát triển trong khi tại các nước tiên tiến khác chuyên ngành này rất được chú trọng. Là bước thứ 3 của y học sau phòng bệnh và điều trị.
    Vì vậy, tôi mong rằng các ban ngành có thẩm quyền hãy xem xét và tạo cơ hội để cử nhân phục hồi chức năng – vật lý trị liệu nói riêng và chuyên ngành Phục hồi chức năng nói chung được đứng tên Phòng khám phục hồi chức năng hoặc đủ điều kiện mở phòng tập luyện phục hồi chức năng.Góp phần để Bước 3 của y học là Phục hồi được phát triển,công bằng  và phù hợp với trình độ của chúng tôi hiện nay.Trân trọng cám ơn !

  • Tôi là cử nhân Phục hồi chức năng. Kính mong cục quản lý KCB, Ban soạn thảo xem xét lại vấn đề cấp giấy phép hoạt động cho phòng khám PHCN. Chúng tôi được đào tạo để có thể độc lập khám, lượng giá, và ra y lệnh cho các bệnh chuyên khoa về PHCN. Hơn nữa, xin thống nhất cách gọi, cấp bằng trong các trường Đại học

  • BYT và Cục QLKCB cần xem lại Điều 26 và Điều 39,chúng tôi là CN VLTL, được đào tạo để khám, lượng giá, chỉ định và thực hiện các kỹ thuật về chuyên ngành PHCN,nên đủ năng lực và trình độ để chỉ định và chịu trách nhiệm về phòng khám PHCN. Kỹ thuật xoa bóp chỉ là một phần nhỏ trong các kỹ thuật VLTL, nếu để cho CN VLTL chỉ chịu trách nhiệm về phần này sẽ hạn chế về phạm vi hoạt động chuyên môn và  không công bằng về hoạt động nghề nghiệp, xin BYT và Cục QLKCB xem lại…xin cám ơn…

  • Kính gửi Cục Quản lý khám, chữa bệnh Bộ Y Tế !
    Tôi là một Cử nhân Vật lý trị liệu – Phục hồi chức năng,tôi thấy hiện tại ngành PHCN hầu hết là các bác sĩ học chứng chỉ định hướng PHCN,có những trường hợp gần như chỉ chuyển sang PHCN vì không còn lựa chọn nào khác dẫn đến việc chỉ định kỹ thuật PHCN chưa hợp lý, một số còn k nhớ, k biết tới các kỹ thuật PHCN…làm ảnh hưởng tới việc điều trị cho người bệnh. Trong khi đó Cử nhân Vật Lý Trị liệu – Phục hồi chức năng được đào tạo đầy đủ đáp ứng khám , điều trị  phục hồi chức năng .
    Thực tế lâm sàng cho thấy hiệu quả điều trị phụ thuộc lớn vào trình độ  KTV Phục hồi chức năng
    Do đó , tôi kính mong Cục Quản Lý khám, Chữa bệnh  Bộ Y tế sớm có phương án phù hợp xây dựng cơ chế hành nghề cho phép Cử Nhân Vật lý trị liệu – Phục hồi chức năng được phép chịu trách nhiệm chuyên môn, kỹ thuật một cơ sở Phục hồi chức năng , góp phần xây dựng, phát triển ngành PHCN VN.
     Xin chân thành cám ơn!

  • Kính gửi ban soạn thảo , cục Quản lý KCB! Tôi xin phép đóng góp ý kiến dự thảo như sau

    Dự thảo ngày 24/3/2016 tại Điều 29 khoản 4, điểm K quy định về người chịu trách nhiệm chuyên môn của phòng khám PHCN là Cử nhân Vật lý Trị liệu  (hay Cử nhân Phục hồi chức năng) Đại học trở lên, chúng tôi thấy rất phù hợp!
     Tới Dự thảo lần này ngày 20/7/2016 tại Điều 26, điểm 3 quy định điều kiện cấp phép phòng khám chuyên khoa lại ghi: phụ trách chuyên môn phòng khám PHCN là BS phcn. 
    Điều 39 : cơ sở dịch vụ xoa bóp do Bs, ktv, y sỹ có chứng chỉ Phcn hoặc y sỹ yhct chịu trách nhiệm chuyên môn.
    Chúng tôi là CN. Vật lý trị liệu (hoặc Cử nhân Phục hồi chức năng) nhận thấy và kính đề nghị:
     – Nhằm gia tăng cơ hội tiếp cận dịch vụ PHCN cho nguoi bệnh và cơ hội phát triển nghề, tăng thu nhập, công bằng nghề nghiệp. Hãy cho phép CN. Vật lý trị liệu (Cử nhân Phục hồi chức năng) được chịu trách nhiệm phòng khám Phục hồi chức năng, chỉ không được kê đơn thuốc!
     – Hoặc thêm khoản: Cơ sở dịch vụ Vật lý trị liệu vào Điều 29 quy định về cơ sở dịch vụ y tế.
     Cử nhân VLTL- PHCN là người được đào tạo đầy đủ để có khả năng độc lập: Khám, lượng giá, chẩn đoán vấn đề Giảm khả năng, khuyết tật sau đó có khả năng lập kế hoạch PHCN bằng sử dụng thành thạo nhiều kỹ thuật VLTL- PHCN như : Điện trị liệu, vận động trị liệu, di động khớp, laze, xoa bóp…
     Xoa bóp chỉ là 01 kỹ thuật trong PHCN. Vậy nếu cho CN.VLTL (Cử nhân Phục hồi chức năng) chỉ được làm cơ sở xoa bóp là không hợp lý và lãng phi, mất công bằng!
     Kính mong phòng PHCC, Cục QLKCB, BYT xét duyệt!
     Xin trân trọng cảm ơn/

  • Kính gửi bộ y tếTôi là cử nhân phục hồi chức năng, qua quá trình học tập và làm việc tôi nhận thấy bs phcn hiện giờ là bs có chứng chỉ học phcn 3 – 6 tháng chưa thể tìm hiểu sâu về phcn nên cho các y lệnh còn chưa hợp lý, trong khi cử nhân phcn sau quá trình học 4 năm, được học đầy đủ các kiến thức đủ để độc lập khám, lượng giá và lập kế hoạch phcn,vì thế xin đề nghị bộ ytế sửa đổi khoản 3 điều 26 về điều kiện cấp giấy phép hoạt động cho các phòng khám chuyên khoa về nhân sự của phòng khám chuyên khoa phcn bổ sung thêm cử nhân phcn

  • Đề nghị cục cho cử nhân Vật lý trị liệu đươc đứng tên phòng khám và điều trị bằng kỹ thuật vật lý trị liệu

    • Tôi là cứ nhân vật lý trị liệu, đang công tác tại một bệnh viện chuyên khoa phục hồi chức năng. Tôi đề nghị ban soạn thảo, cục quản lý KCB xem xét lại việc người đứng tên các phòng khám VLTL/PHCN. Tại sao chúng tôi học 4 năm lại không thể ra y lệnh và được mở phòng khám. Trong khi đó, các bác sỹ, y sỹ chi cần học định hướng 3 tháng là được phép ra chỉ định. Họ chưa chắc đã hiểu sâu về chuyên ngành như chúng tôi. Kính mong xem xét lại vấn đề này. Đây là vấn đề vô cùng bức xúc của số đông anh chị e trong ngành PHCN. Trân trọng.

  • Kính gửi:
    – Phòng Hành nghề y;
    – Ban soạn thảo Nghị định về Hành nghề Khám chữa bệnh;
    -Cục Quản lý KCB Bộ y tế.
    Chúng tôi là những Cử nhân Đại học Vật lý trị liệu( VLTL) sau khi đọc dự thảo Nghị định về hành nghề y dược được đăng ngày 24/3/2016 và ngày 20/7/2016, xin phép được đề đạt nguyện vọng và có ý kiến như sau:
    – Dự thảo ngày 24/3/2016 tại Điều 29 khoản 4, điểm K quy định về người chịu trách nhiệm chuyên môn của phòng khám PHCN là Cử nhân Vật lý Trị liệu trình độ Đại học trở lên, chúng tôi rất vui mừng và thấy như vậy là rất phù hợp!
    – Tuy nhiên tới dự thảo đăng ngày 20/7/2016 tại Điều 26, điểm 3 quy định điều kiện cấp phép phòng khám chuyên khoa lại ghi: phụ trách chuyên môn phòng khám Phục hồi chức năng( PHCN) là Bs chuyên khoa VLTL và PHCN hoặc PHCN. Như vậy là CN. VLTL- PHCN lại không được đứng làm người chịu trách nhiệm chuyên môn?!
    Điều 39 : Cơ sở dịch vụ xoa bóp do Bs, KTV, y sỹ có chứng chỉ PHCN hoặc y sỹ yhct chịu trách nhiệm chuyên môn, điều này chúng tôi hoàn toàn nhất trí. Tuy nhiên chỉ giới hạn cho đối tượng là Bs, Cử nhân hay KTV muốn làm chỉ dịch vụ xoa bóp, xông hơi mà thôi. Những dịch vụ khác của Vật lý trị liệu- PHCN thì không thể triển khai.
    Chúng tôi là những Cử nhân Đại học Vật lý trị liệu nhận thấy và kính đề nghị:
    – Nhằm gia tăng cơ hội tiếp cận dịch vụ PHCN cho người bệnh vốn nhu cầu to lớn tại cộng đồng và cơ hội phát triển nghề nghiệp PHCN, tăng thu nhập, công bằng. Kính mong BYT, Cục Quản lý KCB cho phép Cử nhân đại học Vật lý trị liệu được chịu trách nhiệm chuyên môn phòng khám Phục hồi chức năng (chỉ không được kê đơn thuốc!)
    – Hoặc thêm khoản: Cơ sở dịch vụ Vật lý trị liệu vào Điều 29 quy định về cơ sở dịch vụ y tế.
    Cử nhân VLTL- PHCN là người được đào tạo đầy đủ để có khả năng độc lập: Khám, lượng giá, chẩn đoán vấn đề Giảm khả năng, Khuyết tật sau đó có khả năng lập kế hoạch PHCN bằng sử dụng thành thạo nhiều kỹ thuật VLTL- PHCN như : Điện trị liệu, Nhiệt trị liệu, vận động trị liệu, di động khớp, laser, xoa bóp…
    -Xoa bóp chỉ là 01 kỹ thuật nhỏ trong PHCN. Vậy nếu cho CN.VLTLchỉ được làm cơ sở xoa bóp là không hợp lý và rất lãng phí về nhân lực y tế nói chung và nghành PHCN- VLTL nói riêng.
    Kính mong phòng Quản lý hành nghề y, Ban soạn thảo Cục Quản lý KCB, Bộ y tế xét duyệt, sửa đổi.
    Xin trân trọng cảm ơn!

