Góp ý dự thảo Nghị định Hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Góp ý dự thảo Nghị định của Chính phủ Hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

>>Dự thảo Nghị định và Phụ lục

LFCC-Health-Professions

DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH
Hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
_________

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật đầu tư ngày 26 tháng 11 năm 2014;
Căn cứ Luật Khám bệnh, chữa bệnh ngày 23 tháng 11 năm 2009;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Y tế,

NGHỊ ĐỊNH:
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Nghị định này quy định về:
1. Các hình thức tổ chức của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; các hình thức tổ chức cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong quân đội.
2. Điều kiện, hồ sơ, thủ tục cấp, cấp lại, điều chỉnh chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh (sau đây gọi tắt là người hành nghề).
3. Điều kiện, hồ sơ, thủ tục cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Điều 2. Đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước, bao gồm cả các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc công an và quân đội (sau đây gọi chung là tổ chức, cá nhân), tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện các hoạt động liên quan đến khám bệnh, chữa bệnh tại Việt Nam.

Điều 3. Giải thích từ ngữ
1. Thời gian thực hành khám bệnh, chữa bệnh để cấp chứng chỉ hành nghề là thời gian người đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh liên tục sau khi được cấp văn bằng chuyên môn (xác định từ thời điểm ký kết hợp đồng lao động hoặc có quyết định tuyển dụng bao gồm cả thời gian thử việc được ghi trong Hợp đồng lao động, quyết định tuyển dụng hoặc ký kết hợp đồng thực hành tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh) đến ngày đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề, bao gồm cả thời gian học định hướng chuyên khoa hoặc sau đại học (bác sĩ nội trú, chuyên khoa cấp I, chuyên khoa cấp II) theo đúng chuyên khoa mà người đó đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề.
2. Thời gian khám bệnh, chữa bệnh để làm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật hoặc người phụ trách khoa, phòng, bộ phận chuyên môn (sau đây gọi tắt là khoa) là thời gian trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh kể từ ngày người đó được cấp văn bằng chuyên môn (xác định từ thời điểm ký kết hợp đồng lao động hoặc có quyết định tuyển dụng) đến ngày được phân công, bổ nhiệm làm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật hoặc người phụ trách khoa, bao gồm cả thời gian học định hướng chuyên khoa hoặc sau đại học (bác sĩ nội trú, chuyên khoa cấp I, chuyên khoa cấp II) theo đúng chuyên khoa mà người đó được phân công, bổ nhiệm.
3. Thời gian làm việc: người hành nghề được đăng ký thời gian làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh toàn thời gian hoặc một phần thời gian nhưng phải theo quy định của pháp luật về lao động.
a) Người làm việc toàn thời gian là người làm việc liên tục ít nhất 8 giờ/ngày trong thời gian hoạt động mà cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã đăng ký hoặc người làm việc đầy đủ thời gian mà cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đăng ký hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đăng ký hoạt động có thời gian ít hơn 8 giờ/ngày. Ví dụ:
– Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đăng ký thời gian hoạt động là 24 giờ/ngày và 07 ngày/tuần thì người làm việc toàn thời gian tại bệnh viện phải là người làm việc liên tục ít nhất 8 giờ/ngày phù hợp với quy định của pháp luật về lao động.
– Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đăng ký thời gian hoạt động 09h00 – 16h00 và 07 ngày/tuần thì người làm việc toàn thời gian tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải là người làm việc đầy đủ thời gian mà cơ sở đăng ký hoạt động phù hợp với quy định của pháp luật về lao động.
b) Người làm việc một phần thời gian là người đăng ký làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng không đủ thời gian quy định tại Điểm a Khoản này.

Điều 4. Nguyên tắc hướng dẫn và áp dụng pháp luật
1. Nghị định này hướng dẫn những điều, khoản, điểm mà Luật khám bệnh, chữa bệnh và Nghị định số 87/2011/NĐ-CP ngày 27 tháng 9 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật khám bệnh, chữa bệnh (sau đây gọi tắt là Nghị định số 87/2011/NĐ-CP) giao cho Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn thi hành và những vấn đề khác có liên quan đến việc cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề; cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
2. Ngoài việc áp dụng Luật khám bệnh, chữa bệnh, Nghị định số 87/2011/NĐ-CP và Nghị định này, người hành nghề, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh còn phải thực hiện các quy định của pháp luật về dược, thương mại, doanh nghiệp, đầu tư, quảng cáo, bảo vệ môi trường, an toàn bức xạ, phòng cháy, chữa cháy và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.
3. Việc thu và sử dụng lệ phí cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề bao gồm cả điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề; cấp, cấp lại và điều chỉnh giấy phép hoạt động của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; cấp giấy chứng nhận biết tiếng Việt thành thạo hoặc giấy chứng nhận sử dụng thành thạo ngôn ngữ khác hoặc giấy chứng nhận đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh; cấp giấy phép đối với cơ sở giáo dục đủ điều kiện để kiểm tra và công nhận biết tiếng Việt thành thạo hoặc sử dụng thành thạo ngôn ngữ khác hoặc đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Điều 5. Hành vi bị nghiêm cấm
1. Khám bệnh, chữa bệnh không có chứng chỉ hành nghề hoặc đang trong thời gian bị đình chỉ hành nghề, cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh mà không có giấy phép hoạt động hoặc đang trong thời gian bị đình chỉ hoạt động.
2. Hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh vượt quá phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề, giấy phép hoạt động, trừ trường hợp cấp cứu.
3. Thuê, mượn, cho thuê, cho mượn chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hoạt động.
4. Quảng cáo không đúng với khả năng, trình độ chuyên môn hoặc quá phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề, giấy phép hoạt động; lợi dụng kiến thức y học cổ truyền hoặc kiến thức y khoa khác để quảng cáo gian dối về phương pháp chữa bệnh, thuốc chữa bệnh.
5. Cán bộ, công chức, viên chức y tế thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia quản lý, điều hành bệnh viện tư nhân hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp và Luật hợp tác xã, trừ trường hợp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cử tham gia quản lý, điều hành tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có phần vốn của Nhà nước.

Chương II
QUY ĐỊNH VIỆC CẤP, CẤP LẠI CHỨNG CHỈ HÀNH NGHỀ
Mục 1
HỒ SƠ, THỦ TỤC CẤP, CẤP LẠI CHỨNG CHỈ HÀNH NGHỀ

Điều 6. Hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề đối với người Việt Nam
1.Hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề đối với người Việt Nam thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 27 Luật khám bệnh, chữa bệnh, cụ thể như sau:
a) Đơn đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề theo mẫu 01 quy định tại Phụ lục 01 ban hành kèm theo Nghị định này và hai ảnh màu 04 x 06 cm được chụp trên nền trắng trong thời gian không quá 06 tháng tính đến ngày nộp đơn;
b) Bản sao có chứng thực văn bằng chuyên môn liên quan đến y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề, cụ thể như sau:
– Văn bằng chuyên môn y.
– Văn bằng hoặc giấy chứng nhận trình độ chuyên môn đối với lương y hoặc giấy chứng nhận bài thuốc gia truyền hoặc phương pháp khám bệnh, chữa bệnh gia truyền do Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là tỉnh) cấp;
– Văn bằng chuyên môn của kỹ thuật viên: tốt nghiệp trung cấp trở lên chuyên ngành kỹ thuật y học; nếu tốt nghiệp cử nhân chuyên ngành hóa học, sinh học, dược sĩ đại học từ trước ngày Nghị định này có hiệu lực thì phải có chứng chỉ hoặc giấy chứng nhận đào tạo chuyên ngành kỹ thuật y học (xét nghiệm), thời gian học tối thiểu 3 tháng tại các đơn vị đã được cấp mã số đào tạo liên tục và thẩm định chương trình đào tạo theo quy định tại Thông tư số 22/2013/TT-BYT ngày 09 tháng 8 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế về hướng dẫn việc đào tạo liên tục cho cán bộ y tế; trường hợp chứng chỉ hoặc giấy chứng nhận đào tạo đã được cấp trước ngày Thông tư số 22/2013/TT-BYT có hiệu lực thì phải do cơ sở có chức năng đào tạo, cấp chứng chỉ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.
– Văn bằng của bác sĩ y học dự phòng;
– Trường hợp người tốt nghiệp cử nhân y khoa trình độ đại học do nước ngoài cấp gồm: cử nhân lâm sàng, cử nhân nội khoa và ngoại khoa, cử nhân điều trị học (y đa khoa), cử nhân Trung Y (Y học cổ truyền), cử nhân Răng Hàm Mặt, cử nhân Răng (Nha sĩ) phải có văn bằng, chứng chỉ sau đây:
+ Tốt nghiệp trước ngày 01 tháng 01 năm 2012: có bằng cử nhân y khoa trong trường hợp nước cấp bằng có Hiệp định ký kết với Việt Nam về việc công nhận văn bằng tương đương hoặc có bằng cử nhân y khoa và văn bản công nhận của Cục Khảo thí, Bộ Giáo dục và Đào tạo trong trường hợp nước cấp bằng chưa có Hiệp định ký kết với Việt Nam về việc công nhận văn bằng tương đương; Văn bằng, chứng chỉ chuyên môn y tế đào tạo bổ sung theo ngành, chuyên ngành phù hợp, có thời gian đào tạo cộng dồn tối thiểu là 12 tháng tại Trường Đại học y, dược hoặc bệnh viện đa khoa, chuyên khoa Trung ương của Việt Nam.
+ Tốt nghiệp sau ngày 01 tháng 01 năm 2012: có bằng cử nhân y khoa trong trường hợp nước cấp bằng có Hiệp định ký kết với Việt Nam về việc công nhận văn bằng tương đương hoặc có bằng cử nhân y khoa và văn bản công nhận của Cục Khảo thí, Bộ Giáo dục và Đào tạo trong trường hợp nước cấp bằng chưa có Hiệp định ký kết với Việt Nam về việc công nhận văn bằng tương đương; Giấy chứng nhận hoàn thành khóa học bổ sung theo ngành, chuyên ngành phù hợp, thời gian đào tạo tối thiểu là 12 tháng tại trường đại học y, dược của Việt Nam đã được cấp có thẩm quyền giao nhiệm vụ đào tạo mã ngành tương ứng theo chương trình đào tạo bổ sung cho từng ngành theo hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Y tế.
– Trường hợp mất văn bằng chuyên môn thì phải có giấy chứng nhận tốt nghiệp hoặc bản sao chứng thực giấy chứng nhận thay thế bằng tốt nghiệp do cơ sở đào tạo nơi cấp văn bằng chuyên môn cấp;
c) Một trong các giấy tờ xác nhận quá trình thực hành sau đây:
– Giấy xác nhận quá trình thực hành theo quy định tại Điều 18 Nghị định này bằng bác sĩ nội trú, bằng chuyên khoa cấp I, bằng chuyên khoa cấp II, chứng chỉ hoặc giấy chứng nhận chuyên khoa định hướng có tổng số thời gian thực hành quy đổi phải đủ theo quy định tại Điều 24 Luật khám bệnh, chữa bệnh;
Trường hợp thời gian đào tạo chuyên khoa định hướng không đủ thời gian theo quy định tại Điều 24 Luật khám bệnh, chữa bệnh thì phải bổ sung giấy xác nhận quá trình thực hành để đủ thời gian thực hành theo quy định tại Điều 24 Luật khám bệnh, chữa bệnh.
d) Giấy chứng nhận đủ sức khỏe để hành nghề khám bệnh, chữa bệnh do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế cấp;
đ) Phiếu lý lịch tư pháp;
e) Sơ yếu lý lịch có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là xã) nơi người hành nghề cư trú. Đối với người hành nghề đang làm việc tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì sơ yếu lý lịch phải có xác nhận của thủ trưởng đơn vị nơi công tác. Sơ yếu lý lịch thực hiện theo mẫu 04 – Phụ lục 01 ban hành kèm theo Nghị định này. Sơ yếu lý lịch có giá trị trong thời hạn 6 tháng tính đến thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề.
2. Hồ sơ đề nghị cấp lại chứng chỉ hành nghề đối với người bị mất hoặc bị hư hỏng chứng chỉ hành nghề hoặc bị thu hồi chứng chỉ hành nghề theo quy định tại Điểm a, b Khoản 1 Điều 29 Luật khám bệnh, chữa bệnh: Đơn đề nghị cấp lại chứng chỉ hành nghề theo mẫu 01 quy định tại Phụ lục 02 ban hành kèm theo Nghị định này và hai ảnh 04 x 06 cm được chụp trên nền trắng trong thời gian không quá 06 tháng tính đến ngày nộp đơn.
3. Hồ sơ đề nghị cấp lại chứng chỉ hành nghề trong trường hợp bị thu hồi theo quy định tại các Điểm c, d, đ, e và g Khoản 1 Điều 29 Luật khám bệnh, chữa bệnh bao gồm:
a) Đơn đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề theo mẫu 02 quy định tại Phụ lục 02 ban hành kèm theo Nghị định này và hai ảnh 04 x 06 cm được chụp trên nền trắng trong thời gian không quá 06 tháng tính đến ngày nộp đơn;
b) Các giấy tờ theo quy định tại Khoản 1 Điều này, trừ giấy xác nhận quá trình thực hành;
c) Giấy chứng nhận đã cập nhật kiến thức y khoa liên tục theo quy định của Bộ Y tế.
4. Hồ sơ điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh:
a) Hồ sơ bổ sung phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh bao gồm:
– Đơn đề nghị bổ sung phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh theo mẫu quy định tại mẫu 03 – Phụ lục 01 ban hành kèm theo Nghị định này;
– Bản sao có chứng thực văn bằng và chứng chỉ chuyên môn phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn đề nghị bổ sung;
– Giấy xác nhận quá trình thực hành theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều này;
b) Hồ sơ đề nghị thay đổi phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề thực hiện theo quy định tại các điểm b, c, d, e Khoản 1 Điều 5 Nghị định này và:
– Đơn đề nghị thay đổi phạm vi hoạt động chuyên môn theo mẫu 03a – Phụ lục 02 ban hành kèm theo Nghị định này;
– Hai ảnh màu 04 x 06 cm được chụp trên nền trắng trong thời gian không quá 06 tháng tính đến ngày nộp đơn.

Điều 7. Hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
1. Hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 27 Luật khám bệnh, chữa bệnh, cụ thể như sau:
a) Đơn đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề theo mẫu 02 quy định tại Phụ lục 01 ban hành kèm theo Nghị định này và hai ảnh 04 x 06 cm được chụp trên nền trắng trong thời gian không quá 06 tháng tính đến ngày nộp đơn;
b) Bản sao có chứng thực văn bằng chuyên môn;
c) Giấy xác nhận quá trình thực hành;
d) Bản sao có chứng thực giấy chứng nhận biết tiếng Việt thành thạo.
Trường hợp người đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề không có giấy chứng nhận biết tiếng Việt thành thạo thì phải có người phiên dịch để phiên dịch từ ngôn ngữ của người đó đăng ký sử dụng sang tiếng Việt.
Trường hợp người đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề đăng ký sử dụng ngôn ngữ khác mà không phải là tiếng mẹ đẻ của người đó để khám bệnh, chữa bệnh thì phải có giấy chứng nhận sử dụng thành thạo ngôn ngữ đó và phải có người phiên dịch để phiên dịch từ ngôn ngữ đó sang tiếng Việt.
Người phiên dịch phải có giấy chứng nhận đủ trình độ phiên dịch phù hợp với ngôn ngữ mà người nước ngoài đăng ký sử dụng trong khám bệnh, chữa bệnh và có hợp đồng lao động với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi người nước ngoài làm việc;
đ) Bản sao có chứng thực giấy phép lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền về lao động của Việt Nam cấp;
e) Trường hợp các văn bản quy định tại các Điểm b, c và d Khoản 1 Điều này do tổ chức nước ngoài cấp phải được hợp pháp hóa lãnh sự và dịch ra tiếng Việt, bản dịch phải được chứng thực theo quy định của pháp luật Việt Nam.
g) Giấy chứng nhận đủ sức khỏe để hành nghề khám bệnh, chữa bệnh do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế cấp.
2. Hồ sơ đề nghị cấp lại chứng chỉ hành nghề đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài bị mất hoặc bị hư hỏng chứng chỉ hành nghề hoặc bị thu hồi chứng chỉ hành nghề theo quy định tại Điểm a, b Khoản 1 Điều 29 Luật khám bệnh, chữa bệnh: Đơn đề nghị cấp lại chứng chỉ hành nghề theo mẫu 03 quy định tại Phụ lục 02 ban hành kèm theo Nghị định này và hai ảnh 04 x 06 cm được chụp trên nền trắng trong thời gian không quá 06 tháng tính đến ngày nộp đơn.
3. Hồ sơ đề nghị cấp lại chứng chỉ hành nghề đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài trong trường hợp bị thu hồi theo quy định tại các Điểm c, d, đ, e và g Khoản 1 Điều 29 Luật khám bệnh, chữa bệnh bao gồm:
a) Đơn đề nghị cấp lại chứng chỉ hành nghề theo mẫu 03 quy định tại Phụ lục 02 ban hành kèm theo Nghị định này; hai ảnh 04 x 06 cm được chụp trên nền trắng trong thời gian không quá 06 tháng tính đến ngày nộp đơn;
b) Các giấy tờ quy định tại các Điểm b, c, d, đ và e Khoản 1 Điều này.
4. Hồ sơ điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề:
a) Hồ sơ bổ sung phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề gồm:
– Đơn đề nghị bổ sung phạm vi hoạt động chuyên môn theo Phụ lục 04 ban hành kèm theo Nghị định này;
– Bản sao có chứng thực văn bằng chuyên môn phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn đề nghị bổ sung;
– Giấy xác nhận quá trình thực hành phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn đề nghị bổ sung và thời gian hành nghề theo quy định tại Điều 24 Luật khám bệnh, chữa bệnh;
b) Hồ sơ đề nghị thay đổi phạm vi hoạt động chuyên môn thực hiện theo quy định tại các điểm b, c, d, e Khoản 1 Điều 5 Nghị định này và:
– Đơn đề nghị thay đổi phạm vi hoạt động chuyên môn;
– Hai ảnh màu 04 x 06 cm được chụp trên nền trắng trong thời gian không quá 06 tháng tính đến ngày nộp đơn.
5. Các giấy tờ có trong hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề quy định nộp bản sao có chứng thực có thể áp dụng một trong các hình thức sau đây:
a) Bản sao có chứng thực;
b) Bản sao và xuất trình bản gốc để người tiếp nhận hồ sơ đối chiếu, kiểm ra, ký xác nhận lên bản sao khi nộp hồ sơ trực tiếp.

Điều 8. Thủ tục cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề và điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề
1. Hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề và điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề theo quy định tại Điều 5 và Điều 6 Nghị định này được thực hiện như sau:
a) Người đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề và điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền quy định tại Khoản 1 Điều 26 Luật khám bệnh, chữa bệnh:
– Gửi 01 bộ hồ sơ về Cục Quản lý khám, chữa bệnh – Bộ Y tế; đối với người hành nghề y học cổ truyền gửi 01 bộ hồ sơ về Cục Quản lý y, dược cổ truyền;
– Trường hợp người hành nghề đã được Bộ Y tế cấp chứng chỉ hành nghề nhưng tại thời điểm đề nghị bổ sung hoặc thay đổi phạm vi hoạt động chuyên môn, người hành nghề làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý của Sở Y tế thì nộp hồ sơ về Sở Y tế để đề nghị bổ sung hoặc thay đổi phạm vi hoạt động chuyên môn.
– Trường hợp người hành nghề được Sở Y tế cấp chứng chỉ hành nghề nhưng tại thời điểm đề nghị bổ sung hoặc thay đổi phạm vi hoạt động chuyên môn, người hành nghề làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Y tế hoặc Sở Y tế khác thì nộp hồ sơ về Bộ Y tế hoặc Sở Y tế có thẩm quyền quản lý cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đang hành nghề để đề nghị bổ sung hoặc thay đổi phạm vi hoạt động chuyên môn.
– Trường hợp tại thời điểm đề nghị cấp, cấp lại hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề, người hành nghề không làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nào thì nộp hồ sơ về Sở Y tế nơi có hộ khẩu thường trú để đề nghị cấp, bổ sung hoặc thay đổi phạm vi hoạt động chuyên môn.
b) Người đề nghị cấp, cấp lại hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền quy định tại Khoản 2 Điều 26 Luật khám bệnh, chữa bệnh gửi 01 bộ hồ sơ về Sở Y tế tỉnh.
2. Trình tự xem xét đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề:
a) Khi nhận được hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề, Bộ Y tế hoặc Sở Y tế tỉnh (sau đây gọi tắt là cơ quan tiếp nhận hồ sơ) gửi cho người đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề Phiếu tiếp nhận hồ sơ theo quy định tại Phụ lục 03 ban hành kèm theo Nghị định này;
b) Trong thời gian quy định tại các khoản 2, 3 Điều 28 Luật khám bệnh, chữa bệnh kể từ ngày ghi trên Phiếu tiếp nhận hồ sơ, Tổ thư ký quy định tại Điều 9 Nghị định này phải tiến hành thẩm định hồ sơ. Nếu không có yêu cầu bổ sung thì phải trình thủ trưởng cơ quan tiếp nhận hồ sơ để cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề; nếu không cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do;
Trường hợp hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề chưa hợp lệ thì trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày ghi trên Phiếu tiếp nhận hồ sơ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ phải có văn bản thông báo cho người đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề để hoàn chỉnh hồ sơ. Văn bản thông báo phải nêu cụ thể là bổ sung thêm những tài liệu nào, sửa đổi nội dung gì;
c) Khi nhận được văn bản yêu cầu hoàn chỉnh hồ sơ, người đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề phải sửa đổi, bổ sung theo đúng những nội dung đã được ghi trong văn bản và gửi về cơ quan tiếp nhận hồ sơ. Ngày tiếp nhận hồ sơ bổ sung được ghi trên Phiếu tiếp nhận hồ sơ. Nếu cơ quan tiếp nhận hồ sơ không có văn bản yêu cầu sửa đổi, bổ sung thì phải cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề trong thời gian quy định tại Điểm b Khoản này;
d) Trường hợp người đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề đã bổ sung hồ sơ nhưng không đúng với yêu cầu thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ sẽ thông báo cho người đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề để tiếp tục hoàn chỉnh hồ sơ theo quy định tại các điểm c, d Khoản 2 Điều này.
3. Chứng chỉ hành nghề, quyết định cấp bổ sung, thay đổi phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề do Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế tỉnh cấp theo mẫu quy định tại Phụ lục 4 và theo mã số quy định tại Phụ lục 05 ban hành kèm theo Nghị định này và mỗi cá nhân chỉ được cấp một chứng chỉ hành nghề. Phôi chứng chỉ hành nghề do Bộ Y tế quản lý và cung cấp.
4. Bản sao chứng chỉ hành nghề, quyết định cấp bổ sung, thay đổi phạm vi hoạt động chuyên môn khám bệnh, chữa bệnh và hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề được lưu tại cơ quan cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề.

Điều 9. Phạm vi hoạt động chuyên môn ghi trên chứng chỉ hành nghề
1. Phạm vi hoạt động chuyên môn ghi trên chứng chỉ hành nghề theo các nhóm chuyên khoa quy định tại Phụ lục 4b ban hành kèm theo Nghị định này.
2. Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh căn cứ phạm vi hoạt động chuyên môn ghi trên chứng chỉ hành nghề, văn bằng, chứng chỉ và năng lực của người hành nghề để cho phép người hành nghề được thực hiện các chuyên môn kỹ thuật cụ thể tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh do mình phụ trách.

Mục 2
TỔ CHỨC VIỆC CẤP, CẤP LẠI CHỨNG CHỈ HÀNH NGHỀ

Điều 10. Hội đồng tư vấn về cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề
1. Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế tỉnh thành lập Hội đồng tư vấn về cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề (sau đây gọi tắt là Hội đồng tư vấn) theo quy định tại Khoản 4 Điều 28 Luật khám bệnh, chữa bệnh.
2. Chủ tịch Hội đồng tư vấn có trách nhiệm chỉ đạo việc xây dựng quy chế hoạt động của Hội đồng tư vấn để trình Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt.
3. Các thành viên của Hội đồng tư vấn thực hiện các nhiệm vụ theo sự phân công của chủ tịch Hội đồng tư vấn và được cung cấp các tài liệu liên quan đến việc thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Khoản 4 Điều 28 Luật khám bệnh, chữa bệnh.

Điều 11. Tổ thư ký thẩm định hồ sơ cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề
1. Bộ trưởng Bộ Y tế thành lập Tổ thư ký để giúp việc cho Bộ trưởng Bộ Y tế trong việc thẩm định hồ sơ cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề gồm các thành phần sau:
a) Đại diện lãnh đạo Cục Quản lý khám, chữa bệnh làm Tổ trưởng;
b) Đại diện lãnh đạo Vụ Y dược cổ truyền làm Phó tổ trưởng;
c) Đại diện Vụ Pháp chế;
d) Đại diện Vụ Khoa học và Đào tạo;
đ) Các thành phần khác có liên quan.
2. Giám đốc Sở Y tế tỉnh thành lập Tổ thư ký để giúp việc cho Giám đốc Sở Y tế tỉnh trong việc thẩm định hồ sơ cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề gồm các thành phần sau:
a) Trưởng phòng Quản lý hành nghề hoặc Trưởng phòng Nghiệp vụ y (đối với Sở Y tế tỉnh chưa thành lập phòng Quản lý hành nghề) làm Tổ trưởng;
b) Đại diện phòng Nghiệp vụ y (đối với Sở Y tế tỉnh đã thành lập phòng Quản lý hành nghề);
c) Đại diện phòng Tổ chức cán bộ của Sở Y tế;
d) Các thành phần khác có liên quan.
3. Thường trực của Tổ thư ký đặt tại Cục Quản lý khám, chữa bệnh – Bộ Y tế hoặc phòng Quản lý hành nghề hoặc phòng Nghiệp vụ y (đối với Sở Y tế tỉnh chưa thành lập phòng Quản lý hành nghề) – Sở Y tế.

Điều 12. Mối quan hệ công tác giữa Hội đồng tư vấn và Tổ thư ký
1. Tổ thư ký có trách nhiệm:
a) Xin ý kiến tư vấn của Hội đồng tư vấn trong trường hợp cần thiết về các nội dung liên quan đến việc  cấp, cấp lại, thu hồi chứng chỉ hành nghề; đình chỉ hoạt động chuyên môn của người hành nghề; xem xét công nhận giấy chứng nhận cập nhật kiến thức y khoa liên tục hoặc các giấy tờ liên quan đến việc công nhận người biết tiếng Việt thành thạo hoặc sử dụng thành thạo ngôn ngữ khác hoặc đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh;
b) Báo cáo Hội đồng tư vấn danh sách những người đã được cấp, cấp lại, thu hồi chứng chỉ hành nghề; các trường hợp người hành nghề bị đình chỉ hoạt động chuyên môn theo định kỳ 06 tháng/lần.
2. Hội đồng tư vấn có trách nhiệm:
a) Cho ý kiến tư vấn theo đề nghị của Tổ thư ký về các nội dung quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều này;
b) Thông báo với Tổ thư ký về các trường hợp có căn cứ rõ ràng cho thấy việc cấp, cấp lại, thu hồi chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ hoạt động chuyên môn của người hành nghề là không đúng theo quy định của pháp luật.

Mục 3
ĐĂNG KÝ HÀNH NGHỀ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH

Điều 13. Nguyên tắc đăng ký hành nghề
1. Một người hành nghề chỉ được đăng ký chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, không được đồng thời làm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật từ hai cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trở lên.
2. Một người hành nghề chỉ được đăng ký làm người phụ trách một khoa của một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (không được đồng thời làm người phụ trách từ hai khoa trở lên trong cùng một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc đồng thời làm người phụ trách khoa của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác).
3. Người hành nghề chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thể kiêm nhiệm phụ trách khoa trong cùng một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng chỉ được phụ trách một khoa và phải phù hợp với văn bằng chuyên môn được đào tạo của người đó.
4. Người hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được đăng ký làm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ngoài giờ.
5. Người hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước không được đăng ký làm người đứng đầu của bệnh viện tư nhân hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp và Luật hợp tác xã, trừ trường hợp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cử tham gia quản lý, điều hành tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có phần vốn của Nhà nước.
6. Người hành nghề đã đăng ký làm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được đăng ký làm việc ngoài giờ tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác trên cùng địa bàn tỉnh nhưng tổng thời gian làm ngoài giờ không quá 200 giờ theo quy định của Bộ luật Lao động.
7. Người hành nghề đã đăng ký hành nghề tại một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì không được đăng ký làm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn tỉnh khác với nơi mình đang hành nghề để bảo đảm tính liên tục, ổn định trong cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh.
8. Người hành nghề đã đăng ký hành nghề ở một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh theo chế độ luân phiên cán bộ từ tuyến trên xuống tuyến dưới, khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo hoặc thực hiện kỹ thuật chuyên môn (ví dụ: hội chẩn, mổ phiên) theo hợp đồng giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì không phải đăng ký hành nghề.
9. Trường hợp người chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh vắng mặt tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh vì lý do ốm đau, nghỉ phép, đi học hoặc vì các lý do khác thì người chịu trách nhiệm chuyên môn phải thực hiện các thủ tục sau:
a) Nếu thời gian vắng mặt tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh dưới 3 ngày thì phải ủy quyền bằng văn bản cho người làm việc tại cơ sở khám, chữa bệnh đó có chứng chỉ hành nghề phù hợp với ít nhất một trong các chuyên khoa mà cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đăng ký hoạt động và có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 54 tháng;
b) Nếu thời gian vắng mặt tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên 3 ngày thì thực hiện theo quy định tại Điểm a Khoản 9 Điều này và phải có văn bản báo cáo Sở Y tế;
c) Nếu thời gian vắng mặt tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ 30 ngày đến 180 ngày thì thực hiện theo quy định tại Điểm a Khoản 9 Điều này, có văn bản báo cáo Sở Y tế và được Sở Y tế chấp thuận bằng văn bản;
d) Nếu thời gian vắng mặt tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên 180 ngày thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải làm hồ sơ, thủ tục đề nghị thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Điều 14. Nội dung và hình thức đăng ký hành nghề khám bệnh, chữa bệnh
1. Nội dung đăng ký hành nghề:
a) Địa điểm hành nghề: ghi rõ tên, địa chỉ của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi đăng ký hành nghề;
b) Thời gian hành nghề: ghi cụ thể thời gian làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (từ mấy giờ đến mấy giờ trong ngày và mấy ngày trong tuần);
c) Vị trí chuyên môn:
– Ghi rõ khoa, phòng hoặc bộ phận chuyên môn nơi người hành nghề làm việc;
– Ghi rõ chức danh mà người hành nghề được phân công đảm nhiệm (ví dụ là người đứng đầu hoặc người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật hoặc người phụ trách khoa hoặc nhân viên).
2. Hình thức đăng ký hành nghề: Việc đăng ký hành nghề phải thực hiện bằng văn bản theo mẫu quy định tại Phụ lục 06 ban hành kèm theo Nghị định này.

Điều 15. Trình tự đăng ký hành nghề
1. Thời điểm đăng ký hành nghề:
a) Đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đề nghị cấp giấy phép hoạt động thì việc đăng ký hành nghề cho người hành nghề được thực hiện cùng thời điểm thực hiện việc đề nghị cấp giấy phép hoạt động;
b) Đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được cấp giấy phép hoạt động khi có thay đổi về nhân sự thì trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày ký quyết định tuyển dụng hoặc ký kết hợp đồng lao động với người hành nghề hoặc sa thải người hành nghề hoặc chấm dứt hợp đồng lao động với người hành nghề hoặc người hành nghề có thông báo nghỉ việc, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm gửi danh sách người hành nghề mới tiếp nhận và danh sách người hành nghề không còn làm việc tại cơ sở của mình đến cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quy định tại Khoản 2 Điều này.
2. Tiếp nhận văn bản đăng ký hành nghề:
a) Sở Y tế tỉnh tiếp nhận việc đăng ký hành nghề của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trụ sở đóng trên địa bàn (bao gồm cả bệnh viện tư nhân và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc các bộ, ngành), trừ các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế;
b) Bộ Y tế tiếp nhận việc đăng ký hành nghề của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế.
3. Xác nhận việc đăng ký hành nghề:
a) Đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đề nghị cấp giấy phép hoạt động thì việc xác nhận đăng ký hành nghề phải được thể hiện trong biên bản thẩm định;
b) Đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đang hoạt động thì trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được danh sách đăng ký hành nghề quy định tại Khoản 1 Điều này, căn cứ vào nguyên tắc đăng ký hành nghề quy định tại Điều 11 Nghị định này, Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế tỉnh phải có văn bản phê duyệt việc đăng ký hành nghề. Trường hợp không phê duyệt phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do từ chối đối với từng trường hợp cụ thể.
4. Trường hợp trong danh sách đăng ký hành nghề của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có người hành nghề đang hành nghề tại một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác thì trong danh sách đăng ký người hành nghề phải ghi rõ thời gian, địa điểm, vị trí chuyên môn của người hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh mà người hành nghề đang hành nghề trước đó.