  • Kính gửi:
    – Phòng Hành nghề y;
    – Ban soạn thảo Nghị định về Hành nghề Khám chữa bệnh;
    -Cục Quản lý KCB Bộ y tế.
    tôi là Cử nhân Đại học Vật lý trị liệu( VLTL) sau khi đọc dự thảo Nghị định về hành nghề y dược được đăng ngày 24/3/2016 và ngày 20/7/2016, xin phép được đề đạt nguyện vọng và có ý kiến như sau:
    – Dự thảo ngày 24/3/2016 tại Điều 29 khoản 4, điểm K quy định về người chịu trách nhiệm chuyên môn của phòng khám PHCN là Cử nhân Vật lý Trị liệu trình độ Đại học trở lên, chúng tôi rất vui mừng và thấy như vậy là rất phù hợp!
    – Tuy nhiên tới dự thảo đăng ngày 20/7/2016 tại Điều 26, điểm 3 quy định điều kiện cấp phép phòng khám chuyên khoa lại ghi: phụ trách chuyên môn phòng khám Phục hồi chức năng( PHCN) là Bs chuyên khoa VLTL và PHCN hoặc PHCN. Như vậy là CN. VLTL- PHCN lại không được đứng làm người chịu trách nhiệm chuyên môn?!
    Điều 39 : Cơ sở dịch vụ xoa bóp do Bs, KTV, y sỹ có chứng chỉ PHCN hoặc y sỹ yhct chịu trách nhiệm chuyên môn, điều này chúng tôi hoàn toàn nhất trí. Tuy nhiên chỉ giới hạn cho đối tượng là Bs, Cử nhân hay KTV muốn làm chỉ dịch vụ xoa bóp, xông hơi mà thôi. Những dịch vụ khác của Vật lý trị liệu- PHCN thì không thể triển khai.
    Chúng tôi là những Cử nhân Đại học Vật lý trị liệu nhận thấy và kính đề nghị:
    – Nhằm gia tăng cơ hội tiếp cận dịch vụ PHCN cho người bệnh vốn nhu cầu to lớn tại cộng đồng và cơ hội phát triển nghề nghiệp PHCN, tăng thu nhập, công bằng. Kính mong BYT, Cục Quản lý KCB cho phép Cử nhân đại học Vật lý trị liệu được chịu trách nhiệm chuyên môn phòng khám Phục hồi chức năng (chỉ không được kê đơn thuốc!)
    – Hoặc thêm khoản: Cơ sở dịch vụ Vật lý trị liệu vào Điều 29 quy định về cơ sở dịch vụ y tế.
    Cử nhân VLTL- PHCN là người được đào tạo đầy đủ để có khả năng độc lập: Khám, lượng giá, chẩn đoán vấn đề Giảm khả năng, Khuyết tật sau đó có khả năng lập kế hoạch PHCN bằng sử dụng thành thạo nhiều kỹ thuật VLTL- PHCN như : Điện trị liệu, Nhiệt trị liệu, vận động trị liệu, di động khớp, laser, xoa bóp…
    -Xoa bóp chỉ là 01 kỹ thuật nhỏ trong PHCN. Vậy nếu cho CN.VLTLchỉ được làm cơ sở xoa bóp là không hợp lý và rất lãng phí về nhân lực y tế nói chung và nghành PHCN- VLTL nói riêng.
    Kính mong phòng Quản lý hành nghề y, Ban soạn thảo Cục Quản lý KCB, Bộ y tế xét duyệt, sửa đổi.
    Xin trân trọng cảm ơn!

  • Kính thưa Bộ Y tế.Tôi là cử nhân vật lý trị liệu, qua dự thảo lần này, tôi thấy bộ có nhiều thay đổi tích cực cho những nhóm ngành y tế. Riêng về ngành VLTL-PHCN ngoài những đổi mới tích cực của bộ, thì tôi kính mong Bộ xem xét thêm: 1. Trong chứng chỉ hành nghề của chúng tôi có ghi phạm vi hoạt động chuyên môn : kỹ thuật viên vật lý trị liệu.  Vậy có khác gì giữa trình độ đại học ( 4 năm)  và trung cấp ( 2 năm) ? 2. Cử Nhân vật lý trị liệu học 4 năm, trong đó có 2 năm đại cương, bệnh học và 2 năm chuyên ngành về Vật lý trị liệu – phục hồi chức năng. Lại không sâu chuyên môn về vật lý trị liệu – phục hồi chức năng so với BS PHCN chỉ học từ 6 đến 12 tháng??3. Trong miền Nam số bác sĩ chuyên khoa PHCN chỉ đếm trên đầu ngón tay (chủ yếu tập trung ở TP HCM, các tỉnh hầu như không có). Nếu chỉ có Bác sĩ PHCN mới được mở phòng khám về PHCN thì có lẽ người dân miền nam không biết làm sao để có thể được sử dụng dịch vụ PHCN ngoài bệnh viện. Mà hiện giờ nhu cầu của bệnh nhân cho dịch vụ này khá cao. Nhất là các vùng sâu, vùng xa.4. Tôi cũng là 1 giáo viên về VLTL -PHCN, tôi đào tạo đối tượng Y Sĩ định hướng PHCN để sau này khi các em ấy có chứng chỉ về PHCN, các em ấy cho chỉ định ngược lại chúng tôi và phải nhờ các em ấy chúng tôi mới có cơ sở ( phòng khám) để hành nghề. Điều này làm tôi khá đau đầu.
     Đó là những trăn trở của tôi và nhiều đồng nghiệp khác của tôi. Tôi kính mong Bộ Y Tế xem xét và giúp chúng tôi giải tỏa những bức xúc này. Kính mong nhận được sự quan tâm để chúng tôi yên tâm công tác theo đúng chức năng nghiệp vụ của mình. Cũng là phục vụ cho người dân, những người thật sự cần sự điều trị của VLTL – PHCN (chứ không riêng các cơ sở Massage).Kính chào.

    • Tôi đồng ý với bạn Minh Hằng và ngay như bác sĩ học định hướng phcn cũng do chúng tôi dạy, vậy mà chúng tôi không thể chỉ định phcn!!!

  • Kính xin được kiến nghị, bổ sung, sửa đổi một số Điều, Khoản trong Dự thảo Nghị định khám chữa bệnh:
    – Điều 22, Khoản 13, Điểm h, về cơ sở dịch vụ y tế khác. Xin liệt kê rõ các dịch vụ và bổ sung: Cơ sở dịch vụ VLTL-PHCN.
    – Điều 26, Khoản 3, Điểm a, về người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của Phòng khám chuyên khoa PHCN. Xin sửa đổi là: BS có chứng chỉ hành nghề PHCN hoặc Cử nhân VLTL-PHCN có trình độ đại học trở lên.
    – Điều 34, về điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tại nhà. Xin được liệt kê thêm: Cơ sở dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tại nhà với chuyên khoa Vật lý trị liệu- PHCN.
    Xin chân thành cảm ơn.

  • Kính gửi ban soạn thảo , cục Quản lý KCB!
     
    Tôi  là Cử nhân vật Lý Trị Liệu tại bệnh viện Nhi Đồng 2 T/P Hồ chí Minh.Tôi xin có một số ý kiến như sau:
     
    1. Cử nhân VLTL thì đầu vào điểm cũng khá cao ( 22 điểm ) , được học 4 năm về chuyên ngành VLTL nên chúng tôi có khả năng lượng giá và điều trị cho bệnh nhân 1 cách độc lập ( như từ trước đấn nay chúng tôi đã làm và ngành nghề ngày càng phát triển.). Vì vậy đề nghị CN.VLTL được quyền chỉ định kỹ thuật VLTL và chúng tôi được phép đứng tên mở phòng VLTL để thực hiện các kỹ thuật ( như các nước tiên tiến đang thực hiện )
     
    2. Để có sự phận hóa giữa các trình độ và cũng nhằm khuyến khích khích lệ sự học tập để nâng cao trình độ và dễ dàng thu hút thí sinh thi vào để nâng cao nguồn nhân lực. Chúng tôi đề nghị cần có chức danh rõ ràng : Kỹ thuật viên VLTL ( trình độ trung cấp ), Cử nhân VLTL ( trình độ đại học ), Thạc sĩ ( trình độ cao học )
     
    3. Chúng tôi mong mỏi được học tập đẻ nâng cao trình độ chuyên môn. Đề nghị được mở các khóa đào tạo thạc sĩ hoặc cho chúng tôi học bổ sung các học phần đẻ chuyển đổi để trở thành Bác sĩ Phục hồi chức năng
     
    4. Các danh mục Phục hồi chức năng cần có sự tham khảo của các bệnh viện,kể cả bệnh viện Nhi của cả nước, có sự tham gia của của Bs PHCN và chuyên viên VLTL để tránh trùng lắp các kỹ thuật như danh mục hiện nay
     
    5. Cần cập nhật bổ sung các kỹ thuật mới ( nhất là VLTL nhi khoa ) vào danh mục để dễ dàng trong việc thanh toán viện phí và nâng cao kiến thức cho Bs PHCN và Chuyên viên PHCN
    .