Điều 16. Quản lý thông tin đăng ký hành nghề
1. Trong thời gian 10 ngày làm việc sau khi phê duyệt việc đăng ký hành nghề của người hành nghề, Sở Y tế tỉnh phải gửi danh sách người hành nghề đã được đăng ký trên địa bàn quản lý về Bộ Y tế.
2. Trong thời gian 10 ngày làm việc sau khi phê duyệt việc đăng ký hành nghề của người hành nghề, Bộ Y tế phải gửi danh sách người hành nghề đã được đăng ký cho Sở Y tế tỉnh nơi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có người đăng ký hành nghề đặt trụ sở.

Mục 4
XÁC NHẬN QUÁ TRÌNH THỰC HÀNH

Điều 17. Nguyên tắc đăng ký thực hành
Người đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề phải đăng ký thực hành phù hợp với văn bằng chuyên môn được đào tạo.
Trường hợp là bác sỹ đa khoa thì đăng ký thực hành theo một trong bốn chuyên khoa nội, ngoại, sản, nhi hoặc đăng ký thực hành theo một trong các hệ nội – nhi hoặc ngoại – sản. Trường hợp thực hành theo hệ thì tổng thời gian thực hành là 18 tháng trong đó thời gian thực hành tại mỗi chuyên khoa thuộc hệ ít nhất là 09 tháng liên tục.
Trường hợp là y sỹ đa khoa thì đăng ký thực hành theo một trong bốn chuyên khoa nội, ngoại, sản, nhi hoặc đăng ký thực hành theo một trong các hệ nội – nhi hoặc ngoại – sản. Trường hợp thực hành theo hệ thì tổng thời gian thực hành là 12 tháng trong đó thời gian thực hành tại mỗi chuyên khoa thuộc hệ ít nhất là 06 tháng liên tục.

Điều 18. Xác nhận về thời gian thực hành
1. Xác nhận về thời gian thực hành đối với bác sỹ:
a) Đối với bác sỹ đã thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trước ngày 01/01/2012:
– Nếu có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 18 tháng liên tục tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì được xác nhận có đủ thời gian thực hành;
– Nếu có thời gian khám bệnh, chữa bệnh chưa đủ 18 tháng liên tục tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì thời gian đã thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trước ngày 01/01/2012 được tính là thời gian thực hành (xác định từ thời điểm ký kết hợp đồng lao động hoặc có quyết định tuyển dụng) và phải tiếp tục thực hành đến khi đủ 18 tháng để được xác nhận có đủ thời gian thực hành;
– Nếu đã có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 18 tháng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng sau đó đã không tiếp tục thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trong thời gian 02 năm tính đến ngày nộp hồ sơ xin cấp chứng chỉ hành nghề thì không phải thực hành lại nếu có giấy chứng nhận cập nhật kiến thức y khoa liên tục. Trường hợp không có giấy chứng nhận cập nhật kiến thức y khoa liên tục thì phải thực hành theo quy định tại Khoản 1 Điều 24 Luật khám bệnh, chữa bệnh;
b) Đối với bác sỹ bắt đầu thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh từ ngày 01 tháng 01 năm 2012 thì phải thực hành theo quy định tại Khoản 1 Điều 24 Luật khám bệnh, chữa bệnh.
2. Xác nhận về thời gian thực hành đối với y sỹ:
a) Đối với y sỹ đã thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trước ngày 01/01/2012:
– Nếu có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 12 tháng liên tục tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì được xác nhận có đủ thời gian thực hành;
– Nếu có thời gian khám bệnh, chữa bệnh chưa đủ 12 tháng liên tục tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì thời gian đã thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trước ngày 01/01/2012 được tính là thời gian thực hành (xác định từ thời điểm có hợp đồng lao động hoặc quyết định tuyển dụng) và phải tiếp tục thực hành đến khi đủ 12 tháng để được xác nhận có đủ thời gian thực hành;
– Nếu đã có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 12 tháng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng sau đó đã không thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trong thời gian 02 năm tính đến ngày nộp hồ sơ xin cấp chứng chỉ hành nghề thì phải thực hành theo quy định tại Khoản 1 Điều 24 Luật khám bệnh, chữa bệnh.
b) Đối với y sỹ bắt đầu thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh từ ngày 01/01/2012 thì phải thực hành theo quy định tại Khoản 1 Điều 24 Luật khám bệnh, chữa bệnh.
3. Xác nhận về thời gian thực hành đối với hộ sinh viên, kỹ thuật viên và điều dưỡng viên:
a) Đối với hộ sinh viên, kỹ thuật viên và điều dưỡng viên đã thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trước ngày 01/01/2012:
– Nếu có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 09 tháng liên tục tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì được xác nhận có đủ thời gian thực hành;
– Nếu có thời gian khám bệnh, chữa bệnh chưa đủ là 09 tháng liên tục tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì thời gian đã thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trước ngày 01/01/2012 được tính là thời gian thực hành (xác định từ thời điểm có hợp đồng lao động hoặc quyết định tuyển dụng) và phải tiếp tục thực hành đến khi đủ 09 tháng để được xác nhận có đủ thời gian thực hành;
– Nếu đã có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 09 tháng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng sau đó đã không thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trong thời gian 02 năm tính đến ngày nộp hồ sơ xin cấp chứng chỉ hành nghề thì phải thực hành theo quy định tại Khoản 1 Điều 24 Luật khám bệnh, chữa bệnh.
b) Đối với hộ sinh viên, kỹ thuật viên và điều dưỡng bắt đầu thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh từ ngày 01/01/2012 thì phải thực hành theo quy định tại Khoản 1 Điều 24 Luật khám bệnh, chữa bệnh.
3.Xác nhận quá trình thực hành trước ngày 01/01/2012 đối với người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh tại trung tâm y tế (trung tâm y tế dự phòng, trung tâm y tế các quận huyện thị xã, trung tâm phòng chống bệnh xã hội, trung tâm y tế các bộ, ngành), y tế cơ quan, đơn vị, tổ chức đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề phải là viên chức, hợp đồng lao động dài hạn:
a) Trường hợp trung tâm y tế, cơ quan, đơn vị, tổ chức có thành lập đơn vị khám bệnh, chữa bệnh: thời gian thực hành khám bệnh, chữa bệnh do người phụ trách y tế cơ quan, đơn vị, tổ chức xác nhận kèm theo quyết định thành lập cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của cơ quan có thẩm quyền;
b) Trường hợp trung tâm y tế, cơ quan, đơn vị, tổ chức không thành lập đơn vị khám bệnh, chữa bệnh: việc xác nhận thời gian thực hành cho người hành nghề sẽ do thủ trưởng cơ quan xác nhận và kèm theo văn bản phân công người đó làm công tác y tế của cơ quan, đơn vị, tổ chức;
c) Đối với người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh tại trung tâm y tế, y tế cơ quan đơn vị, tổ chức đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề bắt đầu thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh từ ngày 01 tháng 01 năm 2012 đến nay thì phải thực hành theo quy định tại Khoản 1

Điều 24 Luật khám bệnh, chữa bệnh.
4. Bộ trưởng Bộ Y tế, Lãnh đạo các Bộ, ngành hoặc Giám đốc Sở Y tế tỉnh có trách nhiệm phân công các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý tham gia hướng dẫn thực hành đối với người có nhu cầu xác nhận quá trình thực hành.

Điều 19. Nội dung xác nhận về năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp
1. Nội dung xác nhận năng lực chuyên môn gồm: Khả năng thực hiện các kỹ thuật chuyên môn cơ bản theo chuyên khoa đăng ký thực hành do người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định.
2. Nội dung xác nhận đạo đức nghề nghiệp gồm: Việc thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 36, 37, 38 và 39 Luật khám bệnh, chữa bệnh và việc giao tiếp, ứng xử của người đăng ký thực hành theo quy định tại Quyết định số 29/2008/QĐ – BYT ngày 18 tháng 8 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế, về việc ban hành Quy tắc ứng xử của cán bộ, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp y tế.

Điều 20. Tổ chức việc thực hành
1. Tiếp nhận người thực hành:
a) Người thực hành phải có bản sao có chứng thực văn bằng chuyên môn và đơn đề nghị theo mẫu quy định tại Phụ lục 07 ban hành kèm theo Nghị định này gửi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi cá nhân đăng ký tham gia thực hành;
b) Người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm ban hành quyết định tiếp nhận người thực hành và phân công người hướng dẫn thực hành theo mẫu quy định tại Phụ lục 08 ban hành kèm theo Nghị định này. Trường hợp người đăng ký thực hành không phải là nhân viên của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì phải có hợp đồng thỏa thuận theo mẫu quy định tại Phụ lục 09 ban hành kèm theo Nghị định này.
2. Người hướng dẫn thực hành phải là người hành nghề có phạm vi hoạt động chuyên môn phù hợp với chuyên khoa mà người thực hành đăng ký thực hành.
3. Người hướng dẫn thực hành có trách nhiệm hướng dẫn người thực hành thực hiện khám bệnh, chữa bệnh. Người hướng dẫn thực hành phải chịu trách nhiệm về kết quả khám bệnh, chữa bệnh của người đăng ký thực hành trong quá trình thực hành.
4. Sau khi hết thời gian thực hành, người hướng dẫn thực hành phải nhận xét quá trình thực hành của người đăng ký thực hành theo nội dung quy định tại Điều 17 Nghị định này và chịu trách nhiệm về nội dung nhận xét của mình.
5. Sau khi có nhận xét của người hướng dẫn thực hành quy định tại Khoản 3 Điều này, người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải cấp giấy xác nhận quá trình thực hành theo mẫu quy định tại Phụ lục 10 ban hành kèm theo Nghị định này.

Mục 5
TIÊU CHÍ ĐỂ CÔNG NHẬN BIẾT TIẾNG VIỆT THÀNH THẠO
HOẶC SỬ DỤNG THÀNH THẠO NGÔN NGỮ KHÁC HOẶC ĐỦ TRÌNH
ĐỘ PHIÊN DỊCH TRONG KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH

Điều 21. Tiêu chí để công nhận người hành nghề biết tiếng Việt thành thạo hoặc sử dụng thành thạo ngôn ngữ khác trong khám bệnh, chữa bệnh
1. Người hành nghề được công nhận biết tiếng Việt thành thạo trong khám bệnh, chữa bệnh khi được cơ sở giáo dục quy định tại Khoản 1 Điều 21 Nghị định này kiểm tra để công nhận thành thạo cả bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết bằng tiếng Việt, trừ các trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều này.
2. Người hành nghề được công nhận sử dụng thành thạo ngôn ngữ khác tiếng Việt mà không phải là tiếng mẹ đẻ của người đó trong khám bệnh, chữa bệnh khi được cơ sở giáo dục quy định tại Khoản 1 Điều 21 Nghị định này kiểm tra để công nhận thành thạo cả bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết bằng ngôn ngữ mà người hành nghề đăng ký sử dụng trong khám bệnh, chữa bệnh, trừ các trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều này.
3. Các trường hợp được công nhận mà không phải qua kiểm tra khi có một trong các văn bằng, chứng chỉ sau:
a) Có bằng tốt nghiệp trình độ trung cấp chuyên ngành y trở lên do cơ sở đào tạo hợp pháp trong nước hoặc nước ngoài cấp mà toàn bộ chương trình đào tạo được sử dụng bằng tiếng Việt hoặc bằng ngôn ngữ mà người hành nghề đăng ký sử dụng trong khám bệnh, chữa bệnh;
b) Có chứng chỉ đã hoàn thành các khóa đào tạo chuyên ngành y có thời gian từ 12 tháng trở lên mà ngôn ngữ sử dụng trong đào tạo là tiếng Việt hoặc bằng ngôn ngữ mà người hành nghề đăng ký sử dụng trong khám bệnh, chữa bệnh;
c) Có bằng tốt nghiệp trình độ đại học chuyên ngành tiếng Việt hoặc bằng ngôn ngữ mà người hành nghề đăng ký sử dụng trong khám bệnh, chữa bệnh do các cơ sở đào tạo hợp pháp trong nước hoặc nước ngoài cấp.
Các văn bằng, chứng chỉ quy định tại Khoản 3 Điều này phải được cấp trong thời gian không quá 05 năm tính đến ngày nộp hồ sơ.

Điều 22. Tiêu chí để công nhận người có đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh
1. Người được công nhận đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh khi thành thạo cả bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết bằng tiếng nước ngoài và được cơ sở giáo dục quy định tại Khoản 1 Điều 21 Nghị định này kiểm tra để công nhận đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh, trừ các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều này.
2. Các trường hợp được công nhận mà không phải qua kiểm tra khi có một trong các văn bằng, chứng chỉ sau:
a) Có bằng tốt nghiệp trình độ trung cấp chuyên ngành y trở lên do cơ sở đào tạo hợp pháp trong nước hoặc nước ngoài cấp mà toàn bộ chương trình đào tạo được sử dụng bằng tiếng nước ngoài;
b) Có chứng chỉ đã hoàn thành các khóa đào tạo chuyên ngành y có thời gian từ 12 tháng trở lên mà ngôn ngữ sử dụng trong đào tạo là tiếng nước ngoài;
c) Có bằng tốt nghiệp trình độ trung cấp chuyên ngành y trở lên hoặc lương y và bằng tốt nghiệp trình độ đại học ngoại ngữ.
Các văn bằng, chứng chỉ quy định tại Điểm a và b Khoản 2 Điều này phải được cấp trong thời gian không quá 05 năm tính đến ngày nộp hồ sơ.

Điều 23. Điều kiện đối với cơ sở giáo dục được kiểm tra và công nhận biết tiếng Việt thành thạo hoặc sử dụng thành thạo ngôn ngữ khác hoặc đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh
1. Cơ sở giáo dục được kiểm tra và công nhận biết tiếng Việt thành thạo hoặc sử dụng thành thạo ngôn ngữ khác hoặc đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh khi có đủ các điều kiện sau:
a) Là trường đại học chuyên ngành y;
b) Có khoa hoặc bộ môn ngoại ngữ;
c) Có ngân hàng đề thi để kiểm tra và công nhận biết tiếng Việt thành thạo hoặc sử dụng thành thạo ngôn ngữ khác hoặc đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh.
2. Hồ sơ, thủ tục:
a) Hồ sơ:
– Bản sao có chứng thực các giấy tờ chứng minh việc thành lập và hoạt động của cơ sở giáo dục;
– Bản sao có chứng thực quyết định thành lập khoa hoặc bộ môn ngoại ngữ;
– Danh sách giảng viên làm việc toàn thời gian của khoa hoặc bộ môn ngoại ngữ;
– Ngân hàng đề thi được sử dụng để kiểm tra và công nhận biết tiếng Việt thành thạo hoặc sử dụng thành thạo ngôn ngữ khác hoặc đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh bằng một trong các ngôn ngữ sau: Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc, Ả Rập, Tây Ban Nha, Đức, Nhật Bản và Hàn Quốc.
b) Thủ tục:
– Căn cứ các điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều này, cơ sở giáo dục lập hồ sơ theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều này và gửi về Bộ Y tế (Vụ Khoa học – Đào tạo) để đề nghị công nhận đủ điều kiện. Riêng nội dung câu hỏi và đáp án của ngân hàng đề thi có thể gửi bằng giấy hoặc đĩa CD, DVD, USB hoặc thư điện tử;
– Trong thời gian 15 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ hợp lệ, Bộ Y tế phải có văn bản cho phép. Trường hợp từ chối phải nêu rõ lý do. Trường hợp cần thiết, Bộ Y tế tiến hành kiểm tra thực tế tại cơ sở đề nghị trước khi cho phép.
Điều 24. Hồ sơ, thủ tục đề nghị kiểm tra hoặc công nhận biết tiếng Việt thành thạo hoặc sử dụng thành thạo ngôn ngữ khác hoặc đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh
1. Hồ sơ đề nghị kiểm tra bao gồm:
a) Đơn đề nghị theo mẫu quy định tại Phụ lục 11 ban hành kèm theo Nghị định này và hai ảnh 04 x 06 cm được chụp trên nền trắng trong thời gian không quá 06 tháng tính đến ngày nộp đơn;
b) Bản sao có chứng thực giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu còn hạn sử dụng.
2. Hồ sơ đề nghị công nhận bao gồm:
a) Các giấy tờ quy định tại Điểm a và b Khoản 1 Điều này;
b) Bản sao có chứng thực văn bằng, chứng chỉ quy định tại Khoản 3 Điều 19 Nghị định này đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đề nghị công nhận biết tiếng Việt thành thạo hoặc Khoản 2 Điều 20 Nghị định này đối với người đề nghị công nhận có đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh hoặc Điểm d Khoản 1 Điều 6 Nghị định này đối với người hành nghề sử dụng ngôn ngữ khác trong khám bệnh, chữa bệnh.
3. Thủ tục đề nghị kiểm tra hoặc đề nghị công nhận:
a) Hồ sơ quy định tại Khoản 1 hoặc Khoản 2 Điều này được gửi tới cơ sở giáo dục quy định tại Khoản 1 Điều 21 Nghị định này;
b) Trong thời gian 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ sở giáo dục phải thực hiện như sau:
– Kiểm tra và cấp giấy chứng nhận đối với các trường hợp quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 19, Khoản 1 Điều 20. Kết quả kiểm tra phải được niêm yết công khai;
– Hoặc cấp giấy chứng nhận đối với các trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 19, Khoản 2 Điều 20. Trường hợp không cấp giấy chứng nhận phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.
4. Giấy chứng nhận thực hiện theo mẫu quy định tại Phụ lục 12 ban hành kèm theo Nghị định này.