    Mỗi ngành có đặc thù riêng nhưng phối hợp cùng nhau hoạt động để việc chăm sóc,điều trị, phục hồi cho bệnh nhân tốt hơn. Vì vậy chúng tôi mong rằng ý kiến đề xuất của chúng tôi được xem xét để ngành PHCN ngày càng phát triển và ngang tầm thế giới

     
    Xin Chân thành cám ơn

  • kính thưa cục khám chữa bệnh : sau khi đọc dự thảo tôi xin có ý kiến sau : nghành vật lý trị liệu là nghành đang phát triển , nhu cầu phục hồi chức năng của nhân dân ngày càng cao , và điều trị các bệnh mãn tính bằng phương thức không dùng thuốc hiện nay ngày càng được người dân tin dùng , chúng tôi học đại học chuyên nghành vật lý trị liệu 4 năm đều học dược lý , sinh lý , các bệnh nội ngoại , chẩn đoán hình ảnh …, với các kiến thức đã học chúng tôi có thể khẳng định rằng chúng tôi có thể khám và cho các chỉ định về vật lý trị liệu – phục hồi chứng năng . thông tư 46/2013/tt-byt (quy định chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức cơ sở phục hồi chức năng )thì cử nhân vật lý trị liệu không được cho các chỉ định về vật lý trị liệu , trong khi đó y sỹ có chứng chỉ về phục hồi chức năng thì được cho chỉ định nếu sở y tế cho phép , đều này thấy không hợp lý , vì chúng tôi học chuyên khoa 4 năm thì lại không được , nên việc điều trị cho bệnh nhân gặp nhiều khó khăn , người bệnh luôn thiệt thòi vì không được bảo hiểm y tế thanh toán . và chúng tôi làm việc cũng rất khổ sở và mệt mỏi , dự thảo thông tư này lại không có đề cặp đến chuyên nghành của chúng tôi , chỉ có trong điều 39 dự thảo này là được đứng trong dịch vụ xoa bóp , điều này làm chúng tôi cảm thấy tủi thân . kính mong cục khám chữa bệnh xem xét để cho các chức danh chuyên ngành vật lý trị liệu từ cử nhân trở lên có thể cho các chỉ định về vật lý trị liệu để người dân có thẻ bảo hiểm y tế được điều trị trong lĩnh vực vật lý trị liệu tốt hơn , đồng thời cho chúng tôi mở phòng khám điều trị vật lý trị liệu để cho chúng tôi cùng ngành y tế có thể chăm sóc sức khỏe nhân dân được tốt hơn và góp phần cải thiện được cuộc sống cho các anh em trong ngành vật lý trị liệu – phục hồi chức năng . kính mong cục khám chữa bệnh xem xét , chân thành cảm ơn.

  • Chắc cục khám chữa bệnh chỉ ngồi một chỗ mà đặt qui định thôi nhỉ, các vị hãy đi xuống tận nơi để xem qui định của các vị nó biến tướng đủ đường. Tại sao lại có thể qui định một điều vô lý là cho phép y sỹ chỉ học 2 năm mà dc cho chỉ định vltl, trong khi chúng tôi học 4 năm thì lại không được. Các vị có thấy những người đường đường là bs hẳn hoi lại cho chỉ định vltl lung tung thừa thải chỉ vì họ dc các vị cho quyền đứng tên phòng khám, cho quyền chỉ định vltl một khi họ chỉ cần có một chứng chỉ về vltl thôi. Còn chúng tôi học 4 năm lại ko dc cho, các vị ko thấy đó là điều quá vô lý sao. Tôi rất mong thấy cảnh một ngày nào đó các vị cần điều trị vltl mà các vị gặp ngay một bs y học cổ truyền cho chỉ định, lúc đó các vị mới hiểu nổi khổ của người dân

  • Xin được kiến nghị bổ sung, sửa đổi một số Điều, Khoản trong Dự thảo Qui định khám chữa bệnh:- Điều 22, Khoản 13, Điểm h, về cơ sở dịch vụ y tế khác: cần liệt kê rõ và bổ sung Cơ sở dịch vụ VLTL-PHCN.- Điều 26, Khoản 3, Điểm a, về người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám chuyên khoa PHCN: xin sửa đổi là Bs có chứng chỉ hành nghề PHCN  hoặc CN VLTL-PHCN có trình độ đại học trở lên.- Điều 34

  • Đề nghị cục cho cử nhân Vật lý trị liệu đươc đứng tên phòng khám và điều trị bằng kỹ thuật vật lý trị liệu

  • Tôi thấy nghành PHCN ở Việt Nam còn rất hạn chế , Tôi xin đóng góp ý kiến cho CỬ Nhân PHCN đc khám bệnh chuyên PHCN vì bác sĩ PHCN ở Việt Nam đa phần học 6 tháng chứng chỉ PHCN . Về ra chỉ định thì sai khiến lợi ích bệnh nhân bị đe dọa nghiêm trọng. Ở Vn chúng ta quá chú trọng về thấy mà thợ (Cử Nhân PHCN) mới là những người điều trị chủ yếu, BS họ ra những cái chỉ định máy móc đáp ứng nhu cầu bảo hiểm. 6 tháng mà chỉ định những người học 4 năm đại học . Tôi tha thiết mong các ban nghành lãnh đạo cho CỬ Nhân PHCN được khám bệnh. Đó mới là cái lâu dài cho nghành
    Như trong các bệnh viện lớn HCM Cử NHân được ra chỉ định và được cất nhắc trưởng khoa. Họ phát triển PHCN vượt qua miền bắc quá nhanh. Nếu cục khám chữa bệnh cho CỬ Nhân PHCN đc khám bệnh tôi tin là nghành sẽ phát triển hơn nữa. Để nghành PHCN còn có sinh viên muốn học . Bây h chắc 1 năm ra trg chỉ vài chục cử nhân ĐH. ko có cao đẳng. Tha thiết mong quý ban giúp đỡ

  • Kính gửi:
    – Phòng Hành nghề y;
    – Ban soạn thảo Nghị định về Hành nghề Khám chữa bệnh;
    -Cục Quản lý KCB Bộ y tế.
    Chúng tôi là những Cử nhân Đại học Vật lý trị liệu( VLTL) sau khi đọc dự thảo Nghị định về hành nghề y dược được đăng ngày 24/3/2016 và ngày 20/7/2016, xin phép được đề đạt nguyện vọng và có ý kiến như sau:
    – Dự thảo ngày 24/3/2016 tại Điều 29 khoản 4, điểm K quy định về người chịu trách nhiệm chuyên môn của phòng khám PHCN là Cử nhân Vật lý Trị liệu trình độ Đại học trở lên, chúng tôi rất vui mừng và thấy như vậy là rất phù hợp!
    – Tuy nhiên tới dự thảo đăng ngày 20/7/2016 tại Điều 26, điểm 3 quy định điều kiện cấp phép phòng khám chuyên khoa lại ghi: phụ trách chuyên môn phòng khám Phục hồi chức năng( PHCN) là Bs chuyên khoa VLTL và PHCN hoặc PHCN. Như vậy là CN. VLTL- PHCN lại không được đứng làm người chịu trách nhiệm chuyên môn?!
    Điều 39 : Cơ sở dịch vụ xoa bóp do Bs, KTV, y sỹ có chứng chỉ PHCN hoặc y sỹ yhct chịu trách nhiệm chuyên môn, điều này chúng tôi hoàn toàn nhất trí. Tuy nhiên chỉ giới hạn cho đối tượng là Bs, Cử nhân hay KTV muốn làm chỉ dịch vụ xoa bóp, xông hơi mà thôi. Những dịch vụ khác của Vật lý trị liệu- PHCN thì không thể triển khai.
    Chúng tôi là những Cử nhân Đại học Vật lý trị liệu nhận thấy và kính đề nghị:
    – Nhằm gia tăng cơ hội tiếp cận dịch vụ PHCN cho người bệnh vốn nhu cầu to lớn tại cộng đồng và cơ hội phát triển nghề nghiệp PHCN, tăng thu nhập, công bằng. Kính mong BYT, Cục Quản lý KCB cho phép Cử nhân đại học Vật lý trị liệu được chịu trách nhiệm chuyên môn phòng khám Phục hồi chức năng (chỉ không được kê đơn thuốc!)
    – Hoặc thêm khoản: Cơ sở dịch vụ Vật lý trị liệu vào Điều 29 quy định về cơ sở dịch vụ y tế.
    Cử nhân VLTL- PHCN là người được đào tạo đầy đủ để có khả năng độc lập: Khám, lượng giá, chẩn đoán vấn đề Giảm khả năng, Khuyết tật sau đó có khả năng lập kế hoạch PHCN bằng sử dụng thành thạo nhiều kỹ thuật VLTL- PHCN như : Điện trị liệu, Nhiệt trị liệu, vận động trị liệu, di động khớp, laser, xoa bóp…
    -Xoa bóp chỉ là 01 kỹ thuật nhỏ trong PHCN. Vậy nếu cho CN.VLTL chỉ được làm cơ sở xoa bóp là không hợp lý và rất lãng phí về nhân lực y tế nói chung và ngành PHCN- VLTL nói riêng.
    Kính mong phòng Quản lý hành nghề y, Ban soạn thảo Cục Quản lý KCB, Bộ y tế xét duyệt, sửa đổi.
    Xin trân trọng cảm ơn!