Chương IV
ĐIỀU KIỆN, HỒ SƠ, THỦ TỤC CẤP, CẤP LẠI, ĐIỀU CHỈNH GIẤY PHÉP HOẠT ĐỘNG ĐỐI VỚI CƠ SỞ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH
Mục 1
ĐIỀU KIỆN CỤ THỂ CẤP GIẤY PHÉP HOẠT ĐỘNG ĐỐI VỚI
CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC CỦA CƠ SỞ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH

Điều 25. Hình thức tổ chức của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1. Tổ chức và cá nhân thực hiện hoạt động khám bệnh, chữa bệnh phải theo các hình thức tổ chức của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh sau đây:
a) Bệnh viện bao gồm bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa, bệnh viện y học cổ truyền;
b) Cơ sở giám định y khoa;
c) Phòng khám bệnh, chữa bệnh bao gồm phòng khám đa khoa, phòng khám chuyên khoa, phòng khám bác sỹ gia đình, phòng chẩn trị y học cổ truyền và bệnh xá;
d) Nhà hộ sinh;
đ) Cơ sở chẩn đoán bao gồm phòng chẩn đoán hình ảnh và phòng xét nghiệm;
e) Cơ sở dịch vụ y tế bao gồm:
– Cơ sở dịch vụ tiêm (chích), thay băng, đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp;
– Cơ sở dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tại nhà;
– Cơ sở dịch vụ cấp cứu, hỗ trợ vận chuyển người bệnh trong nước và ra nước ngoài;
– Cơ sở dịch vụ kính thuốc;
– Cơ sở dịch vụ làm răng giả;
– Cơ sở dịch vụ chăm sóc răng, miệng;
– Cơ sở dịch vụ thẩm mỹ.
g) Trạm y tế cấp xã; y tế cơ quan, đơn vị, tổ chức;
2. Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chi tiết điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với từng hình thức tổ chức của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định tại khoản 1 Điều này.

Điều 26. Hình thức tổ chức cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong quân đội
1. Trong quân đội, việc thực hiện khám bệnh, chữa bệnh phải theo một trong các hình thức tổ chức của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định này. Trường hợp để đáp ứng yêu cầu khám bệnh, chữa bệnh trong điều kiện thời chiến, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định thành lập các hình thức tổ chức khám bệnh, chữa bệnh phù hợp khác.
2. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với các hình thức tổ chức cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý quy định tại khoản 1 Điều này.

Điều 27. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với bệnh viện
1. Quy mô bệnh viện:
a) Bệnh viện đa khoa phải có ít nhất 30 giường bệnh;
b) Bệnh viện chuyên khoa, bệnh viện y học cổ truyền phải có ít nhất 20 giường bệnh; riêng đối với bệnh viện chuyên khoa mắt sử dụng kỹ thuật cao phải có ít nhất 10 giường bệnh.
2. Cơ sở vật chất:
a) Được thiết kế, xây dựng theo Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam số 365: 2007. Riêng đối với các khoa cấp cứu, khoa điều trị tích cực và chống độc, khoa phẫu thuật, khoa chẩn đoán hình ảnh, khoa xét nghiệm thì việc thiết kế, xây dựng phải thực hiện đúng các quy định tại các Quyết định số 32, 33, 34/2005/QĐ – BYT ngày 31 tháng 10 năm 2005 và số 35/2005/QĐ – BYT ngày 15 tháng 11 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế;
Trường hợp bệnh viện được xây dựng trên địa bàn quận thuộc thành phố trực thuộc trung ương mà không bảo đảm diện tích đất xây dựng theo quy định của Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam số 365:2007 thì có thể được thiết kế, xây dựng theo hình thức nhà hợp khối, cao tầng nhưng phải đáp ứng các điều kiện sau:
– Bố trí các khoa, phòng, hành lang bảo đảm hoạt động chuyên môn theo mô hình tập trung, liên hoàn, khép kín trong phạm vi khuôn viên của bệnh viện; bảo đảm điều kiện vô trùng và các điều kiện vệ sinh môi trường theo quy định của pháp luật;
– Bảo đảm diện tích sàn xây dựng ít nhất là 50 m2/giường bệnh trở lên; chiều rộng mặt trước (mặt tiền) bệnh viện phải đạt ít nhất 10 m. Đối với các bệnh viện đã hoạt động trước ngày 01/01/2012 được phép tiếp tục hoạt động nhưng phải đáp ứng điều kiện quy định về chiều rộng mặt trước của bệnh viện chậm nhất vào ngày 01/01/2016.
b) Bảo đảm các điều kiện về an toàn bức xạ, quản lý chất thải y tế, phòng cháy chữa cháy theo quy định của pháp luật;
c) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
3. Thiết bị y tế:
a) Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà bệnh viện đăng ký;
b) Có đủ phương tiện vận chuyển cấp cứu trong và ngoài bệnh viện. Trường hợp không có phương tiện cấp cứu ngoài bệnh viện, bệnh viện phải có hợp đồng với cơ sở có phương tiện cấp cứu ngoài bệnh viện.
4. Tổ chức:
a) Các khoa:
– Có ít nhất 02 trong 04 khoa nội, ngoại, sản, nhi đối với bệnh viện đa khoa hoặc một khoa lâm sàng phù hợp đối với bệnh viện chuyên khoa;
– Khoa khám bệnh (gồm có nơi tiếp đón người bệnh, buồng cấp cứu – lưu bệnh, buồng khám, buồng tiểu phẫu);
– Khoa cận lâm sàng: Có ít nhất một phòng xét nghiệm và một phòng chẩn đoán hình ảnh. Riêng đối với bệnh viện chuyên khoa mắt nếu không có bộ phận chẩn đoán hình ảnh thì phải có hợp đồng với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có bộ phận chẩn đoán hình ảnh đã được cấp giấy phép hoạt động;
– Khoa dược;
– Các khoa, phòng chuyên môn khác trong bệnh viện phải phù hợp với quy mô, chức năng nhiệm vụ.
b) Có các phòng chức năng về kế hoạch tổng hợp, tổ chức nhân sự, điều dưỡng, tài chính kế toán.
5. Nhân sự:
a) Số lượng nhân viên hành nghề làm việc toàn thời gian (cơ hữu) trong từng khoa phải đạt tỷ lệ ít nhất là 50% trên tổng số nhân viên hành nghề trong khoa;
b) Định mức biên chế, tỷ lệ cơ cấu bộ phận, chuyên môn thực hiện theo quy định tại Khoản 1, 2, 3 và 4 Mục II Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT – BYT – BNV ngày 05 tháng 6 năm 2007 của liên bộ: Bộ Y tế – Bộ Nội vụ hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế nhà nước;
c) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của bệnh viện phải đáp ứng các điều kiện sau:
– Là bác sỹ có chứng chỉ hành nghề phù hợp với ít nhất một trong các chuyên khoa mà bệnh viện đăng ký hoạt động;
– Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 54 tháng. Việc phân công, bổ nhiệm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của bệnh viện phải được thể hiện bằng văn bản;
– Là người làm việc toàn thời gian tại bệnh viện.
d) Trưởng khoa lâm sàng phải đáp ứng các điều kiện sau:
– Là bác sỹ có chứng chỉ hành nghề phù hợp với chuyên khoa đó;
– Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh tại chuyên khoa đó ít nhất là 36 tháng. Việc phân công, bổ nhiệm trưởng khoa phải được thể hiện bằng văn bản;
– Là người làm việc toàn thời gian tại bệnh viện;
đ) Trưởng khoa khác không thuộc đối tượng cấp chứng chỉ hành nghề phải đáp ứng các điều kiện sau:
Tốt nghiệp đại học và có thời gian làm việc tại chuyên khoa đó ít nhất là 36 tháng kể từ ngày được cấp bằng tốt nghiệp đại học đến ngày được phân công, bổ nhiệm làm trưởng khoa. Việc phân công, bổ nhiệm trưởng khoa phải được thể hiện bằng văn bản;
– Là người làm việc toàn thời gian tại bệnh viện;
e) Trưởng khoa dược là người làm việc toàn thời gian tại bệnh viện và phải đáp ứng quy định tại Khoản 1 Điều 7 Thông tư số 22/2011/TT-BYT ngày 10 tháng 6 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định tổ chức và hoạt động của khoa Dược bệnh viện (Đối với bệnh viện hạng 3 và không phân hạng chưa có dược sĩ đại học thì Giám đốc bệnh viện ủy quyền bằng văn bản cho dược sĩ trung học phụ trách khoa);
g) Phẫu thuật viên hoặc bác sỹ thực hiện kỹ thuật cao phải đáp ứng các điều kiện sau:
– Là bác sỹ chuyên khoa ngoại hoặc bác sỹ đa khoa có chứng nhận đào tạo chuyên khoa ngoại hoặc chứng nhận đào tạo chuyên khoa thực hiện kỹ thuật cao của bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trở lên hoặc trường đại học chuyên ngành y khoa hoặc tại Trung tâm đào tạo và chỉ đạo tuyến thuộc các bệnh viện hạng đặc biệt, hạng 1 trực thuộc Bộ Y tế. Trường hợp được đào tạo ở nước ngoài, phẫu thuật viên phải có chứng nhận chuyên khoa;
– Có văn bản cho phép thực hiện phẫu thuật, can thiệp ngoại khoa của người đứng đầu bệnh viện theo đề nghị của người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của bệnh viện;
h) Ngoài các đối tượng quy định tại Điểm c, d, đ, e và g Khoản này, các đối tượng khác làm việc trong bệnh viện nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề và chỉ được thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi công việc được phân công. Những đối tượng khác có đủ điều kiện nhưng không thuộc đối tượng cấp chứng chỉ hành nghề, được thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi công việc được phân công. Việc phân công phải được thể hiện bằng văn bản và phải phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề hoặc phù hợp bằng cấp của người đó.
6. Phạm vi hoạt động chuyên môn:
Thực hiện các kỹ thuật chuyên môn theo danh mục được Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt.

Điều 28. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với phòng khám đa khoa
1. Quy mô phòng khám đa khoa:
Phòng khám đa khoa phải đáp ứng ít nhất các điều kiện sau:
a) Có ít nhất 02 trong 04 chuyên khoa nội, ngoại, sản, nhi;
b) Phòng cấp cứu;
c) Buồng tiểu phẫu;
d) Phòng lưu người bệnh;
đ) Cận lâm sàng: Có hai bộ phận xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh;
2. Cơ sở vật chất:
a) Có nơi tiếp đón, phòng cấp cứu, phòng lưu người bệnh, phòng khám chuyên khoa và buồng tiểu phẫu. Các phòng khám trong phòng khám đa khoa phải đáp ứng các yêu cầu ít nhất về diện tích như sau:
– Phòng cấp cứu có diện tích ít nhất 12m2;
– Phòng lưu người bệnh có diện tích ít nhất 15m2; có ít nhất từ 02 giường lưu trở lên, nếu có từ 03 giường lưu trở lên thì diện tích mỗi giường ít nhất là 05m2;
– Các phòng khám chuyên khoa và buồng tiểu phẫu có diện tích ít nhất 10m2.
Riêng đối với phòng khám đa khoa khu vực của Nhà nước phải bảo đảm tiêu chuẩn thiết kế quy định tại Quyết định số 1327/2002/QĐ – BYT ngày 18 tháng 4 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế;
b) Bảo đảm các điều kiện về an toàn bức xạ, quản lý chất thải y tế, phòng cháy chữa cháy theo quy định của pháp luật;
c) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
3. Thiết bị y tế:
Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà phòng khám đa khoa đăng ký.
4. Tổ chức nhân sự:
a) Số lượng bác sỹ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh làm việc toàn thời gian (cơ hữu) phải đạt tỷ lệ ít nhất là 50% trên tổng số bác sỹ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh của phòng khám đa khoa;
b) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám đa khoa phải đáp ứng các điều kiện sau:
– Là bác sỹ có chứng chỉ hành nghề phù hợp với ít nhất một trong các chuyên khoa mà phòng khám đa khoa đăng ký;
– Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 54 tháng. Việc phân công, bổ nhiệm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám đa khoa phải được thể hiện bằng văn bản;
– Là người làm việc toàn thời gian tại phòng khám đa khoa;
c) Ngoài người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám đa khoa, các đối tượng khác làm việc trong phòng khám đa khoa nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề và chỉ được thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi công việc được phân công. Đối với các đối tượng khác có đủ điều kiện nhưng không thuộc đối tượng cấp chứng chỉ, được thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi công việc được phân công. Việc phân công phải được thể hiện bằng văn bản và phải phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề hoặc phù hợp với văn bằng chuyên môn của người đó.
5. Phạm vi hoạt động chuyên môn:
Hành nghề theo phạm vi hoạt động chuyên môn được Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt. Việc phê duyệt phải căn cứ vào quy định về phạm vi hoạt động chuyên môn tại các Điều 25, 26, 28, 29, 30, 32, 33 và 34 Nghị định này.
– Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế phê duyệt khi phòng khám đa khoa đáp ứng đủ điều kiện theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế.

Điều 29. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với phòng khám chuyên khoa
1. Cơ sở vật chất:
a) Xây dựng và thiết kế:
– Địa điểm cố định, tách biệt với nơi sinh hoạt gia đình;
– Xây dựng chắc chắn, đủ ánh sáng, có trần chống bụi, tường và nền nhà phải sử dụng các chất liệu dễ tẩy rửa làm vệ sinh;
b) Phòng khám chuyên khoa phải có buồng khám bệnh, chữa bệnh có diện tích ít nhất là 10m2 và nơi đón tiếp người bệnh, trừ phòng tư vấn khám bệnh qua điện thoại, phòng tư vấn chăm sóc sức khỏe qua các phương tiện công nghệ thông tin, viễn thông và thiết bị y tế. Riêng đối với phòng khám chuyên khoa ngoại, phòng khám chuyên khoa phẫu thuật thẩm mỹ phải có thêm buồng lưu người bệnh có diện tích ít nhất 12 m2; phòng khám phục hồi chức năng phải có thêm buồng phục hồi chức năng có diện tích ít nhất là 10 m2;
c) Ngoài quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều này, tùy theo phạm vi hoạt động chuyên môn đăng ký, phòng khám phải đáp ứng thêm các điều kiện sau:
– Có buồng thủ thuật với diện tích ít nhất là 10 m2 nếu có thực hiện thủ thuật, bao gồm cả kỹ thuật cấy ghép răng (implant);
– Có buồng thăm dò chức năng với diện tích ít nhất là 10 m2 nếu có thực hiện thăm dò chức năng;
– Có buồng khám phụ khoa có diện tích ít nhất là 10 m2 nếu thực hiện việc khám phụ khoa hoặc khám các bệnh lây truyền qua đường tình dục;
– Có buồng thực hiện kỹ thuật kế hoạch hóa gia đình có diện tích ít nhất là 10 m2 nếu thực hiện kỹ thuật kế hoạch hóa gia đình;
– Có buồng vận động trị liệu có diện tích ít nhất là 40 m2 nếu thực hiện vận động trị liệu;
– Phòng khám chuyên khoa răng hàm mặt nếu có từ ba ghế răng trở lên thì diện tích cho mỗi ghế răng ít nhất là 5 m2;
– Phòng khám chuyên khoa nếu sử dụng thiết bị bức xạ (bao gồm cả thiết bị X-quang chụp răng gắn liền với ghế răng) phải đáp ứng các quy định của pháp luật về an toàn bức xạ;
d) Bảo đảm xử lý rác thải y tế theo quy định của pháp luật; bảo đảm vô trùng đối với buồng thực hiện thủ thuật, buồng kế hoạch hóa gia đình;
đ) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
2. Thiết bị y tế:
a) Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở đăng ký;
b) Có hộp thuốc chống choáng và đủ thuốc cấp cứu chuyên khoa;
c) Phòng tư vấn khám bệnh qua điện thoại, phòng tư vấn chăm sóc sức khỏe qua các phương tiện công nghệ thông tin, viễn thông và thiết bị y tế không phải có thiết bị, dụng cụ y tế quy định tại Điểm a và b Khoản 2 Điều này nhưng phải có đủ các phương tiện công nghệ thông tin, viễn thông, thiết bị phù hợp với hoạt động tư vấn đã đăng ký.
3. Nhân sự:
a) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám chuyên khoa phải là bác sỹ có chứng chỉ hành nghề phù hợp với chuyên khoa mà phòng khám đăng ký và có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 54 tháng tại chuyên khoa đó;
b) Ngoài người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám chuyên khoa, các đối tượng khác làm việc trong phòng khám chuyên khoa nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề và chỉ được thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi công việc được phân công. Việc phân công phải phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó;
4. Phạm vi hoạt động chuyên môn:
a) Phòng khám nội tổng hợp:
– Sơ cứu, khám bệnh, chữa bệnh đối với các bệnh nội khoa thông thường, không làm các thủ thuật chuyên khoa;
– Thực hiện kỹ thuật điện tim, điện não đồ, điện cơ, lưu huyết não, siêu âm, nội soi tiêu hóa nếu bác sỹ trực tiếp thực hiện các kỹ thuật này có giấy chứng nhận bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của bệnh viện tuyến tỉnh trở lên. Trường hợp có thực hiện kỹ thuật nội soi tiêu hóa thì phải có thêm giấy xác nhận đã qua thực hành về chuyên khoa từ 18 tháng trở lên tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
– Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của phòng khám.
b) Phòng khám chuyên khoa thuộc hệ nội (tim mạch, hô hấp, tiêu hóa, nhi và chuyên khoa khác thuộc hệ nội):
– Sơ cứu, khám bệnh, chữa bệnh đối với các bệnh chuyên khoa thuộc hệ nội;
– Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của phòng khám.
c) Phòng khám bác sỹ gia đình thực hiện theo quy định tại Thông tư số 16/2014/TT-BYT ngày 22 tháng 5 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế về hướng dẫn thí điểm về bác sĩ gia đình và phòng khám bác sĩ gia đình;
d) Phòng tư vấn khám bệnh, chữa bệnh qua điện thoại, phòng tư vấn chăm sóc sức khỏe qua các phương tiện công nghệ thông tin, viễn thông và thiết bị y tế:
– Phòng tư vấn chỉ được tư vấn trong phạm vi những chuyên khoa đã được phê duyệt;
– Người hành nghề chỉ được tư vấn về chăm sóc sức khỏe phù hợp với chứng chỉ hành nghề đã được cấp;
– Bảo đảm các quy định về điều kiện an toàn, an ninh thông tin và điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin quy định tại Điều 4 và Điều 6 của Thông tư số 53/2014/TT-BYT ngày 29 tháng 12 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế về quy định điều kiện hoạt động y tế trên môi trường mạng.
đ) Phòng khám chuyên khoa ngoại:
– Sơ cứu, cấp cứu ban đầu về ngoại khoa;
– Khám và xử trí các vết thương thông thường;
– Bó bột, tháo bột gẫy xương nhỏ;
– Mổ u nang bã đậu, u nông nhỏ;
– Không chích các ổ mủ lan tỏa lớn.
– Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của phòng khám.
e) Phòng khám chuyên khoa phụ sản – kế hoạch hóa gia đình:
– Cấp cứu ban đầu về sản, phụ khoa;
– Khám thai, quản lý thai sản;
– Khám bệnh, chữa bệnh phụ khoa thông thường;
– Đặt thuốc âm đạo;
– Đốt điều trị lộ tuyến cổ tử cung;
– Soi cổ tử cung, lấy bệnh phẩm tìm tế bào ung thư;
– Siêu âm sản khoa nếu bác sỹ trực tiếp thực hiện các kỹ thuật siêu âm có giấy chứng nhận bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của bệnh viện tuyến tỉnh trở lên và có giấy xác nhận đã qua thực hành về chuyên khoa từ 18 tháng trở lên tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
– Đặt vòng tránh thai;
– Hút thai, phá thai nội khoa đối với thai 06 tuần (từ 36 ngày đến 42 ngày, kể từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng) khi đáp ứng các điều kiện quy định tại chuẩn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành;
– Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của phòng khám.
f) Phòng khám chuyên khoa răng – hàm – mặt:
– Khám bệnh, chữa bệnh thông thường, cấp cứu ban đầu các vết thương hàm mặt;
– Làm các tiểu phẫu sửa sẹo vết thương nhỏ dài dưới 02 cm ở mặt;
– Nắn sai khớp hàm;
– Điều trị laser bề mặt;
– Chữa các bệnh viêm quanh răng;
– Chích, rạch áp xe, lấy cao răng, nhổ răng;
– Làm răng, hàm giả;
– Chỉnh hình răng miệng;
– Chữa răng và điều trị nội nha;
– Thực hiện cắm ghép răng (implant) đơn giản với số lượng từ một đến hai răng trong một lần thực hiện thủ thuật (riêng cắm răng cửa của hàm dưới được cắm tối đa 04 răng) nếu bác sỹ trực tiếp thực hiện kỹ thuật có chứng chỉ hoặc giấy chứng nhận về cắm ghép răng do trường đại học chuyên ngành y khoa hoặc bệnh viện tuyến tỉnh trở lên cấp. Không ghép xương khối tự thân để cắm răng hoặc người bệnh đang có bệnh lý về nội khoa tiến triển liên quan đến chất lượng cắm răng;
– Tiểu phẫu thuật răng miệng;
– Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của phòng khám.
g) Phòng khám chuyên khoa tai – mũi – họng:
– Khám bệnh, chữa bệnh thông thường, cấp cứu ban đầu về tai mũi họng;
– Điều trị viêm xoang, chọc dò xoang, chọc hút dịch u nang;
– Chích rạch viêm tai giữa cấp;
– Chích rạch áp xe amidan;
– Cắt polip đơn giản, u bã đậu, u nang lành, u mỡ vùng tai – mũi – họng;
– Cầm máu cam;
– Lấy dị vật vùng tai mũi họng, trừ dị vật ở thanh quản, thực quản;
– Đốt họng bằng nhiệt, bằng laser;
– Nạo VA;
– Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của phòng khám.
h) Phòng khám chuyên khoa mắt:
– Khám bệnh, chữa bệnh thông thường, cấp cứu ban đầu về mắt;
– Tiêm dưới kết mạc, cạnh nhãn cầu, hậu nhãn cầu;
– Lấy dị vật kết mạc, giác mạc, chích chắp lẹo;
– Thông rửa lệ đạo;
– Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của phòng khám.
i) Phòng khám phẫu thuật thẩm mỹ:
– Tạo má lúm đồng tiền, xóa xăm cung lông mày, nâng cung lông mày, tạo hình gò má, tạo hình cằm chẻ, cằm lẹm, sửa da ở vùng mặt, vùng cổ;
– Xăm môi, xăm mi mắt, xăm cung lông mày, xăm ngoài da;
– Tạo hình mí mắt, mũi, môi, tai;
– Không được phẫu thuật tạo hình như nâng ngực; nâng vú; thu nhỏ quầng vú, núm vú; thu gọn thành bụng, mông, đùi; căng da mặt, mông, đùi; lấy mỡ cơ thể;
– Thực hiện các kỹ thuật thẩm mỹ bằng thiết bị Laser phải có giấy chứng nhận bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của bệnh viện tuyến tỉnh trở lên có khoa điều trị bệnh bằng Laser.
– Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của phòng khám.
– Việc phẫu thuật thẩm mỹ làm thay đổi đặc điểm nhận dạng đã được xác định trong chứng minh nhân dân chỉ được thực hiện sau khi người có yêu cầu phẫu thuật thẩm mỹ đã có đơn gửi cơ quan Công an nơi cấp chứng minh nhân dân và được sự đồng ý của cơ quan này bằng văn bản.
k) Phòng khám chuyên khoa phục hồi chức năng:
– Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật là cử nhân vật lý trị liệu – phục hồi chức năng (trình độ đại học trở lên)
– Phục hồi chức năng các hội chứng liệt thần kinh trung ương và ngoại biên; các bệnh mạn tính hoặc sau khi phẫu thuật;
– Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của phòng khám.
l) Phòng khám chuyên khoa tâm thần:
– Cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh ngoại trú tâm thần, động kinh;
– Thực hiện các liệu pháp tâm lý trị liệu;
– Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của phòng khám.
m) Phòng khám chuyên khoa ung bướu:
– Khám, phát hiện sớm các bệnh ung bướu thông thường;
– Lấy bệnh phẩm để làm xét nghiệm tế bào, giải phẫu bệnh lý một số loại ung thư cổ tử cung, trực tràng, âm hộ, vú, hạch. Những kết quả xét nghiệm tế bào, xét nghiệm giải phẫu bệnh lý phải được bác sỹ chuyên khoa giải phẫu bệnh – tế bào kết luận;
– Khám và theo dõi định kỳ các bệnh ung bướu đã và đang điều trị;
– Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của phòng khám.
n) Phòng khám chuyên khoa da liễu:
– Khám bệnh, chữa bệnh các bệnh về da, bệnh phong và các bệnh lây truyền qua đường tình dục;
– Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của phòng khám.
p) Phòng khám bệnh nghề nghiệp cho người lao động
– Về nhân sự:
+ Người thực hiện khám lâm sàng và cận lâm sàng phải có bằng cấp chuyên môn phù hợp với công việc được phân công.
+ Người chịu trách nhiệm khám lâm sàng phải là bác sỹ và có chứng chỉ đào tạo về bệnh nghề nghiệp.
+ Người kết luận sức khỏe phải được người có thẩm quyền của cơ sở khám bệnh nghề nghiệp phân công thực hiện.
– Về cơ sở vật chất, trang thiết bị:
+ Có phòng khám lâm sàng và cận lâm sàng từng chuyên khoa;
+ Có bộ phận tư vấn sức khỏe nghề nghiệp;
+ Phải có các trang thiết bị tối thiểu theo quy định;

Điều 30. Phòng khám tư vấn và điều trị dự phòng
1. Cơ sở vật chất: Đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 27 Nghị định này;
2. Thiết bị y tế:
a) Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở đăng ký;
b) Có hộp thuốc chống choáng và đủ thuốc cấp cứu chuyên khoa;
c) Nếu thực hiện tiêm chủng vắc xin, sinh phẩm y tế thì phải thực hiện theo hướng dẫn của Thông tư số 12/2014/TT-BYT ngày 20 tháng 3 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc hướng dẫn việc quản lý sử dụng vắc xin trong tiêm chủng.
3. Nhân sự:
a) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của Phòng khám tư vấn và điều trị dự phòng phải là bác sỹ đa khoa có chứng chỉ hành nghề và có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 54 tháng;
b) Ngoài người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của Phòng khám tư vấn và điều trị dự phòng, các đối tượng khác làm việc trong Phòng khám nếu có thực hiện công việc chuyên môn phải có chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với công việc được phân công.
4. Phạm vi hoạt động chuyên môn:
a) Tổ chức khám sàng lọc, phát hiện sớm các bệnh truyền nhiễm, bệnh tật học đường, bệnh liên quan đến dinh dưỡng, bệnh không lây nhiễm, bệnh chưa rõ nguyên nhân cho cá nhân và cộng đồng;
b) Tư vấn, truyền thông nâng cao sức khỏe, dinh dưỡng hợp lý, tiêm chủng phòng bệnh, kiểm soát các yếu tố nguy cơ đối với sức khỏe nhằm nâng cao sức khỏe cộng đồng;
c) Tiêm chủng vắc xin, sinh phẩm y tế theo hình thức dịch vụ;
d) Khám, quản lý sức khỏe cộng đồng và phục hồi chức năng;
e) Tổ chức thực hiện các hoạt động quản lý, tư vấn và điều trị dự phòng các bệnh truyền nhiễm, bệnh liên quan đến dinh dưỡng không hợp lý, bệnh liên quan rối loạn chuyển hóa, bệnh không lây nhiễm khác và các đối tượng nguy cơ mắc bệnh không lây nhiễm (bệnh bướu cổ, Basedow, đái tháo đường, tăng huyết áp, răng miệng, bệnh nghề nghiệp và các bệnh không lây nhiễm khác);
Căn cứ vào năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của phòng khám Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt danh mục chuyên môn cụ thể theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11 tháng 12 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế.

Điều 31. Các điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với phòng chẩn trị y học cổ truyền
1. Cơ sở vật chất:
a) Đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Điểm a, d và đ Khoản 1 Điều 27 Nghị định này;
b) Buồng chẩn trị có diện tích ít nhất là 10 m2 và có nơi đón tiếp người bệnh;
c) Tùy theo phạm vi hoạt động chuyên môn đăng ký, phòng chẩn trị y học cổ truyền phải đáp ứng thêm các điều kiện sau:
– Nếu có châm cứu, xoa bóp day ấn huyệt thì phải có buồng hoặc bố trí nơi kê giường châm cứu, xoa bóp day ấn huyệt với diện tích ít nhất 05 m2/giường;
– Nếu có xông hơi thuốc thì phải có buồng xông hơi. Diện tích ít nhất là 02m2 đối với một buồng xông hơi, buồng phải kín nhưng đủ ánh sáng;
– Nếu có bào chế một số dạng đóng gói sẵn thì phải được Sở Y tế tỉnh thẩm định, xem xét cho phép.
2. Thiết bị y tế:
a) Nếu thực hiện việc khám bệnh, kê đơn, bốc thuốc:
– Có tủ thuốc, các vị thuốc được đựng trong ô kéo hoặc trong chai lọ thủy tinh hoặc nhựa trắng có nắp và ghi rõ tên vị thuốc ở bên ngoài;
– Có cân thuốc và phân chia các vị thuốc theo thang, giấy gói thuốc (không dùng giấy báo, giấy có chữ).
b) Nếu thực hiện việc châm, cứu, xoa bóp day ấn huyệt:
– Có giường châm, cứu, xoa bóp day ấn huyệt;
– Có đủ dụng cụ để châm, cứu, xoa bóp day ấn huyệt, đèn hồng ngoại;
– Có đủ dụng cụ và hướng dẫn xử lý vượng châm.
c) Nếu thực hiện xông hơi thuốc: phải có phòng xông hơi, có hệ thống tạo hơi thuốc, van điều chỉnh, có bảng hướng dẫn xông hơi và hệ thống chuông báo trong trường hợp khẩn cấp;
3. Nhân sự:
a) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng chẩn trị y học cổ truyền phải là bác sỹ chuyên khoa y học cổ truyền hoặc y sỹ chuyên khoa y học cổ truyền hoặc là người có giấy chứng nhận lương y của Bộ Y tế hoặc Sở Y tế tỉnh cấp hoặc người có bài thuốc gia truyền hoặc có phương pháp chữa bệnh gia truyền có chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh y học cổ truyền;
– Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ truyền ít nhất là 54 tháng đối với bác sỹ chuyên khoa y học cổ truyền;
– Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ truyền ít nhất là 48 tháng đối với y sỹ chuyên khoa y học cổ truyền;
– Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ truyền ít nhất là 36 tháng đối với lương y hoặc người có bài thuốc gia truyền hoặc người có phương pháp chữa bệnh gia truyền;
b) Ngoài người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng chẩn trị y học cổ truyền, các đối tượng khác làm việc trong phòng chẩn trị y học cổ truyền nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề và chỉ được thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi công việc được phân công. Việc phân công phải phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó.
4. Phạm vi hoạt động chuyên môn:
a) Khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ truyền (dùng thuốc và không dùng thuốc);
Đối với bác sĩ y học cổ truyền có chứng chỉ hành nghề thực hiện khám bệnh, chữa bệnh tại các phòng chẩn trị được chỉ định người bệnh làm xét nghiệm cần thiết, được sử dụng các kết quả xét nghiệm để chẩn đoán, theo dõi diễn biến của bệnh, được kết hợp kê đơn thuốc y học hiện đại trong danh mục thuốc thiết yếu theo quy định.
b) Được sử dụng các thành phẩm thuốc y học cổ truyền do các cơ sở khác sản xuất đã được Bộ Y tế cấp đăng ký lưu hành để phục vụ cho việc khám bệnh, chữa bệnh;
c) Bào chế thuốc sống thành thuốc chín (thuốc phiến), cân thuốc thang cho người bệnh;
d) Người hành nghề bằng bài thuốc gia truyền hoặc phương pháp chữa bệnh gia truyền chỉ được khám, chữa bệnh bằng chính bài thuốc gia truyền hoặc phương pháp gia truyền đó;
đ) Trong trường hợp có sản xuất một số dạng đóng gói sẵn để phục vụ trực tiếp cho người bệnh của phòng chẩn trị (cao, đơn, hoàn, tán hoặc các dạng khác) thì phải đăng ký với Sở Y tế tỉnh về công thức bài thuốc, quy trình sản xuất (kèm theo bản giải trình về cơ sở vật chất, thiết bị), công dụng, liều dùng, chống chỉ định và mẫu nhãn thuốc. Có phòng sản xuất riêng, diện tích tối thiểu là 10 m2 đảm bảo thoáng và kín, trần nhà sơn màu trắng, sàn nhà, bề mặt tường và sàn của phòng sản xuất phải sử dụng vật liệu không thấm nước, bề mặt phẳng, không đọng nước, trang thiết bị phải phù hợp với dạng thuốc sản xuất, hệ thống cấp nước bảo đảm nước sạch theo tiêu chuẩn Việt Nam và phải được Sở Y tế tỉnh xem xét thẩm định và công nhận đủ điều kiện thì mới được sản xuất. Thuốc chỉ để phục vụ trực tiếp cho người bệnh của phòng chẩn trị, không lưu hành trên thị trường theo đúng quy định của pháp luật về dược.