  • Kính gửi ban soạn thảo , cục Quản lý KCB!
    Dự thảo ngày 24/3/2016 tại Điều 29 khoản 4, điểm K quy định về người chịu trách nhiệm chuyên môn của phòng khám PHCN là Cử nhân Vật lý Trị liệu Đại học trở lên, chúng toi thấy rất phù hợp!
    Tới Dự thảo lần này ngày 20/7/2016 tại Điều 26, điểm 3 quy định điều kiện cấp phép phòng khám chuyên khoa lại ghi: phụ trách chuyên môn phòng khám PHCN là BS phcn.
    Điều 39 : cơ sở dịch vụ xoa bóp do Bs, ktv, y sỹ có chứng chỉ Phcn hoặc y sỹ yhct chịu trách nhiệm chuyên môn.
    Chúng tôi là CN. Vật lý trị liệu nhận thấy và kính đề nghị:
    – Nhằm gia tăng cơ hội tiếp cận dịch vụ PHCN cho nguoi bệnh và cơ hội phát triển nghề, tăng thu nhập, công bằng nghề nghiệp. Hãy cho phép CN. Vật lý trị liệu được chịu trách nhiệm phòng khám Phục hồi chức năng, chỉ không được kê đơn thuốc!
    – Hoặc thêm khoản: Cơ sở dịch vụ Vật lý trị liệu vào Điều 29 quy định về cơ sở dịch vụ y tế.
    Cử nhân VLTL- PHCN là người được đào tạo đầy đủ để có khả năng độc lập: Khám, lượng giá, chẩn đoán vấn đề Giảm khả năng, khuyết tật sau đó có khả năng lập kế hoạch PHCN bằng sử dụng thành thạo nhiều kỹ thuật VLTL- PHCN như : Điện trị liệu, vận động trị liệu, di động khớp, laze, xoa bóp…
    Xoa bóp chỉ là 01 kỹ thuật trong PHCN. Vậy nếu cho CN.VLTl chỉ được làm cơ sở xoa bóp là không hợp lý và lãng phi, mất công bằng!
    Kính mong phòng PHCC, Cục QLKCB, BYT xét duyệt!
    Xin trân trọng cảm ơn/”

  • Kính gửi ban soạn thảo , cục Quản lý KCB! Tôi xin phép đóng góp ý kiến dự thảo như sau

    Dự thảo ngày 24/3/2016 tại Điều 29 khoản 4, điểm K quy định về người chịu trách nhiệm chuyên môn của phòng khám PHCN là Cử nhân Vật lý Trị liệu  (hay Cử nhân Phục hồi chức năng) Đại học trở lên, chúng tôi thấy rất phù hợp!
     Tới Dự thảo lần này ngày 20/7/2016 tại Điều 26, điểm 3 quy định điều kiện cấp phép phòng khám chuyên khoa lại ghi: phụ trách chuyên môn phòng khám PHCN là BS phcn. 
    Điều 39 : cơ sở dịch vụ xoa bóp do Bs, ktv, y sỹ có chứng chỉ Phcn hoặc y sỹ yhct chịu trách nhiệm chuyên môn.
    Chúng tôi là CN. Vật lý trị liệu (hoặc Cử nhân Phục hồi chức năng) nhận thấy và kính đề nghị:
     – Nhằm gia tăng cơ hội tiếp cận dịch vụ PHCN cho nguoi bệnh và cơ hội phát triển nghề, tăng thu nhập, công bằng nghề nghiệp. Hãy cho phép CN. Vật lý trị liệu (Cử nhân Phục hồi chức năng) được chịu trách nhiệm phòng khám Phục hồi chức năng, chỉ không được kê đơn thuốc!
     – Hoặc thêm khoản: Cơ sở dịch vụ Vật lý trị liệu vào Điều 29 quy định về cơ sở dịch vụ y tế.
     Cử nhân VLTL- PHCN là người được đào tạo đầy đủ để có khả năng độc lập: Khám, lượng giá, chẩn đoán vấn đề Giảm khả năng, khuyết tật sau đó có khả năng lập kế hoạch PHCN bằng sử dụng thành thạo nhiều kỹ thuật VLTL- PHCN như : Điện trị liệu, vận động trị liệu, di động khớp, laze, xoa bóp…
     Xoa bóp chỉ là 01 kỹ thuật trong PHCN. Vậy nếu cho CN.VLTL (Cử nhân Phục hồi chức năng) chỉ được làm cơ sở xoa bóp là không hợp lý và lãng phi, mất công bằng!
     Kính mong phòng PHCC, Cục QLKCB, BYT xét duyệt!
     Xin trân trọng cảm ơn/

  • Tôi học chuyên ngành vltl phcn có bằng cử nhân phcn khi xin giấy phép hành nghề chỉ ghi được phép thực hiện các kỹ thuật vltlphcn không được phép khám và điều trị,trong quá trình công tác tại đơn vị tôi nhận thấy bác sĩ học định hướng phcn trong quá trình khám và ra chỉ đinh trong chuyên ngành còn nhiều bất cập,kính mong bộ y tế xem xét trong vấn đề khám và chỉ định trong chuyên ngành của cử nhân phcn chúng tôi..

  • Kính  gửi  ban soạn  thảo ,  cục  Quản lý  KCB!
    Dự thảo  ngày 24/3/2016 tại Điều 29 khoản 4,  điểm K quy định về người chịu trách nhiệm chuyên môn của phòng khám PHCN là Cử nhân Vật lý  Trị liệu Đại học trở lên, chúng toi thấy rất phù hợp!
    Tới  Dự thảo lần này ngày 20/7/2016 tại Điều 26, điểm 3 quy định điều kiện cấp phép phòng khám chuyên khoa lại ghi:  phụ trách chuyên môn phòng khám PHCN là BS phcn.
    Điều 39 :  cơ sở dịch vụ xoa bóp do Bs, ktv, y sỹ có chứng chỉ Phcn hoặc y sỹ yhct chịu trách nhiệm chuyên môn.
    Chúng tôi là CN. Vật lý trị liệu nhận thấy và kính đề nghị:
    – Nhằm gia tăng cơ hội tiếp cận dịch vụ PHCN cho nguoi bệnh và cơ hội phát triển nghề,  tăng thu nhập,  công bằng nghề nghiệp. Hãy  cho phép CN.  Vật lý trị liệu được chịu trách nhiệm  phòng khám Phục hồi chức năng, chỉ không được kê đơn thuốc!
    – Hoặc thêm khoản:  Cơ sở dịch vụ Vật lý trị liệu vào  Điều 29 quy định về cơ sở dịch vụ y tế.
    Cử nhân VLTL- PHCN  là người được đào tạo đầy đủ để có khả năng độc lập: Khám, lượng giá,  chẩn đoán vấn đề Giảm khả năng, khuyết tật sau đó có khả năng lập kế hoạch PHCN bằng sử dụng thành thạo nhiều kỹ thuật VLTL- PHCN như :  Điện trị liệu,  vận động trị liệu, di động khớp, laze, xoa bóp…
    Xoa bóp chỉ 01 kỹ thuật trong  PHCN. Vậy nếu  cho CN.VLTl chỉ được làm cơ sở xoa bóp là không hợp lý và lãng phi, mất công bằng!
    Kính mong  phòng PHCC,  Cục QLKCB,  BYT  xét duyệt!
    Xin trân trọng cảm ơn/

  • Kính gửi ban soạn thảo , cục Quản lý KCB!
    Dự thảo ngày 24/3/2016 tại Điều 29 khoản 4, điểm K quy định về người chịu trách nhiệm chuyên môn của phòng khám PHCN là Cử nhân Vật lý Trị liệu Đại học trở lên, chúng toi thấy rất phù hợp!
    Tới Dự thảo lần này ngày 20/7/2016 tại Điều 26, điểm 3 quy định điều kiện cấp phép phòng khám chuyên khoa lại ghi: phụ trách chuyên môn phòng khám PHCN là BS phcn.
    Điều 39 : cơ sở dịch vụ xoa bóp do Bs, ktv, y sỹ có chứng chỉ Phcn hoặc y sỹ yhct chịu trách nhiệm chuyên môn.
    Chúng tôi là CN. Vật lý trị liệu nhận thấy và kính đề nghị:
    – Nhằm gia tăng cơ hội tiếp cận dịch vụ PHCN cho nguoi bệnh và cơ hội phát triển nghề, tăng thu nhập, công bằng nghề nghiệp. Hãy cho phép CN. Vật lý trị liệu được chịu trách nhiệm phòng khám Phục hồi chức năng, chỉ không được kê đơn thuốc!
    – Hoặc thêm khoản: Cơ sở dịch vụ Vật lý trị liệu vào Điều 29 quy định về cơ sở dịch vụ y tế.
    Cử nhân VLTL- PHCN là người được đào tạo đầy đủ để có khả năng độc lập: Khám, lượng giá, chẩn đoán vấn đề Giảm khả năng, khuyết tật sau đó có khả năng lập kế hoạch PHCN bằng sử dụng thành thạo nhiều kỹ thuật VLTL- PHCN như : Điện trị liệu, vận động trị liệu, di động khớp, laze, xoa bóp…
    Xoa bóp chỉ 01 kỹ thuật trong PHCN. Vậy nếu cho CN.VLTl chỉ được làm cơ sở xoa bóp là không hợp lý và lãng phi, mất công bằng!
    Kính mong phòng PHCC, Cục QLKCB, BYT xét duyệt!
    Xin trân trọng cảm ơn/