Điều 32. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc cơ sở giám định y khoa
Cơ sở giám định y khoa có thực hiện khám bệnh, chữa bệnh thì phải thực hiện theo một trong các hình thức tổ chức quy định tại Điều 27, 28 và Điều 29 Nghị định này.

Điều 33. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với nhà hộ sinh
1. Cơ sở vật chất:
a) Xây dựng và thiết kế:
– Xây dựng chắc chắn, đủ các buồng chuyên môn, đủ ánh sáng, có trần chống bụi, tường và nền nhà phải sử dụng các chất liệu dễ làm vệ sinh;
– Các buồng phải được thiết kế liên hoàn, hợp lý để thuận tiện cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh.
b) Nhà hộ sinh phải có các buồng khám thai, khám phụ khoa, kỹ thuật kế hoạch hóa gia đình, mỗi buồng có diện tích ít nhất là 10m2; buồng đẻ có diện tích ít nhất là 16 m2; buồng nằm của sản phụ có diện tích ít nhất là 20 m2 để bảo đảm diện tích ít nhất cho một giường bệnh là 5m2/giường;
c) Các buồng quy định tại Điểm a, b Khoản 1 Điều này phải đáp ứng các yêu cầu về kết cấu và hoàn thiện công trình theo quy định tại Điểm 5.4 Khoản 5 về yêu cầu hoàn thiện và kết cấu công trình của Quyết định số 2271/2002/QĐ – BYT ngày 17 tháng 6 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành Tiêu chuẩn thiết kế Trạm y tế cơ sở – Tiêu chuẩn ngành;
d) Bảo đảm xử lý rác thải y tế và các điều kiện về an toàn bức xạ (nếu có) theo quy định của pháp luật;
đ) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
2. Thiết bị y tế:
a) Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà nhà hộ sinh đăng ký;
b) Có phương tiện vận chuyển cấp cứu trong và ngoài nhà hộ sinh. Trường hợp không có phương tiện cấp cứu ngoài nhà hộ sinh thì phải có hợp đồng với cơ sở có phương tiện cấp cứu.
c) Có hộp thuốc chống choáng và đủ thuốc cấp cứu chuyên khoa;
3. Tổ chức, nhân sự:
a) Có bộ máy tổ chức phù hợp phạm vi hoạt động chuyên môn đã đăng ký trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động;
b) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của nhà hộ sinh phải đáp ứng các điều kiện sau:
– Là bác sỹ hoặc cử nhân hộ sinh (tốt nghiệp đại học) có chứng chỉ hành nghề;
– Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh về sản phụ khoa ít nhất là 54 tháng;
– Là người làm việc toàn thời gian tại nhà hộ sinh.
c) Ngoài người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của nhà hộ sinh, các đối tượng khác làm việc trong nhà hộ sinh nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề và chỉ được thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi công việc được phân công. Việc phân công phải phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó.
4. Phạm vi hoạt động chuyên môn:
a) Khám thai thường, quản lý thai sản;
b) Cấp cứu ban đầu, sơ cứu sản khoa;
c) Tiêm phòng uốn ván;
d) Thử protein niệu;
đ) Đỡ đẻ thường;
e) Nạo sót rau sau đẻ; sau sẩy thai;
g) Đặt vòng tránh thai;
h) Hút thai, phá thai nội khoa đối với thai 06 tuần (từ 36 ngày đến 42 ngày, kể từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng) khi đáp ứng các điều kiện quy định tại chuẩn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành;
Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của nhà hộ sinh.

Điều 34. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với phòng khám chẩn đoán hình ảnh
1. Cơ sở vật chất:
a) Xây dựng và thiết kế:
– Địa điểm cố định, tách biệt với nơi sinh hoạt gia đình;
– Xây dựng chắc chắn, đủ ánh sáng, có trần chống bụi, tường và nền nhà phải sử dụng các chất liệu dễ tẩy rửa làm vệ sinh;
– Phòng X quang, chụp cắt lớp vi tính (CT scanner), cộng hưởng từ (MRI) phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật về an toàn bức xạ;
– Phòng siêu âm, phòng nội soi chẩn đoán được thiết kế độc lập, mỗi phòng có diện tích ít nhất là 10m2; riêng đối với nội soi tiêu hóa nếu thực hiện cả hai kỹ thuật nội soi tiêu hóa trên và nội soi tiêu hóa dưới thì phải có 02 buồng riêng biệt;
b) Bảo đảm xử lý rác thải y tế và các điều kiện về an toàn bức xạ theo quy định của pháp luật;
c) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
2. Thiết bị y tế:
a) Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở đăng ký;
b) Có thiết bị phòng hộ cá nhân theo quy định của pháp luật về an toàn bức xạ.
3. Nhân sự:
a) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám chẩn đoán hình ảnh phải là bác sỹ có chứng chỉ hành nghề và có thời gian trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh về chẩn đoán hình ảnh ít nhất là 54 tháng;
Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám chẩn đoán hình ảnh XQuang là bác sỹ có chứng chỉ hành nghề và có thời gian trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh về Xquang ít nhất là 54 tháng;
Cử nhân X.Quang (tốt nghiệp đại học) được đọc và mô tả hình ảnh chẩn đoán nhưng không được kết luận chẩn đoán.
b) Ngoài người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám chẩn đoán hình ảnh, các đối tượng khác làm việc trong phòng khám chẩn đoán hình ảnh nếu có thực hiện các kỹ thuật chuyên môn về chẩn đoán hình ảnh thì phải có chứng chỉ hành nghề và chỉ được thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi công việc được phân công. Việc phân công phải phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó.
c) Không được sử dụng thuốc đối quang tĩnh mạch, trừ phòng khám chẩn đoán hình ảnh có bác sỹ hồi sức cấp cứu và có phòng cấp cứu.
4. Phạm vi hoạt động chuyên môn:
a) Chẩn đoán X.Quang, chụp cắt lớp, cộng hưởng từ;
b) Chẩn đoán siêu âm doppler, siêu âm thường, nội soi chẩn đoán;
c) Được sử dụng thuốc cản quang tĩnh mạch: nếu có bác sỹ lâm sàng và có đủ trang thiết bị, dụng cụ cấp cứu;
d) Không chọc dò dưới hướng dẫn của siêu âm, không làm phẫu thuật nội soi, không soi phế quản, không làm các can thiệp X.Quang chảy máu;
đ) Cử nhân X.Quang (tốt nghiệp đại học) không được kết luận chẩn đoán, trường hợp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không có bác sỹ chuyên khoa chẩn đoán hình ảnh hoặc bác sỹ X-Quang thì bác sỹ chỉ định kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh sẽ kết luận chẩn đoán;
Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của phòng khám chẩn đoán hình ảnh.

Điều 35. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với phòng xét nghiệm
1. Cơ sở vật chất:
a) Xây dựng và thiết kế:
– Địa điểm cố định, tách biệt với nơi sinh hoạt gia đình; Phòng xét nghiệm phải đáp ứng các yêu cầu sau:
– Phòng có diện tích tối thiểu 10 m2 nếu thực hiện một trong các xét nghiệm huyết học hoặc hóa sinh hoặc di truyền y học .
– Phòng có diện tích tối thiểu 15 m2 nếu thực hiện hai trong các xét nghiệm huyết học, hóa sinh, di truyền y học.
– Phòng có diện tích tối thiểu 20 m2 nếu thực hiện cả 03 xét nghiệm huyết học, hóa sinh, di truyền y học.
– Phòng gỉải phẫu bệnh và tế bào học có diện tích tối thiểu 20 m2 phải riêng biệt với các phòng xét nghiệm khác.
– Phòng vi sinh có diện tích 30 m2 phải riêng biệt với các phòng xét nghiệm khác.
– Bề mặt tường của phòng xét nghiệm phải sử dụng vật liệu không thấm nước sát đến trần nhà.
– Bề mặt sàn của phòng xét nghiệm phải sử dụng vật liệu không thấm nước, bề mặt phẳng, không đọng nước.
– Bàn xét nghiệm phải sử dụng vật liệu không thấm nước, chống ăn mòn. Có hệ thống chậu rửa, vòi nước sạch lắp ngay tại bàn.
– Có nơi chờ lấy bệnh phẩm, nơi nhận bệnh phẩm, nơi vệ sinh dụng cụ.
b) Đối với phòng xét nghiệm có thực hiện xét nghiệm vi sinh vật có nguy cơ gây bệnh truyền nhiễm cho người thì ngoài việc đáp ứng các điều kiện quy định tại các Điểm a Khoản 1 Điều này còn phải đáp ứng quy định tại Nghị định số 92/2010/NĐ – CP ngày 30 tháng 8 năm 2010 của Chính phủ về bảo đảm an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm;
c) Đối với phòng xét nghiệm HIV phải thực hiện đúng quy định tại Thông tư số 15/2013/TT – BYT ngày 24/5/2013 của Bộ Y tế Hướng dẫn bảo đảm chất lượng thực hiện kỹ thuật xét nghiệm HIV;
d) Bảo đảm xử lý rác thải y tế theo quy định của pháp luật;
đ) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
2. Thiết bị y tế:
Có đủ thiết bị xét nghiệm, dụng cụ y tế để thực hiện được ít nhất 01 trong 06 loại xét nghiệm vi sinh, hóa sinh, huyết học, miễn dịch, giải phẫu bệnh, di truyền y học.
3. Nhân sự:
a) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng xét nghiệm phải đáp ứng các điều kiện như sau:
– Là bác sỹ hoặc cử nhân sinh học hoặc cử nhân hóa học hoặc cử nhân hóa sinh hoặc dược sỹ đại học hoặc kỹ thuật viên chuyên ngành xét nghiệm trình độ đại học trở lên có chứng chỉ hành nghề chuyên khoa xét nghiệm;
– Có thời gian làm việc xét nghiệm ít nhất là 54 tháng kể cả thời gian học sau đại học về chuyên khoa xét nghiệm kể từ ngày bắt đầu thực hiện công việc xét nghiệm (xác định từ thời điểm ký kết hợp đồng lao động hoặc có quyết định tuyển dụng) đến ngày được phân công, bổ nhiệm làm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng xét nghiệm;
b) Ngoài người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng xét nghiệm, các đối tượng khác làm việc trong phòng xét nghiệm nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề và chỉ được thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi công việc được phân công. Việc phân công phải phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó.
4. Phạm vi hoạt động chuyên môn:
Chỉ được thực hiện các xét nghiệm phù hợp với thiết bị xét nghiệm hiện có và năng lực thực tế của người hành nghề tại phòng xét nghiệm.

Điều 36. Cơ sở dịch vụ thẩm mỹ:
1. Cơ sở vật chất:
a) Địa điểm cố định, xây dựng chắc chắn, đủ ánh sáng, tách biệt với nơi sinh hoạt gia đình;
b) Cơ sở có diện tích ít nhất là 15 m2;
c) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện vệ sinh khác để phục vụ chăm sóc người đến sử dụng dịch vụ;
2. Thiết bị y tế:
Có đủ dụng cụ, thiết bị y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở đã đăng ký.
3. Nhân sự:
a) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật đối với cơ sở dịch vụ thẩm mỹ: là người làm việc toàn thời gian tại cơ sở dịch vụ thẩm mỹ và phải đáp ứng một trong các điều kiện sau:
– Có chứng chỉ nghề phun, xăm ngoài da được tập huấn kiến thức y khoa về phòng chống bệnh truyền nhiễm hoặc có chứng chỉ bồi dưỡng do Sở y tế cấp. Có thời gian hành nghề phun, xăm từ 36 tháng trở lên.
b) Người hành nghề tại cơ sở dịch vụ thẩm mỹ phải có chứng chỉ hành nghề phun, xăm do cơ sở hợp pháp đào tạo và cấp.
4. Phạm vi hoạt động chuyên môn:
a) Phun xăm môi, mí mắt, cung lông mày, xăm ngoài da.
b) Các dịch vụ thẩm mỹ không xâm lấn trên da, cơ thể, không dùng thuốc
c) Không được làm các dịch vụ xâm lấn (tiêm, chích, châm) trên da, cơ thể, không dùng thuốc hoặc các chất đưa vào da, cơ thể người.
Các kỹ thuật chuyên môn quy định tại Khoản này không được thực hiện tại bất kỳ cơ sở nào không phải là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chuyên khoa đã được cấp giấy phép hoạt động theo quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh và các văn bản hướng dẫn.

Điều 37. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở dịch vụ tiêm (chích), thay băng, đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp
1. Cơ sở vật chất:
a) Địa điểm cố định, xây dựng chắc chắn, đủ ánh sáng, tách biệt với nơi sinh hoạt gia đình;
b) Buồng tiêm chích, thay băng phải có diện tích ít nhất là 10 m2;
c) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện vệ sinh khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
2. Thiết bị y tế:
a) Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở đã đăng ký;
b) Có hộp thuốc chống choáng.
3. Nhân sự:
a) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật đối với cơ sở dịch vụ tiêm (chích), thay băng, đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp phải đáp ứng các điều kiện sau:
– Là người tốt nghiệp trung cấp y trở lên có chứng chỉ hành nghề;
– Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh về tiêm (chích), thay băng, đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp ít nhất là 45 tháng.
b) Ngoài người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật quy định tại Điểm a Khoản này, các đối tượng khác làm việc trong cơ sở nếu có thực hiện việc tiêm (chích), thay băng, đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp thì phải có chứng chỉ hành nghề và chỉ được thực hiện việc tiêm (chích), thay băng, đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp trong phạm vi công việc được phân công. Việc phân công phải phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó.
4. Phạm vi hoạt động chuyên môn:
a) Thực hiện việc tiêm (chích), thay băng theo đơn của bác sỹ;
b) Thực hiện việc đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp;
c) Không truyền dịch; không khám bệnh, chữa bệnh và kê đơn thuốc.
Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của cơ sở dịch vụ tiêm (chích), thay băng, đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp.

Điều 38. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở dịch vụ làm răng giả
1. Cơ sở vật chất:
a) Phòng khám và lắp răng, hàm giả phải có diện tích ít nhất 10 m2;
b) Phòng làm răng, hàm giả phải có diện tích ít nhất 10 m2 hoặc ký hợp đồng với cơ sở làm răng giả khác;
c) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện vệ sinh khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
2. Thiết bị y tế:
Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở đăng ký.
3. Nhân sự:
Người phụ trách cơ sở dịch vụ làm răng giả phải ít nhất là thợ trồng răng (nha công) đã hành nghề từ năm 1980 trở về trước và tại thời điểm đó đã đủ 18 tuổi trở lên, đồng thời phải có giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã và đã được cấp chứng chỉ hành nghề với phạm vi hành nghề là kỹ thuật viên răng giả.
4. Phạm vi hoạt động chuyên môn: Làm răng giả, hàm giả, tháo lắp, cố định;

Điều 39. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà
1. Thiết bị y tế:
Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở dịch vụ đăng ký.
2. Nhân sự:
a) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật đối với cơ sở dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà phải là người tốt nghiệp trung cấp y trở lên có chứng chỉ hành nghề và có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 45 tháng;
b) Ngoài người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà, các đối tượng khác làm việc trong cơ sở dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề và chỉ được thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi công việc được phân công. Việc phân công phải phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó.
3. Phạm vi hoạt động chuyên môn:
a) Chăm sóc sức khỏe tại nhà theo đơn của bác sỹ;
b) Không truyền dịch; không khám bệnh, chữa bệnh và kê đơn thuốc.
c) Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của cơ sở dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà.