  • Kính gửi ban soạn thảo , cục Quản lý KCB! Dự thảo ngày 24/3/2016 tại Điều 29 khoản 4, điểm K quy định về người chịu trách nhiệm chuyên môn của phòng khám PHCN là Cử nhân Vật lý Trị liệu Đại học trở lên, chúng tôi thấy rất phù hợp!
    Tới Dự thảo lần này ngày 20/7/2016 tại Điều 26, điểm 3 quy định điều kiện cấp phép phòng khám chuyên khoa lại ghi: phụ trách chuyên môn phòng khám PHCN là BS phcn.
    Điều 39 : cơ sở dịch vụ xoa bóp do Bs, ktv, y sỹ có chứng chỉ Phcn hoặc y sỹ yhct chịu trách nhiệm chuyên môn.
     Chúng tôi là Cử Nhân. Vật lý trị liệu-Phục hồi chức năng nhận thấy và kính đề nghị:
    – Nhằm gia tăng cơ hội tiếp cận dịch vụ PHCN cho người bệnh và cơ hội phát triển nghề, tăng thu nhập, công bằng nghề nghiệp. Hãy cho phép CN. Vật lý trị liệu – Phục hồi chức năng được chịu trách nhiệm phòng khám Phục hồi chức năng, chỉ không được kê đơn thuốc!
     – Hoặc thêm khoản: Cơ sở dịch vụ Vật lý trị liệu vào Điều 29 quy định về cơ sở dịch vụ y tế.
     Cử nhân VLTL- PHCN là người được đào tạo đầy đủ để có khả năng độc lập: Khám, lượng giá, chẩn đoán vấn đề Giảm khả năng, khuyết tật sau đó có khả năng lập kế hoạch PHCN bằng sử dụng thành thạo nhiều kỹ thuật VLTL- PHCN như : Điện trị liệu, vận động trị liệu, di động khớp, laze, xoa bóp…
    Xoa bóp chỉ là 01 kỹ thuật trong PHCN. Vậy nếu cho CN.VLTl-PHCN chỉ được làm cơ sở xoa bóp là không hợp lý và lãng phí, mất công bằng!
     Kính mong phòng PHCC, Cục QLKCB, BYT xét duyệt!
    Xin trân trọng cảm ơn/

  • Kính gửi ban soạn thảo , cục Quản lý KCB!Dự thảo ngày 24/3/2016 tại Điều 29 khoản 4, điểm K quy định về người chịu trách nhiệm chuyên môn của phòng khám PHCN là Cử nhân Vật lý Trị liệu Đại học trở lên, chúng tôi thấy rất phù hợp!
    Tới Dự thảo lần này ngày 20/7/2016 tại Điều 26, điểm 3 quy định điều kiện cấp phép phòng khám chuyên khoa lại ghi: phụ trách chuyên môn phòng khám PHCN là BS phcn.Điều 39 : cơ sở dịch vụ xoa bóp do Bs, ktv, y sỹ có chứng chỉ Phcn hoặc y sỹ yhct chịu trách nhiệm chuyên môn.Chúng tôi là CN. Vật lý trị liệu – Phục hồi chức năng nhận thấy và kính đề nghị:
    – Nhằm gia tăng cơ hội tiếp cận dịch vụ PHCN cho nguoi bệnh và cơ hội phát triển nghề, tăng thu nhập, công bằng nghề nghiệp. Hãy cho phép CN. Vật lý trị liệu – Phục hồi chức năng được chịu trách nhiệm phòng khám Phục hồi chức năng, chỉ không được kê đơn thuốc!
     – Hoặc thêm khoản: Cơ sở dịch vụ Vật lý trị liệu vào Điều 29 quy định về cơ sở dịch vụ y tế.
    Cử nhân VLTL- PHCN là người được đào tạo đầy đủ để có khả năng độc lập: Khám, lượng giá, chẩn đoán vấn đề Giảm khả năng, khuyết tật sau đó có khả năng lập kế hoạch PHCN bằng sử dụng thành thạo nhiều kỹ thuật VLTL- PHCN như : Điện trị liệu, vận động trị liệu, di động khớp, laze, xoa bóp…
    Xoa bóp chỉ là 01 kỹ thuật trong PHCN.Vậy nếu cho CN.VLTl chỉ được làm cơ sở xoa bóp là không hợp lý và lãng phi, mất công bằng!
    Kính mong phòng PHCC, Cục QLKCB, BYT xét duyệt!
    Xin trân trọng cảm ơn/

  • Tại Điều 26, điểm 3 quy định điều kiện cấp phép phòng khám chuyên khoa lại ghi: phụ trách chuyên môn phòng khám PHCN là BS phcn. Chúng tôi Cử nhân VLTL- PHCN là người được đào tạo đầy đủ để có khả năng độc lập: Khám, lượng giá, chẩn đoán vấn đề Giảm khả năng, khuyết tật sau đó có khả năng lập kế hoạch PHCN bằng sử dụng thành thạo nhiều kỹ thuật VLTL- PHCN như : Điện trị liệu, vận động trị liệu, di động khớp, laze, xoa bópMọi sự tiến triển của bệnh nhân phụ thuộc vào kỹ thuật của chúng tôi, nhất là vận động.Nếu cho cử nhân VLTL chỉ được mở phòng xoa bóp thì quá lãng phí và không công bằng với chúng tôi.
    Vậy kính mong Cục QLKCB, Bộ y tế xét dueetj cho chúng tôi được phụ trách chuyên môn phòng khám vật lý trị liệu

  •  Kính gửi ban soạn thảo , cục Quản lý KCB!
    Dự thảo ngày 24/3/2016 tại Điều 29 khoản 4, điểm K quy định về người chịu trách nhiệm chuyên môn của phòng khám PHCN là Cử nhân Vật lý Trị liệu Đại học trở lên, chúng toi thấy rất phù hợp!
    Tới Dự thảo lần này ngày 20/7/2016 tại Điều 26, điểm 3 quy định điều kiện cấp phép phòng khám chuyên khoa lại ghi: phụ trách chuyên môn phòng khám PHCN là BS phcn.
    Điều 39 : cơ sở dịch vụ xoa bóp do Bs, ktv, y sỹ có chứng chỉ Phcn hoặc y sỹ yhct chịu trách nhiệm chuyên môn.
    Chúng tôi là CN. Vật lý trị liệu nhận thấy và kính đề nghị:
    – Nhằm gia tăng cơ hội tiếp cận dịch vụ PHCN cho nguoi bệnh và cơ hội phát triển nghề, tăng thu nhập, công bằng nghề nghiệp. Hãy cho phép CN. Vật lý trị liệu được chịu trách nhiệm phòng khám Phục hồi chức năng, chỉ không được kê đơn thuốc!
    – Hoặc thêm khoản: Cơ sở dịch vụ Vật lý trị liệu vào Điều 29 quy định về cơ sở dịch vụ y tế.
    Cử nhân VLTL- PHCN là người được đào tạo đầy đủ để có khả năng độc lập: Khám, lượng giá, chẩn đoán vấn đề Giảm khả năng, khuyết tật sau đó có khả năng lập kế hoạch PHCN bằng sử dụng thành thạo nhiều kỹ thuật VLTL- PHCN như : Điện trị liệu, vận động trị liệu, di động khớp, laze, xoa bóp…
    Xoa bóp chỉ là 01 kỹ thuật trong PHCN. Vậy nếu cho CN.VLTl chỉ được làm cơ sở xoa bóp là không hợp lý và lãng phi, mất công bằng!
    Kính mong phòng PHCC, Cục QLKCB, BYT xét duyệt!
    Xin trân trọng cảm ơn/

  • Kính thưa Cục Quản lý khám, chữa bệnh ! Tôi là một Cử nhân Vật lý trị liệu – phục hồi chức năng. Trong chương trình đào tạo Cử nhân Vật Lý Trị liệu – Phục hồi chức năng được đào tạo đầy đủ các chuyên môn Dược lý, Nội , Ngoại khoa Thần kinh , Cơ , Xương , Khớp, Hô Hấp, Tim mạch, Y học cổ truyền… đủ đáp ứng khám , điều trị phục hồi chức năng các bệnh lý liên quan các chuyên khoa trên. Trong thực tế lâm sàng Phục hồi chức năng, hiệu quả điều trị chủ yếu do trình độ tay nghề của kỹ thuật viên Vật Lý trị liệu – Phục hồi chức năng mang lại. Do đó , tôi đề nghị Cục Quản Lý khám, chữa bệnh tư vấn cho bộ Y tế sớm xây dựng cơ chế hành nghề cho phép Cử Nhân Vật lý trị liệu – Phục hồi chức năng được phép chịu trách nhiệm chuyên môn, kỹ thuật một cơ sở Phục hồi chức năng , được phép mở phòng khám phục hồi chức năng. Còn như theo điều 39 thì chúng tôi chỉ được mở phòng xoa bóp. Như vậy rất thiệt thòi cho sự đóng ghóp của chúng tôi.trong khi các cử nhân đại học khác ( X-quang, xét nghiệm thì được mở.
    Kính mong các anh chị cấp trên xem xét

  • Kính thưa Cục Quản lý khám, chữa bệnh !
    Tôi là một Cử nhân Vật lý trị liệu – phục hồi chức năng.  Trong chương trình đào tạo Cử nhân Vật Lý Trị liệu – Phục hồi chức năng được đào tạo đầy đủ các chuyên môn Dược lý, Nội , Ngoại khoa Thần kinh , Cơ , Xương , Khớp, Hô Hấp, Tim mạch, Y học cổ truyền… đủ đáp ứng khám , điều trị phục hồi chức năng các bệnh lý liên quan các chuyên khoa trên.
    Trong thực tế lâm sàng Phục hồi chức năng, hiệu quả điều trị chủ yếu do trình độ tay nghề của kỹ thuật viên Vật Lý trị liệu – Phục hồi chức năng mang lại.
    Do đó , tôi đề nghị Cục Quản Lý khám, chữa bệnh tư vấn cho bộ Y tế sớm xây dựng cơ chế hành nghề cho phép Cử Nhân Vật lý trị liệu – Phục hồi chức năng được phép chịu trách nhiệm chuyên môn, kỹ thuật một cơ sở Phục hồi chức năng , được phép mở phòng khám phục hồi chức năng. Còn như theo điều 39 thì chúng tôi chỉ được mở phòng xoa bóp. Như vậy rất thiệt thòi cho sự đóng ghóp của chúng tôi.trong khi các cử nhân đại học khác ( X-quang, xét nghiệm thì được mở.Kính mong các anh chị cấp trên xem xét

  • kính thưa cục khám chữa bệnh : sau khi đọc dự thảo tôi xin có ý kiến sau : nghành vật lý trị liệu là nghành đang phát triển , nhu cầu phục hồi chức năng của nhân dân ngày càng cao , và điều trị các bệnh mãn tính bằng phương thức không dùng thuốc hiện nay ngày càng được người dân tin dùng , chúng tôi học đại học chuyên nghành vật lý trị liệu 4 năm đều học dược lý , sinh lý , các bệnh nội ngoại , chẩn đoán hình ảnh …, với các kiến thức đã học chúng tôi có thể khẳng định rằng chúng tôi có thể  khám và cho các chỉ định về vật lý trị liệu – phục hồi chứng năng . thông tư 46/2013/tt-byt (quy định chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức cơ sở phục hồi chức năng )thì cử nhân vật lý trị liệu không được cho các chỉ định về vật lý trị liệu , trong khi đó y sỹ có chứng chỉ về phục hồi chức năng thì được cho chỉ định nếu sở y tế cho phép , đều này thấy không hợp lý , vì chúng tôi học chuyên khoa 4 năm thì lại không được , nên việc điều trị cho bệnh nhân gặp nhiều khó khăn , người bệnh luôn thiệt thòi vì không được bảo hiểm y tế thanh toán . và chúng tôi làm việc cũng rất khổ sở và mệt mỏi , dự thảo thông tư này lại không có đề cặp đến chuyên nghành của chúng tôi , chỉ có trong điều 39 dự thảo này là được đứng trong dịch vụ xoa bóp , điều này làm chúng tôi cảm thấy tủi thân . kính mong cục khám chữa bệnh xem xét để cho các chức danh chuyên ngành vật lý trị liệu từ cử nhân trở lên có thể cho các chỉ định về vật lý trị liệu để người dân có thẻ bảo hiểm y tế được điều trị trong lĩnh vực vật lý trị liệu tốt hơn , đồng thời cho chúng tôi mở phòng khám điều trị vật lý trị liệu để cho chúng tôi cùng ngành y tế có thể chăm sóc sức khỏe nhân dân được tốt hơn và góp phần cải thiện được cuộc sống cho các anh em trong ngành vật lý trị liệu – phục hồi chức năng . kính mong cục khám chữa bệnh xem xét , chân thành cảm ơn.

    • Kính gửi ban soạn thảo , cục Quản lý KCB! Tôi là 1Cử nhân Vật lý Trị liệu, tôi thấy tại Điều 26, điểm 3 quy định điều kiện cấp phép phòng khám chuyên khoa ghi: phụ trách chuyên môn phòng khám PHCN là BS phcn.
      Điều 39 : cơ sở dịch vụ xoa bóp do Bs, ktv, y sỹ có chứng chỉ Phcn hoặc y sỹ yhct chịu trách nhiệm chuyên môn.
      Chúng tôi là CN. Vật lý trị liệu nhận thấy và kính đề nghị: – Nhằm gia tăng cơ hội tiếp cận dịch vụ PHCN cho nguoi bệnh và cơ hội phát triển nghề, tăng thu nhập, công bằng nghề nghiệp. Hãy cho phép CN. Vật lý trị liệu được chịu trách nhiệm phòng khám Phục hồi chức năng, chỉ không được kê đơn thuốc!
      – Hoặc thêm khoản: Cơ sở dịch vụ Vật lý trị liệu vào Điều 29 quy định về cơ sở dịch vụ y tế.
      Cử nhân VLTL- PHCN là người được đào tạo đầy đủ để có khả năng độc lập: Khám, lượng giá, chẩn đoán vấn đề Giảm khả năng, khuyết tật sau đó có khả năng lập kế hoạch PHCN bằng sử dụng thành thạo nhiều kỹ thuật VLTL- PHCN như : Điện trị liệu, vận động trị liệu, di động khớp, laze, xoa bóp…
      Xoa bóp chỉ là 01 kỹ thuật trong PHCN. Vậy nếu cho CN.VLTl chỉ được làm cơ sở xoa bóp là không hợp lý và lãng phí, mất công bằng!
      Kính mong phòng PHCC, Cục QLKCB, BYT xét duyệt!
      Xin trân trọng cảm ơn.

  • Đề nghị BYT xem xét cấp chứng chỉ hành nghề cho đối tượng kỹ sư công nghệ sinh học

  • Kính gởi Bộ y tế và cục khám chữa bệnh, kính mong Bộ y tế và cục khám chữa bệnh xem xét cho cử nhân vật lý trị liệu được chỉ định kỹ thuật vật lý trị liệu, mở phòng khám phục hồi chức năng vì cử nhân vật lý trị liệu học hành đàng hoàng và dài hạn đủ sức làm các công việc trên trong khi bác sĩ phục hồi rất hiếm vì ở trong Nam không ai thích học và cử nhân vật lý trị liệu lại đào tạo y sĩ mà y sĩ lại được phép chỉ đinh kỹ thuật vật lý trị liệu!! 

  • Kính mong Bộ Y tế, Cục quản lý khám chữa, ban soạn thảo xem xét một số vấn đề của chuyên ngành Vật lý trị liệu như sau:1. Về tên gọi: đề nghị gọi đúng theo bằng cấp là cử nhân Vật lý trị liệu hoặc cử nhân Phục hồi chức năng.2. Về phạm vi hoạt động chuyên môn: đề nghị cho phép cử nhân Vật lý trị liệu được khám và chỉ định kỹ thuật thuộc chuyên ngành Vật lí trị liệu tương tự, cử nhân Hoạt động trị liệu được khám và chỉ định kỹ thuật thuộc chuyên ngành Hoạt động trị liệu. Bác sĩ Phục hồi chức năng được khám và chỉ định tất cả các chuyên ngành thuộc Phục hồi chức năng.3. Về hoạt động phòng khám tư nhân: đề nghị cho phép cử nhân Vật lý trị liệu được đứng tên, chịu trách nhiệm chuyên môn phòng Vật lý trị liệu.Những đề xuất trên đây chúng tôi thấy phù hợp với điều kiện hoàn cảnh ngành y tế Việt Nam hiện nay là rất thiếu bác sĩ phục hồi chức năng được đào tạo đủ khả năng khám và chỉ định tất cả các chuyên ngành của phục hồi chức năng. Rất mong quý lãnh đạo ngành xem xét tạo điều kiện để ngành Vật lý trị liệu nói riêng và ngành Phục hồi chức năng nói chung phát triển hơn nữa đáp ứng tốt hơn nhu cầu điều trị Vật lý trị liệu và Phục hồi chức năng của người bệnhXin chân thành cảm ơn!

  • Chúng tôi Cử nhân VLTL- PHCN là người được đào tạo đầy đủ để có khả năng độc lập: Khám, lượng giá, chẩn đoán vấn đề Giảm khả năng, khuyết tật sau đó có khả năng lập kế hoạch PHCN bằng sử dụng thành thạo nhiều kỹ thuật VLTL- PHCN như : Điện trị liệu, vận động trị liệu, di động khớp, laze, xoa bópMọi sự tiến triển của bệnh nhân phụ thuộc vào kỹ thuật của chúng tôi, nhất là vận động.Nếu cho cử nhân VLTL chỉ được mở phòng xoa bóp thì quá lãng phí và không công bằng với chúng tôi.
    Vậy kính mong Cục QLKCB, Bộ y tế xét dueetj cho chúng tôi được phụ trách chuyên môn phòng khám vật lý trị liệu

  • E thấy kỹ thuật viên vltl/Phcn có đợt điều kiện để mở phòng khám vì chúng e độc lập về thực hiện kỹ thuật,thực hiện trực tiếp trên bệnh nhân,trong khi đó bác sỹ nhiều lúc ko nắm đc kỹ thuật hay mặt bệnh này cần can tiếp như thế nào,mong bộ xem xét

  • Kính gửi ban soạn thảo , cục Quản lý KCB!
    Dự thảo ngày 24/3/2016 tại Điều 29 khoản 4, điểm K quy định về người chịu trách nhiệm chuyên môn của phòng khám PHCN là Cử nhân Vật lý Trị liệu Đại học trở lên, chúng toi thấy rất phù hợp!
    Tới Dự thảo lần này ngày 20/7/2016 tại Điều 26, điểm 3 quy định điều kiện cấp phép phòng khám chuyên khoa lại ghi: phụ trách chuyên môn phòng khám PHCN là BS phcn.
    Điều 39 : cơ sở dịch vụ xoa bóp do Bs, ktv, y sỹ có chứng chỉ Phcn hoặc y sỹ yhct chịu trách nhiệm chuyên môn.
    Chúng tôi là CN. Vật lý trị liệu nhận thấy và kính đề nghị:
    – Nhằm gia tăng cơ hội tiếp cận dịch vụ PHCN cho nguoi bệnh và cơ hội phát triển nghề, tăng thu nhập, công bằng nghề nghiệp. Hãy cho phép CN. Vật lý trị liệu được chịu trách nhiệm phòng khám Phục hồi chức năng, chỉ không được kê đơn thuốc!
    – Hoặc thêm khoản: Cơ sở dịch vụ Vật lý trị liệu vào Điều 29 quy định về cơ sở dịch vụ y tế.
    Cử nhân VLTL- PHCN là người được đào tạo đầy đủ để có khả năng độc lập: Khám, lượng giá, chẩn đoán vấn đề Giảm khả năng, khuyết tật sau đó có khả năng lập kế hoạch PHCN bằng sử dụng thành thạo nhiều kỹ thuật VLTL- PHCN như : Điện trị liệu, vận động trị liệu, di động khớp, laze, xoa bóp…
    Xoa bóp chỉ là 01 kỹ thuật trong PHCN. Vậy nếu cho CN.VLTl chỉ được làm cơ sở xoa bóp là không hợp lý và lãng phi, mất công bằng!
    Kính mong phòng PHCC, Cục QLKCB, BYT xét duyệt!
    Xin trân trọng cảm ơn