Điều 40. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở dịch vụ kính thuốc
1. Cơ sở vật chất:
a) Địa điểm cố định, xây dựng chắc chắn, đủ ánh sáng, tách biệt với nơi sinh hoạt gia đình;
b) Cơ sở có diện tích ít nhất là 15 m2;
c) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện vệ sinh khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
2. Thiết bị y tế:
Có đủ dụng cụ, thiết bị y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở đã đăng ký.
3. Nhân sự:
a) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật đối với cơ sở dịch vụ kính thuốc: là người làm việc toàn thời gian tại cơ sở dịch vụ kính thuốc và phải đáp ứng một trong các điều kiện sau:
– Là bác sỹ đã được cấp chứng chỉ hành nghề với phạm vi hoạt động chuyên môn khám bệnh, chữa bệnh chuyên khoa mắt có thời gian thực hiện đo kiểm, chẩn đoán tật khúc xạ mắt tại cơ sở dịch vụ kính thuốc hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có chuyên khoa mắt ít nhất là 36 tháng.
– Là y sỹ đã được cấp chứng chỉ hành nghề với phạm vi hoạt động chuyên môn khám bệnh, chữa bệnh chuyên khoa mắt có thời gian thực hiện đo kiểm, chẩn đoán tật khúc xạ mắt tại cơ sở dịch vụ kính thuốc hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có chuyên khoa mắt ít nhất là 45 tháng.
– Là người tốt nghiệp trung cấp y chuyên khoa mắt trở lên, có chứng nhận đào tạo đo kiểm, chấn đoán tật khúc xạ mắt tại cơ sở dịch vụ kính thuốc hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có chuyên khoa mắt ít nhất là 45 tháng.
b) Người hành nghề tại cơ sở dịch vụ kính thuốc phải có chứng chỉ hành nghề hoặc chứng chỉ về thiết bị y tế (thiết bị đo kiểm, chẩn đoán tật khúc xạ mắt) do cơ sở được Bộ Y tế chỉ định đào tạo và cấp.
4. Phạm vi hoạt động chuyên môn:
a) Đo tật khúc xạ mắt, tư vấn về việc sử dụng kính;
b) Mài lắp kính thuốc theo đơn của bác sỹ và bảo hành kính thuốc.
Điều 41. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở dịch vụ chăm sóc răng – miệng
1. Cơ sở vật chất:
a) Xây dựng và thiết kế:
– Địa điểm cố định, tách biệt với nơi sinh hoạt gia đình;
– Xây dựng chắc chắn, đủ ánh sáng, có trần chống bụi, tường và nền nhà phải sử dụng các chất liệu dễ tẩy rửa làm vệ sinh;
b) Phòng chăm sóc răng miệng có diện tích ít nhất là 10m2 và nơi đón tiếp người bệnh,
c) Bảo đảm xử lý chất thải y tế theo quy định của pháp luật;
d) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
2. Thiết bị y tế:
a) Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở đăng ký;
b) Có hộp thuốc chống choáng và đủ thuốc cấp cứu chuyên khoa;
3. Nhân sự:
a) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của dịch vụ chăm sóc răng miệng phải là y sỹ răng hàm mặt, y sỹ răng trẻ em, kỹ thuật viên răng hàm mặt trình độ trung cấp trở lên có chứng chỉ hành nghề phù hợp với dịch vụ chăm sóc răng miệng đăng ký và có thời gian thực hiện chăm sóc răng miệng ít nhất là 45 tháng tại chuyên khoa đó;
b) Ngoài người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của Phòng chăm sóc răng miệng, các đối tượng khác làm việc trong cơ sở chăm sóc răng miệng nếu có thực hiện việc chăm sóc răng miệng thì phải có chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với công việc được phân công.
4. Phạm vi hoạt động chuyên môn:
– Trám răng sâu độ 1,2;
– Nhổ răng một chân lung lay
– Lấy cao răng;
– Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của cơ sở dịch vụ chăm sóc răng miệng.

Điều 42. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở dịch vụ cấp cứu, hỗ trợ vận chuyển người bệnh
1. Thiết bị, phương tiện vận chuyển y tế:
a) Có đủ phương tiện vận chuyển, thiết bị, dụng cụ y tế, hộp thuốc chống choáng và đủ thuốc cấp cứu bảo đảm an toàn cho người bệnh;
b) Có đủ phương tiện vận chuyển bảo đảm vệ sinh môi trường khi chuyển người bệnh.
2. Nhân sự:
a) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở dịch vụ cấp cứu, hỗ trợ vận chuyển người bệnh trong nước và ra nước ngoài phải đáp ứng các điều kiện sau:
– Là bác sỹ có chứng chỉ hành nghề;
– Có văn bằng chuyên môn hoặc chứng chỉ hoặc giấy chứng nhận đã được học về chuyên ngành hồi sức cấp cứu;
– Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 54 tháng.
b) Ngoài người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật quy định tại Điểm a Khoản này, các đối tượng khác làm việc trong cơ sở dịch vụ cấp cứu, hỗ trợ vận chuyển người bệnh trong nước và ra nước ngoài nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề và chỉ được thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi công việc được phân công. Việc phân công phải phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó.
3. Có hợp đồng với công ty dịch vụ hàng không nếu cơ sở đăng ký vận chuyển người bệnh ra nước ngoài.
4. Phạm vi hoạt động chuyên môn:
Cấp cứu, vận chuyển người bệnh trong nước và ra nước ngoài.

Điều 43. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với trạm xá, trạm y tế cấp xã
1. Cơ sở vật chất:
a) Bảo đảm thiết kế theo quy định tại Quyết định số 2271/2002/QĐ – BYT ngày 17 tháng 6 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành Tiêu chuẩn thiết kế Trạm y tế cơ sở – Tiêu chuẩn ngành;
b) Bảo đảm các điều kiện về quản lý chất thải y tế, phòng cháy chữa cháy theo quy định của pháp luật;
c) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
2. Thiết bị y tế:
Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt.
3. Tổ chức, nhân sự:
a) Người chịu trách nhiệm chuyên môn phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
– Là bác sỹ, y sỹ có chứng chỉ hành nghề.
– Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 54 tháng.
b) Số lượng người hành nghề thuộc trạm y tế cấp xã phải đáp ứng điều kiện quy định tại Mục IV của Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT – BYT – BNV ngày 05 tháng 6 năm 2007 của liên bộ: Bộ Y tế – Bộ Nội vụ hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế nhà nước.
c) Đối với bác sỹ về công tác tại các trạm y tế xã thuộc các vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn mà chưa có chứng chỉ hành nghề thì được khám, kê đơn, điều trị các bệnh thông thường theo phân công nhiệm vụ bằng văn bản của Giám đốc Trung tâm y tế huyện và chịu trách nhiệm trước pháp luật về sự phân công này.
4. Phạm vi hoạt động chuyên môn:
a) Trạm xá, trạm y tế cấp xã thực hiện kỹ thuật chuyên môn theo danh mục kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành và được Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt;
b) Nhân viên y tế thôn, bản thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu theo sự phân công và chỉ đạo về chuyên môn của Trưởng Trạm y tế xã.

Điều 44. Cơ sở y tế của cơ quan, đơn vị, tổ chức
1. Cơ quan, đơn vị, tổ chức có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải thực hiện theo một trong các hình thức tổ chức quy định tại Điều 24, 25 và 36 Nghị định này.
2. Đối với các cơ sở y tế thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật về dự phòng, phòng, chống ma túy, mại dâm và HIV/AIDS:
a) Nếu đã hoạt động trước ngày 01/01/2012 thì ngoài việc đáp ứng các điều kiện của pháp luật chuyên ngành, còn phải đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Điều 25 Nghị định này chậm nhất đến ngày 01/01/2016;
b) Nếu thành lập sau ngày 01/01/2012 thì phải đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Điều 25 Nghị định này để được cấp giấy phép hoạt động.

Điều 45. Nội dung biển hiệu của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Nội dung biển hiệu của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải đảm bảo các thông tin cơ bản sau đây:
1. Tên của cơ sở: Ghi đầy đủ tên của cơ sở, số giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh, họ và tên của người đứng đầu hoặc người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở.
2. Địa chỉ: ghi đầy đủ địa chỉ của cơ sở được ghi trong giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh; Số điện thoại.
3. Phạm vi hoạt động chuyên môn: Ghi phạm vi hành nghề chính được ghi trong giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh.
4. Thời gian làm việc.

Mục 2
THẨM QUYỀN, HỒ SƠ, THỦ TỤC CẤP, CẤP LẠI, ĐIỀU CHỈNH GIẤY PHÉP HOẠT ĐỘNG ĐỐI VỚI CƠ SỞ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH

Điều 46. Thẩm quyền cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
1. Bộ trưởng Bộ Y tế, Giám đốc Sở Y tế tỉnh cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 45 Luật khám bệnh, chữa bệnh.
2. Bộ trưởng Bộ Y tế phân cấp cho Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt một số nội dung liên quan đến hoạt động của bệnh viện tư nhân, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc các bộ, ngành khác đã được Bộ trưởng Bộ Y tế cấp giấy phép hoạt động và phải báo cáo bằng văn bản cho Bộ Y tế ngay sau khi cho phép, cụ thể như sau:
a) Thẩm định, cho phép bằng văn bản việc thay đổi quy mô giường bệnh, cơ cấu tổ chức (thành lập thêm hoặc giải thể các khoa, phòng), bổ sung, điều chỉnh danh mục kỹ thuật theo quy định;
b) Cho phép bằng văn bản việc thay đổi trưởng khoa, người hành nghề;

Điều 47. Hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định tại Khoản 1 Điều 46 Luật khám bệnh, chữa bệnh, cụ thể như sau:
a) Đơn đề nghị cấp giấy phép hoạt động theo mẫu quy định tại Phụ lục 15 ban hành kèm theo Nghị định này;
b) Bản sao có chứng thực quyết định thành lập đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của nhà nước hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân hoặc giấy chứng nhận đầu tư đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có vốn đầu tư nước ngoài;
c) Giấy xác nhận quá trình thực hành của người chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
d) Bản sao có chứng thực chứng chỉ hành nghề của tất cả người hành nghề và danh sách người đăng ký hành nghề của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo mẫu quy định tại Phụ lục 8 ban hành kèm theo Nghị định này; Giấy xác nhận quá trình thực hành của người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của bệnh viện;
đ) Bản kê khai cơ sở vật chất, thiết bị y tế, của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo mẫu quy định tại Phụ lục 16 ban hành kèm theo Nghị định này;
e) Hồ sơ nhân sự của người làm việc chuyên môn y tế tại cơ sở nhưng không thuộc diện phải cấp chứng chỉ hành nghề;
f) Tài liệu chứng minh cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đáp ứng điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị y tế, tổ chức nhân sự phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn của một trong các hình thức tổ chức quy định tại Mục 1 Chương III Nghị định này;
g) Điều lệ tổ chức và hoạt động đối với bệnh viện Nhà nước thực hiện theo mẫu quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế; đối với bệnh viện tư nhân thực hiện theo mẫu quy định tại Phụ lục 17 ban hành kèm theo Nghị định này và phương án hoạt động ban đầu đối với bệnh viện;
h) Bản sao có chứng thực hợp đồng với công ty dịch vụ hàng không để vận chuyển người bệnh đối với cơ sở dịch vụ cấp cứu, hỗ trợ vận chuyển người bệnh ra nước ngoài;
i) Bản sao có chứng thực hợp đồng vận chuyển người bệnh đối với bệnh viện không có phương tiện vận chuyển cấp cứu;
k) Dự kiến phạm vi hoạt động chuyên môn: Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đề xuất phạm vi hoạt động chuyên môn, danh mục kỹ thuật dự kiến thực hiện trên cơ sở danh mục kỹ thuật chuyên môn do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành.
2. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi thay đổi hình thức tổ chức, chia tách, hợp nhất, sáp nhập thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều này.
3. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi thay đổi địa điểm thực hiện theo quy định tại Điểm b, d, e, g và h Khoản 1 Điều này kèm theo đơn đề nghị theo mẫu quy định tại Phụ lục 18 ban hành kèm theo Nghị định này.
4. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi thay đổi tên cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì thực hiện theo quy định tại Điểm b, e, g và h Khoản 1 Điều này kèm theo đơn đề nghị theo mẫu quy định tại Phụ lục 19 ban hành kèm theo Nghị định này.
5. Hồ sơ đề nghị điều chỉnh nội dung giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi thay đổi quy mô giường bệnh hoặc cơ cấu tổ chức hoặc phạm vi hoạt động chuyên môn thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 46 Luật khám bệnh, chữa bệnh bao gồm bản kê khai cơ sở vật chất, thiết bị y tế và hồ sơ nhân sự tương ứng với quy mô hoặc phạm vi hoạt động chuyên môn dự kiến điều chỉnh kèm theo đơn đề nghị theo mẫu quy định tại Phụ lục 21 ban hành kèm theo Nghị định này.
6. Hồ sơ đề nghị cấp lại giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bị mất hoặc hư hỏng hoặc bị thu hồi theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 48 Luật khám bệnh, chữa bệnh bao gồm bản gốc giấy phép bị hư hỏng (nếu có) kèm theo đơn đề nghị theo mẫu quy định tại Phụ lục 20 ban hành kèm theo Nghị định này.
7. Hồ sơ đề nghị thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh:
a) Công văn đề nghị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
b) Quyết định bãi nhiệm người chịu trách nhiệm chuyên môn trước đây của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
c) Quyết định bổ nhiệm người chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
d) Bản sao có chứng thực chứng chỉ hành nghề của người được bổ nhiệm chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
đ) Hợp đồng lao động hoặc quyết định tuyển dụng của người được bổ nhiệm chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
e) Giấy xác nhận thời gian thực hành hoặc tài liệu chứng minh người được bổ nhiệm có đủ thời gian hành nghề để là người chịu trách nhiệm chuyên môn;
g) Bản gốc Giấy phép hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.”

Điều 48. Thủ tục cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1. Hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định tại Điều 45 Nghị định này được gửi như sau:
a) Đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quy định tại Khoản 1 Điều 45 Luật khám bệnh, chữa bệnh, nộp 01 bộ hồ sơ đến Cục Quản lý khám, chữa bệnh – Bộ Y tế, Đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh y học cổ truyền nộp 01 bộ hồ sơ đến Cục Quản lý Y, dược cổ truyền – Bộ Y tế, trừ các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 44 Nghị định này; Cục Quản lý môi trường y tế – Bộ Y tế tiếp nhận hồ sơ đăng ký đủ điều kiện khám bệnh nghề nghiệp của cơ sở y tế trực thuộc Bộ Y tế, các Bộ, ngành và cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam;
b) Đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quy định tại Khoản 2 Điều 45 Luật khám bệnh, chữa bệnh và các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 38 Nghị định này: nộp 01 bộ hồ sơ đến Sở Y tế;
2. Trình tự xem xét việc đề nghị cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh:
a) Sau khi nhận được hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, Bộ Y tế hoặc Sở Y tế tỉnh (sau đây gọi tắt là cơ quan tiếp nhận hồ sơ) gửi cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đề nghị cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Phiếu tiếp nhận hồ sơ theo mẫu quy định tại Phụ lục 22ban hành kèm theo Nghị định này;
b) Trong thời gian quy định tại các Điểm b, c Khoản 1 Điều 47 Luật khám bệnh, chữa bệnh, kể từ ngày ghi trên Phiếu tiếp nhận hồ sơ, nếu không có yêu cầu bổ sung thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ phải xem xét để cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; nếu không cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, cho phép thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do;
c) Trường hợp hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chưa hợp lệ thì trong thời gian 10 ngày làm việc, kể từ ngày ghi trên Phiếu tiếp nhận hồ sơ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ phải có văn bản thông báo cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đề nghị cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, xin phép thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để hoàn chỉnh hồ sơ. Văn bản thông báo phải nêu cụ thể là bổ sung những tài liệu nào, nội dung nào cần sửa đổi;
d) Khi nhận được văn bản yêu cầu hoàn chỉnh hồ sơ, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đề nghị cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải bổ sung, sửa đổi theo đúng những nội dung đã được ghi trong văn bản và gửi về cơ quan tiếp nhận hồ sơ. Ngày tiếp nhận hồ sơ bổ sung, sửa đổi được ghi trên Phiếu tiếp nhận hồ sơ. Sau 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung, sửa đổi, nếu cơ quan tiếp nhận hồ sơ không có văn bản yêu cầu sửa đổi, bổ sung thì phải cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong thời gian quy định tại các Điểm b, c Khoản 1 Điều 47 Luật khám bệnh, chữa bệnh; nếu không cấp, cấp lại thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do;
đ) Trường hợp cơ sở đề nghị cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã bổ sung, sửa đổi hồ sơ nhưng không đúng với yêu cầu thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ sẽ thông báo cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đề nghị cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để tiếp tục hoàn chỉnh hồ sơ theo quy định tại Điểm c, d Khoản 2 Điều này.
3. Giấy phép hoạt động do Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế tỉnh cấp theo mẫu quy định tại Phụ lục 23 ban hành kèm theo Nghị định này.