  • Kính gửi ban soạn thảo , cục Quản lý KCB!
    Dự thảo ngày 24/3/2016 tại Điều 29 khoản 4, điểm K quy định về người chịu trách nhiệm chuyên môn của phòng khám PHCN là Cử nhân Vật lý Trị liệu Đại học trở lên, chúng toi thấy rất phù hợp!
    Tới Dự thảo lần này ngày 20/7/2016 tại Điều 26, điểm 3 quy định điều kiện cấp phép phòng khám chuyên khoa lại ghi: phụ trách chuyên môn phòng khám PHCN là BS phcn.
    Điều 39 : cơ sở dịch vụ xoa bóp do Bs, ktv, y sỹ có chứng chỉ Phcn hoặc y sỹ yhct chịu trách nhiệm chuyên môn.
    Chúng tôi là CN. Vật lý trị liệu nhận thấy và kính đề nghị:
    – Nhằm gia tăng cơ hội tiếp cận dịch vụ PHCN cho nguoi bệnh và cơ hội phát triển nghề, tăng thu nhập, công bằng nghề nghiệp. Hãy cho phép CN. Vật lý trị liệu được chịu trách nhiệm phòng khám Phục hồi chức năng, chỉ không được kê đơn thuốc!
    – Hoặc thêm khoản: Cơ sở dịch vụ Vật lý trị liệu vào Điều 29 quy định về cơ sở dịch vụ y tế.
    Cử nhân VLTL- PHCN là người được đào tạo đầy đủ để có khả năng độc lập: Khám, lượng giá, chẩn đoán vấn đề Giảm khả năng, khuyết tật sau đó có khả năng lập kế hoạch PHCN bằng sử dụng thành thạo nhiều kỹ thuật VLTL- PHCN như : Điện trị liệu, vận động trị liệu, di động khớp, laze, xoa bóp…
    Xoa bóp chỉ là 01 kỹ thuật trong PHCN. Vậy nếu cho CN.VLTl chỉ được làm cơ sở xoa bóp là không hợp lý và lãng phi, mất công bằng!
    Kính mong phòng PHCC, Cục QLKCB, BYT xét duyệt!
    Xin trân trọng cảm ơn/i xin  đề nghị xem xét lại

  • Cử nhân vật lý trị liệu đại học có đầy đủ kiến thức và chuyên môn để ra các chỉ định về VLTL/PHCN còn bác sĩ phcn thường chỉ học thêm về PHCN  có 6 tháng như vậy làm sao hiểu hềt về VLTL/PHCN bằng củ nhân VLTL/PHCN đại học   Học 4 năm được vì vậy cử nhân VLTL/PHCN mới nên là người đưa ra các chỉ định và thực hiện các kĩ thuật VLTL/PHCN do đó họ cũng phải được cấp giấy phép mở các phòng điều trị VLTL/PHCN 

  • Kính gửi: Bộ y tế,
    Tôi là Cử nhân Phục hồi chức năng (Theo bằng đại học được cấp của Đại học Kỹ thuật y tế Hải Dương)
    Trong quá trình học tập, rèn luyện và làm việc thực tế, tôi nhận thấy khả năng làm việc độc lập về chuyên ngành vật lý trị liệu/ phục hồi chức năng của các cử nhân (Đại học). Chúng tôi có thể độc lập khám, lượng giá, lên kế hoạch phục hồi chức năng cho bệnh nhân. Với đặc thù đạo tạo chuyên ngành vật lý trị liệu/ phục hồi chức năng hiện nay thì những kỹ thuật chuyên ngành các cử nhân có thể nắm vững và độc lập làm việc, thực hành trực tiếp trên bệnh nhân chứ không phải là bác sĩ phục hồi chức năng.
    Với thực tế hiện tại ở Việt Nam chuyên ngành vật lý trị liệu – phục hồi chức năng chưa được chú trọng phát triển trong khi tại các nước tiên tiến khác chuyên ngành này rất được chú trọng. Là bước thứ 3 của y học sau phòng bệnh và điều trị.
    Vì vậy, tôi mong rằng các ban ngành có thẩm quyền hãy xem xét và tạo cơ hội để cử nhân phục hồi chức năng – vật lý trị liệu nói riêng và chuyên ngành Phục hồi chức năng nói chung được đứng tên Phòng khám phục hồi chức năng hoặc đủ điều  kiện mở phòng tập luyện phục hồi chức năng, góp phần để Bước thức 3 của y học là Phục hồi được phát triển và phù hợp với trình độ của chúng tôi hiện tại.
    Trân trọng./.

  • Kính gửi:
    – Phòng Hành nghề y;
    – Ban soạn thảo Nghị định về Hành nghề Khám chữa bệnh;
    -Cục Quản lý KCB Bộ y tế.
    Chúng tôi là những Cử nhân Đại học Vật lý trị liệu( VLTL) sau khi đọc dự thảo Nghị định về hành nghề y dược được đăng ngày 24/3/2016 và ngày 20/7/2016, xin phép được đề đạt nguyện vọng và có ý kiến như sau:
    – Dự thảo ngày 24/3/2016 tại Điều 29 khoản 4, điểm K quy định về người chịu trách nhiệm chuyên môn của phòng khám PHCN là Cử nhân Vật lý Trị liệu trình độ Đại học trở lên, chúng tôi rất vui mừng và thấy như vậy là rất phù hợp!
    – Tuy nhiên tới dự thảo đăng ngày 20/7/2016 tại Điều 26, điểm 3 quy định điều kiện cấp phép phòng khám chuyên khoa lại ghi: phụ trách chuyên môn phòng khám Phục hồi chức năng( PHCN) là Bs chuyên khoa VLTL và PHCN hoặc PHCN. Như vậy là CN. VLTL- PHCN lại không được đứng làm người chịu trách nhiệm chuyên môn?!
    Điều 39 : Cơ sở dịch vụ xoa bóp do Bs, KTV, y sỹ có chứng chỉ PHCN hoặc y sỹ yhct chịu trách nhiệm chuyên môn, điều này chúng tôi hoàn toàn nhất trí. Tuy nhiên chỉ giới hạn cho đối tượng là Bs, Cử nhân hay KTV muốn làm chỉ dịch vụ xoa bóp, xông hơi mà thôi. Những dịch vụ khác của Vật lý trị liệu- PHCN thì không thể triển khai.
    Chúng tôi là những Cử nhân Đại học Vật lý trị liệu nhận thấy và kính đề nghị:
    – Nhằm gia tăng cơ hội tiếp cận dịch vụ PHCN cho người bệnh vốn nhu cầu to lớn tại cộng đồng và cơ hội phát triển nghề nghiệp PHCN, tăng thu nhập, công bằng. Kính mong BYT, Cục Quản lý KCB cho phép Cử nhân đại học Vật lý trị liệu được chịu trách nhiệm chuyên môn phòng khám Phục hồi chức năng (chỉ không được kê đơn thuốc!)
    – Hoặc thêm khoản: Cơ sở dịch vụ Vật lý trị liệu vào Điều 29 quy định về cơ sở dịch vụ y tế.
    Cử nhân VLTL- PHCN là người được đào tạo đầy đủ để có khả năng độc lập: Khám, lượng giá, chẩn đoán vấn đề Giảm khả năng, Khuyết tật sau đó có khả năng lập kế hoạch PHCN bằng sử dụng thành thạo nhiều kỹ thuật VLTL- PHCN như : Điện trị liệu, Nhiệt trị liệu, vận động trị liệu, di động khớp, laser, xoa bóp…
    -Xoa bóp chỉ là 01 kỹ thuật nhỏ trong PHCN. Vậy nếu cho CN.VLTLchỉ được làm cơ sở xoa bóp là không hợp lý và rất lãng phí về nhân lực y tế nói chung và nghành PHCN- VLTL nói riêng.
    Kính mong phòng Quản lý hành nghề y, Ban soạn thảo Cục Quản lý KCB, Bộ y tế xét duyệt, sửa đổi.
    Xin trân trọng cảm ơn!

    Đại diện Khoa VLTL-PHCN Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM

  • Tại điều 26 khoản 3. Người chịu trách nhiệm phòng khám Phục Hồi Chức Năng là bác sĩ chuyên ngành phục hồi chức năng. Chúng tôi là Cử nhân VLTL – PHCN đã được đạo tạo khám lượng giá các bệnh lý PHCN ngoại khoa như tim mạch, hô hấp, nội khoa… Kính đề nghị bổ sung Cử nhân VLTL – PHCN được phép chịu trách nhiệm Phòng  PHCN.

  • Kính gửi ban soạn thảo , cục Quản lý KCB!
    Dự thảo ngày 24/3/2016 tại Điều 29 khoản 4, điểm K quy định về người chịu trách nhiệm chuyên môn của phòng khám PHCN là Cử nhân Vật lý Trị liệu Đại học trở lên, chúng tôi thấy rất phù hợp!
    Tới Dự thảo lần này ngày 20/7/2016 tại Điều 26, điểm 3 quy định điều kiện cấp phép phòng khám chuyên khoa lại ghi: phụ trách chuyên môn phòng khám PHCN là BS phcn.
    Điều 39 : cơ sở dịch vụ xoa bóp do Bs, ktv, y sỹ có chứng chỉ Phcn hoặc y sỹ yhct chịu trách nhiệm chuyên môn.
    Chúng tôi là CN. Vật lý trị liệu nhận thấy và kính đề nghị:
    – Nhằm gia tăng cơ hội tiếp cận dịch vụ PHCN cho người bệnh và cơ hội phát triển nghề, tăng thu nhập, công bằng nghề nghiệp. Hãy cho phép CN. Vật lý trị liệu được chịu trách nhiệm phòng khám Phục hồi chức năng, chỉ không được kê đơn thuốc!
    – Hoặc thêm khoản: Cơ sở dịch vụ Vật lý trị liệu vào Điều 29 quy định về cơ sở dịch vụ y tế.
    Cử nhân VLTL- PHCN là người được đào tạo đầy đủ để có khả năng độc lập: Khám, lượng giá, chẩn đoán vấn đề Giảm khả năng, khuyết tật sau đó có khả năng lập kế hoạch PHCN bằng sử dụng thành thạo nhiều kỹ thuật VLTL- PHCN như : Điện trị liệu, vận động trị liệu, di động khớp, lazer, xoa bóp…
    Xoa bóp chỉ 01 kỹ thuật trong PHCN. Vậy nếu cho CN.VLTL chỉ được làm cơ sở xoa bóp là không hợp lý và lãng phi, mất công bằng!
    Kính mong phòng PHCC, Cục QLKCB, BYT xét duyệt!
    Xin trân trọng cảm ơn/

  • Kính đề nghị Bộ Y tế, Cục quản lý Khám chữa bệnh.Tôi là Cử nhân Vật lý trị liệu, công tác chuyên ngành VLTL tại bệnh viện đã hơn 30 năm. Dự thảo có nhiều điểm thật hay, thật nhân văn. Nhưng, phải chăng là vẫn còn những bất cập, nhất là trong mảng Vật lý trị liệu-Phục hồi chức năng?Chúng tôi, những chuyên viên Vật lý trị liệu, được đào tạo bài bản về bệnh học, bệnh lý và kỹ thuật điều trị chuyên ngành ở Giảng đường đại học, được công tác nhiều năm trong chính chuyên ngành của mình, lại không được phép đứng tên chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật tại các phòng VLTL, không được cho chỉ định  VLTL tại cơ sở làm việc của mình?Vậy mà, có một số đối tượng khác, tôi không tiện liệt kê ở đây, chỉ cần có chứng chỉ định hướng phục hồi chức năng, cái chứng chỉ chỉ đào tạo có vài tháng lý thuyết, lại có đặc quyền chỉ định và đứng tên phòng khám phục hồi chức năng.Còn gì đau lòng hơn với qui định chỉ cho phép Cử nhân VLTL chỉ được đứng tên cơ sở Massage, ngành nghề quá “nhạy cảm” dưới sự phán xét chung của xã hội hiện nay???Chúng tôi, những người làm công tác VLTL-PHCN, sẽ rất biết ơn và sẽ càng cố gắng góp sức vào công cuộc chăm sóc sức khoẻ người dân, nếu được nhìn nhận và đánh giá đúng thực lực của mình.Khẩn xin Bộ Y tế, Cục Khám Chữa bệnh xem xét lại những vấn đề trên.Thay mặt toàn thể nhân viên VLTL Bv Chấn thương Chỉnh hình Tp HCM, tôi xin gửi đến Quý Ban lời khẩn cầu, lời chúc sức khoẻ và lời cảm ơn sâu sắc.Trân trọng,

  • Kính gửi ban soạn thảo , cục Quản lý KCB!
    Dự thảo ngày 24/3/2016 tại Điều 29 khoản 4, điểm K quy định về người chịu trách nhiệm chuyên môn của phòng khám PHCN là Cử nhân Vật lý Trị liệu Đại học trở lên, chúng toi thấy rất phù hợp!
    Tới Dự thảo lần này ngày 20/7/2016 tại Điều 26, điểm 3 quy định điều kiện cấp phép phòng khám chuyên khoa lại ghi: phụ trách chuyên môn phòng khám PHCN là BS phcn.
    Điều 39 : cơ sở dịch vụ xoa bóp do Bs, ktv, y sỹ có chứng chỉ Phcn hoặc y sỹ yhct chịu trách nhiệm chuyên môn.
    Chúng tôi là CN. Vật lý trị liệu nhận thấy và kính đề nghị:
    – Nhằm gia tăng cơ hội tiếp cận dịch vụ PHCN cho nguoi bệnh và cơ hội phát triển nghề, tăng thu nhập, công bằng nghề nghiệp. Hãy cho phép CN. Vật lý trị liệu được chịu trách nhiệm phòng khám Phục hồi chức năng, chỉ không được kê đơn thuốc!
    – Hoặc thêm khoản: Cơ sở dịch vụ Vật lý trị liệu vào Điều 29 quy định về cơ sở dịch vụ y tế.
    Cử nhân VLTL- PHCN là người được đào tạo đầy đủ để có khả năng độc lập: Khám, lượng giá, chẩn đoán vấn đề Giảm khả năng, khuyết tật sau đó có khả năng lập kế hoạch PHCN bằng sử dụng thành thạo nhiều kỹ thuật VLTL- PHCN như : Điện trị liệu, vận động trị liệu, di động khớp, laze, xoa bóp…
    Xoa bóp chỉ 01 kỹ thuật trong PHCN. Vậy nếu cho CN.VLTl chỉ được làm cơ sở xoa bóp là không hợp lý và lãng phi, mất công bằng!
    Kính mong phòng PHCC, Cục QLKCB, BYT xét duyệt!
    Xin trân trọng cảm ơn/

  • Kính gửi ban soạn thảo , cục Quản lý KCB!
    Dự thảo ngày 24/3/2016 tại Điều 29 khoản 4, điểm K quy định về người chịu trách nhiệm chuyên môn của phòng khám PHCN là Cử nhân Vật lý Trị liệu Đại học trở lên, chúng toi thấy rất phù hợp!
    Tới Dự thảo lần này ngày 20/7/2016 tại Điều 26, điểm 3 quy định điều kiện cấp phép phòng khám chuyên khoa lại ghi: phụ trách chuyên môn phòng khám PHCN là BS phcn.
    Điều 39 : cơ sở dịch vụ xoa bóp do Bs, ktv, y sỹ có chứng chỉ Phcn hoặc y sỹ yhct chịu trách nhiệm chuyên môn.
    Chúng tôi là CN. Vật lý trị liệu nhận thấy và kính đề nghị:
    – Nhằm gia tăng cơ hội tiếp cận dịch vụ PHCN cho nguoi bệnh và cơ hội phát triển nghề, tăng thu nhập, công bằng nghề nghiệp. Hãy cho phép CN. Vật lý trị liệu được chịu trách nhiệm phòng khám Phục hồi chức năng, chỉ không được kê đơn thuốc!
    – Hoặc thêm khoản: Cơ sở dịch vụ Vật lý trị liệu vào Điều 29 quy định về cơ sở dịch vụ y tế.
    Cử nhân VLTL- PHCN là người được đào tạo đầy đủ để có khả năng độc lập: Khám, lượng giá, chẩn đoán vấn đề Giảm khả năng, khuyết tật sau đó có khả năng lập kế hoạch PHCN bằng sử dụng thành thạo nhiều kỹ thuật VLTL- PHCN như : Điện trị liệu, vận động trị liệu, di động khớp, laze, xoa bóp…
    Xoa bóp chỉ là 01 kỹ thuật trong PHCN. Vậy nếu cho CN.VLTl chỉ được làm cơ sở xoa bóp là không hợp lý và lãng phi, mất công bằng!
    Kính mong phòng PHCC, Cục QLKCB, BYT xét duyệt!
    Xin trân trọng cảm ơn/”

    Lời cuối cùng xin kính chúc sức khoẻ mọi người An Khang – Thịnh Vượng!

  • Kính gửi ban soạn thảo , cục Quản lý KCB! Tôi là 1Cử nhân Vật lý Trị liệu, tôi thấy tại Điều 26, điểm 3 quy định điều kiện cấp phép phòng khám chuyên khoa ghi: phụ trách chuyên môn phòng khám PHCN là BS phcn.
    Điều 39 : cơ sở dịch vụ xoa bóp do Bs, ktv, y sỹ có chứng chỉ Phcn hoặc y sỹ yhct chịu trách nhiệm chuyên môn.
    Chúng tôi là CN. Vật lý trị liệu nhận thấy và kính đề nghị: – Nhằm gia tăng cơ hội tiếp cận dịch vụ PHCN cho nguoi bệnh và cơ hội phát triển nghề, tăng thu nhập, công bằng nghề nghiệp. Hãy cho phép CN. Vật lý trị liệu được chịu trách nhiệm phòng khám Phục hồi chức năng, chỉ không được kê đơn thuốc!
    – Hoặc thêm khoản: Cơ sở dịch vụ Vật lý trị liệu vào Điều 29 quy định về cơ sở dịch vụ y tế.
    Cử nhân VLTL- PHCN là người được đào tạo đầy đủ để có khả năng độc lập: Khám, lượng giá, chẩn đoán vấn đề Giảm khả năng, khuyết tật sau đó có khả năng lập kế hoạch PHCN bằng sử dụng thành thạo nhiều kỹ thuật VLTL- PHCN như : Điện trị liệu, vận động trị liệu, di động khớp, laze, xoa bóp…
    Xoa bóp chỉ là 01 kỹ thuật trong PHCN. Vậy nếu cho CN.VLTl chỉ được làm cơ sở xoa bóp là không hợp lý và lãng phí, mất công bằng!
    Kính mong phòng PHCC, Cục QLKCB, BYT xét duyệt!
    Xin trân trọng cảm ơn.

  • Kính gửi ban soạn thảo nghị định, Những nhà quản lý tầm vĩ mô về luật khám chữa bệnh. Tôi xin có một số phản hồi về dự thảo nghị định như sau: hiện nay Việt Nam đã hội nhập ASIAN và các tổ chức khác nên thiết nghĩ luật khám chữa bệnh của nước ta trong bối cảnh này cũng nên mang tính tương đồng với các nước trong khu vực ví dụ như Thái Lan cụ thể tôi muốn đề cập đến ngành Vật lý trị liệu ở Thái Lan, tôi thấy có phòng khám Vật lý trị liệu (PHYSIOTHERAPY CLINIC), cùng tồn tại song song với phòng khám phục hồi chức năng (REABILITATION CLINIC) vậy tôi kính mong ban soạn thảo có thể nghiên cứu sự khác nhau này giữa Việt Nam và Thái Lan và các nước ở châu Âu. Theo tôi được biết,tại các nước này thì Physiotherapist ( CN Vật lý trị liệu) có thể đứng tên phòng khám Vật lý trị liệu (physiotherapy clinic). Rất mong nhận được sự quan tâm của quý ban ngành, để nước ta có luật (nghị định) phù hợp nhất. Trân trọng cảm ơn