Mục 3
TỔ CHỨC VIỆC CẤP, CẤP LẠI VÀ ĐIỀU CHỈNH GIẤY PHÉP
HOẠT ĐỘNG ĐỐI VỚI CƠ SỞ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH

Điều 49. Tổ chức thẩm định để cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1. Bộ trưởng Bộ Y tế thành lập đoàn thẩm định để cấp, điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc Bộ Y tế, bệnh viện tư nhân hoặc thuộc các bộ, ngành khác với các thành phần như sau:
a) Đại diện lãnh đạo Cục Quản lý khám, chữa bệnh làm Trưởng đoàn;
Đại diện lãnh đạo Cục Quản lý y, dược cổ truyền làm Trưởng đoàn đối với trường hợp thẩm định cơ sở khám bệnh, chữa bệnh y học cổ truyền;
b) Đại diện lãnh đạo Vụ Pháp chế làm Phó trưởng đoàn;
c) Đại diện Vụ Trang thiết bị và công trình y tế;
d) Đại diện Sở Y tế tỉnh nơi có cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đóng trên địa bàn được giao quản lý;
đ) Đại diện chuyên gia y tế của bệnh viện khác có chuyên khoa phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đề nghị cấp giấy phép hoạt động đăng ký;
e) Các thành phần liên quan khác nếu cần (đại diện cơ quan quản lý y tế của bộ, ngành đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc bộ, ngành khác);
g) Chuyên viên Cục Quản lý khám, chữa bệnh hoặc chuyên viên Vụ Y dược cổ truyền (đối với trường hợp thẩm định cơ sở khám bệnh, chữa bệnh y học cổ truyền) làm Thư ký đoàn thẩm định.
2. Giám đốc Sở Y tế tỉnh thành lập đoàn thẩm định để cấp, điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trừ trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này như sau:
a) Đại diện lãnh đạo Sở Y tế tỉnh hoặc đại diện đơn vị thường trực Đoàn thẩm định quy định tại Khoản 3 Điều này làm Trưởng đoàn;
b) Đại diện lãnh đạo Phòng Quản lý hành nghề hoặc Phòng Nghiệp vụ y (đối với các Sở Y tế tỉnh chưa thành lập Phòng Quản lý hành nghề) làm Phó trưởng đoàn;
c) Đại diện Phòng Nghiệp vụ y (đối với các Sở Y tế tỉnh đã thành lập Phòng Quản lý hành nghề);
d) Đại diện Phòng Tổ chức cán bộ (đối với trường hợp thẩm định cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước);
đ) Đại diện của bệnh viện có chuyên khoa phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đề nghị cấp giấy phép hoạt động đăng ký (nếu cần);
e) Các thành phần liên quan khác nếu cần (đại diện cơ quan quản lý y tế bộ, ngành đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc bộ, ngành khác);
g) Chuyên viên Phòng Quản lý hành nghề hoặc Phòng Nghiệp vụ y (đối với các Sở Y tế tỉnh chưa thành lập Phòng Quản lý hành nghề) làm Thư ký đoàn thẩm định.
3. Thường trực Đoàn thẩm định quy định tại Khoản 1 Điều này đặt tại Cục Quản lý khám, chữa bệnh – Bộ Y tế, đối với y học cổ truyền đặt tại Cục Quản lý y, dược cổ truyền. Thường trực Đoàn thẩm định quy định tại Khoản 2 Điều này đặt tại Phòng Quản lý hành nghề hoặc Phòng Nghiệp vụ y (đối với các Sở Y tế tỉnh chưa thành lập Phòng Quản lý hành nghề) – Sở Y tế.

Điều 50. Quy trình thẩm định cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1. Quy trình thẩm định cấp, điều chỉnh giấy phép hoạt động bao gồm:
a) Thẩm định hồ sơ pháp lý; kiểm tra các điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị, dụng cụ y tế, tổ chức nhân sự của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; thẩm định phạm vi hoạt động chuyên môn;
b) Lập biên bản thẩm định theo mẫu quy định tại Phụ lục 24 ban hành kèm theo Nghị định này;
c) Biên bản thẩm định các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ trưởng Bộ Y tế được làm thành 03 bản: 01 bản lưu tại Bộ Y tế, 01 bản lưu tại Sở Y tế tỉnh nơi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đặt trụ sở, 01 bản lưu tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thẩm định;
d) Biên bản thẩm định các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý của Giám đốc Sở Y tế tỉnh được làm thành 02 bản: 01 bản lưu tại Sở Y tế tỉnh, 01 bản lưu tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thẩm định.
2. Quy trình thẩm định cấp lại giấy phép hoạt động bao gồm:
a) Kiểm tra hồ sơ thẩm định đã cấp giấy phép hoạt động trước đó lưu tại Bộ Y tế hoặc Sở Y tế tỉnh hoặc giấy phép hoạt động bị hư hỏng (nếu có);
b) Cấp lại giấy phép hoạt động theo mẫu quy định tại Phụ lục 23 ban hành kèm theo Nghị định này.
3. Quản lý giấy phép hoạt động:
a) Mỗi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chỉ được cấp một giấy phép hoạt động;
b) Bản sao giấy phép hoạt động và hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại giấy phép hoạt động được lưu tại cơ quan cấp giấy phép hoạt động;
c) Sau khi cấp giấy phép hoạt động cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh:
– Bộ Y tế phải gửi văn bản thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Sở Y tế tỉnh nơi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được cấp giấy phép hoạt động đặt trụ sở trong thời gian không quá 30 ngày kể từ ngày cấp, cấp lại, điều chỉnh hoặc thu hồi giấy phép hoạt động;
– Sở Y tế tỉnh phải gửi văn bản thông báo cho Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được cấp giấy phép hoạt động đặt trụ sở trong thời gian không quá 30 ngày kể từ ngày cấp, cấp lại, điều chỉnh hoặc thu hồi giấy phép hoạt động.

Chương VI
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 51. Điều khoản chuyển tiếp
1. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân đã được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề y tư nhân theo quy định của Pháp lệnh Hành nghề y, dược tư nhân có giá trị sử dụng đến hoặc sau ngày 31 tháng 12 năm 2010 thì được tiếp tục hoạt động khám bệnh, chữa bệnh cho tới khi được cấp giấy phép hoạt động theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh trước ngày 31 tháng 12 năm 2012.
2. Người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh tư nhân đã được cấp chứng chỉ hành nghề để làm người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân theo quy định của Pháp lệnh Hành nghề y, dược tư nhân có giá trị sử dụng đến hoặc sau ngày 31 tháng 12 năm 2010 thì được tiếp tục hành nghề khám bệnh, chữa bệnh cho tới khi được cấp chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh trước ngày 31 tháng 12 năm 2012.
3. Người đang hành nghề khám bệnh, chữa bệnh tư nhân theo quy định của Pháp lệnh Hành nghề y, dược tư nhân thì được tiếp tục hành nghề cho tới khi được cấp chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh trước ngày 31 tháng 12 năm 2012.

Điều 52. Hiệu lực thi hành
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016.
2. Nghị định này bãi bỏ Điều 3 và Điều 4 của Nghị định số 87/2011/NĐ-CP ngày 27 tháng 9 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi một số điều của Luật khám bệnh, chữa bệnh.

Điều 53. Trách nhiệm thi hành
1. Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có trách nhiệm hướng dẫn thực hiện Nghị định này.
2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG

Nơi nhận:
– Ban Bí thư Trung ương Đảng;
– Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP;
– VP BCĐTW về phòng, chống tham nhũng;
– HĐND, UBND các tỉnh, TP trực thuộc TW;
– Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
– Văn phòng Chủ tịch nước;
– Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
– Văn phòng Quốc hội;
– Tòa án nhân dân tối cao;
– Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
– Kiểm toán Nhà nước;
– Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia;
– Ngân hàng Chính sách Xã hội;
– Ngân hàng Phát triển Việt Nam;
– UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
– Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
– VPCP: BTCN, các PCN, Cổng TTĐT,
các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;
– Lưu: Văn thư, KGVX (5b).290

89 comments

  • trong chương trình học cử nhân XQuang có học đại học đại cương, vễ kỹ thuật làm ra một hình ảnh có chất lượng, giải phẫu, sinh lý, bệnh học, giải phẫu xquang, chẩn đoán xquang… khi ra trường về cơ quan công tác chúng tôi làm rất tốt những gì đã được học thậm chí nửa đêm BS chẩn đoán hình ảnh còn mời vào hội ý những trường hợp khó. vậy kính mong quí vị, quí cơ quan có thẩm quyền xem xét cho chúng tôi được làm những gì mà chúng tôi đã được học. vì theo thông tư này thì thiếu đi sự công bằng so với các ngành khác như xét nghiệm, hộ sinh… còn nếu cử nhân XQ chỉ làm kỹ thuật thì trong thời buổi công nghệ kỹ thuật số như hiện nay chắc chỉ cần đào tạo 1 tháng bết sử dụng phần mềm của hãng sản xuất máy là đủ chứ không cần tốn công sức tiền bạc đào tạo 4 năm làm gì.

  • Kính gửi: – Bộ Y Tế.               – Cục Quản lý khám và chữa bệnh.               – Tổ thư ký Ban soạn thảo Nghị Định.             Trước tiên cho tôi gửi lời cám ơn đến Qúi Bộ Y Tế đã cho chúng tôi có tiếng nói góp ý và đã lắng từ chúng tôi.             Qua nghiên cứu Dự thảo Nghị Định, tôi hoàn toàn nhất trí với nội dung của dư thảo nhưng tôi xin phép được có đóng gop như sau:             Ở điều 34 mục 3 a cần bổ sung thêm cho CN X – Quang ( Tốt nghiệp Đại học) được phép đứng tên phòng X- Quang thường qui như trong dự thảo Thông tư 41 sữa đổi. Vì các nghành CN Xét nghiệm, CN Nữ hộ sinh cũng tốt nghiệp Đại học thì được đứng tên phòng còn CN X-Quang cũng tốt nghiệp đại hoc sao lại không đươc đứng tên phòng.             Theo tôi được biết Luật khám chữa bệnh và hành nghề y tế tư nhân thì ở vùng sâu vùng xa chỉ cần KTV X – Quang trung cấp là cho phép. Rồi Thông Tư 04, 07 vẫn cho phép CN X-Quang được đứng tên phòng .              Đến Nghị Định 87, thông tư 41 thì không cho phép CN X- Quang đứng tên phòng, rồi đến dự thao Thông tư 41 sữa đổi thi thì cho phép ( Điều 30 mục 3 a) . Rồi lại đến Thông tư 41 năm 2015 thì không cho. Không biết gì sao lại có cái vòng lẩn quẩng ??           Tôi nghĩ trong thời kỳ đất nươc đang phát triển và hội nhập Bộ Y Tế tạo ra một sân chơi công bằng, bình đẳng theo pháp luật., tạo điều kiên cho nghành Kỹ thuật Hình ảnh y học đã được luật Lao Động công nhận tồn tại và phát triển.           Xin chân thành cám ơn : – Bộ Y Tế                                                  -Cục quản lý khám chữa bệnh                                                  – Tổ thư ký Ban soạn thảo Nghị Định.

  • Kính thưa Bộ Y tế, Cục Quản lý khám chữa bệnh Bộ y tế, Vụ pháp chế Bộ Y tế, vừa qua thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ giao cho một số Bộ ngành soạn thảo để Chính phủ sửa đổi một số Nghị định. Trong đó ngành y tế dự thảo sửa đổi Nghị định quy định cấp chứng chỉ hành nghề đồi với người hành nghề khám chữa bệnh và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám chữa  bệnh. Sau khi nghiên cứu dự thảo tôi xin đóng góp một số ý kiến như sau.
    1. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với nhà hộ sinh:
    – Người chịu trách nhiệm chuyên môn theo dự thảo là bác sỹ hoặc cử nhân (tốt nghiệp đại học có chứng chỉ hành nghề).
    + Góp ý: Người chịu trách nhiệm chuyên môn đối với nhà hộ sinh phải là bác sỹ.
    Vì nếu cho cử nhân chịu trách nhiệm thì ảnh hưởng đến kết quả khám thai với nhiều hệ lụy, thực tế chỗ tôi có một chị cử nhân hộ sinh khi làm không có trình độ gì hết toàn hỏi rò sản phụ để kết luận theo lời khai của sản phụ. Điều này rất nguy hiểm, người dân khu vực bàn tán chê cười vị cử nhân này..
    2. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với cớ sở chăm sóc răng miệng.

    Ủng hộ điều này vì trước đây chưa cho phép, thực tế chăm sóc một số bệnh lý về răng chỉ cần y sỹ răng trẻ em hoặc y sỹ nha khoa là được. Cũng chỉ làm một số công việc như trám răng, nhổ răng, lấy cao răng mà ở vùng xâu phải đi lên tận thị trấn làm ” như vậy làm mất thời gian kinh tế của người dân” nếu dự thảo nghị định được thông qua sẽ được người dân ủng hộ.

    + Góp ý:Tuy nhiên xin góp ý bỏ người chịu trách nhiệm chuyên môn là kỹ thuật viên răng hàm mặt vì người kỹ thuật viên chỉ làm ra những chiếc răng giả thôi, nếu cho kỹ thuật viên răng hàm mặt trình độ trung cấp chịu trách nhiệm của cơ sở chăm sóc răng miệng thì không thể được, sẽ có nhiều bất cập..
    Trên đây là một số góp ý của tôi và rất được nhiều người cùng ủng hộ rất mong ban soan thảo, quý cơ quan xem xét trước khi trình Thủ tướng ký ban hành để không bị bất cập khi ban hành. Xin cảm ơn.

    • Nghe vững nói rất hay người chịu trách nhiệm chuyên môn dịch vu chăm sóc răng miệng phải là y sĩ răng hàm mặt , y sĩ răng trẻ em  và kĩ thuật viên phục hình răng và nói ý kiến vững và rất nhiều người ủng hộ tôi xin hỏi vững biết gì về ktv răng hàm mặt hay ktv phục hình răng ???  Mình góp ý nhé bv mình cũng có ktv răng hàm mặt học đh yd tp hcm năm 2002 _2005 và thêm 1 năm chuyên khoa nha sơ bộ nói đến nha sơ bộ thì chắc ai trong nghành nha đều biết và nhờ có thêm chuyên khoa nha sơ bộ 1 năm thì nguòi ktv đó mới được làm bệnh viện và làm trám răng , nhổ răng , cạo vôi răng và điều trị tủy răng trẻ em . Vậy đóng góp của người ktv đó không được tính sao ??? Đứng trên quan điểm cá nhân tôi nếu không cho ktv răng hàm mặt có làm bệnh viện hay trung tâm y tế , trạm xá là người chịu trách nhiệm chuyên môn dịch vụ chăm sóc răng miệng là sai hoàn toàn vì họ làm trong bệnh viện cũng chăm sóc răng miệng cho bệnh nhân  cũng là viên chức y tế  và có thời gian thực hành trên 5 năm thì không có lí gì lại không được chứ . Và tôi mong muốn thiết tha với ban xoạn thảo và quí cơ quan xem xét ngoài y sĩ rhm và y si răng trẽ em và ktv răng hàm mặt ra thì nên cho thêm trường hợp điều dưỡng nha khoa trung cấp và cử nhân điều dưỡng nha và cử nhân phục hình răng  nếu những đối tượng này có làm bệnh viện , trung tâm y tế , trạm xá có tham gia trực tiếp chăm sóc răng miệng thì cững được làm người đứng đầu cơ sở dịch vụ chăm sóc răng miệng nhưng tất cả các đối tượng trên phải có hợp đồng lao động , viên chức và chứng chỉ hành nghề và quan trọng hơn phải có thâm niên công tác là 45 tháng theo qui định và đó cũng là tâm tư và nguyện vọng của tôi và một số người . Chân thành cảm ơn 

  • Kinh gưi Ban soạn thảo -Bộ Y Tế
    Cháu hiện đang hoc BS Y học dự phòng – Đh y dược tphcm.
    Chương trình học của cháu hầu như hoàn toàn giống chương trình học của BS đa khoa. Vậy tại sao ngành cháu BS Y học dự phòng lại không được tham gia khám , điều tri bệnh tại bệnh viện nha nươc, tư nhân; không được mơ phòng mạch tư nhân, không được tham gia học bs gia đình,….. trong khi các bs khác ( bs đa khoa, bs răng ham măt, bs y hoc cô truyền, ..) va môt sô cư nhân, y si hoc trung cấp lai đươc mở va hành nghê đươc.
    Mong qui cấp trên xem xét lại dư thảo.

  • Đề nghị Bộ y tế xem xét cử nhân công nghệ sinh học công tác trong lĩnh vực xét nghiệm của ngành y tế. Hiện nay số lượng cử nhân công nghệ sinh học làm việc ở lĩnh vực này rất nhiều, được đào tạo gần giống với cử nhân sinh học nhưng thiên về các ứng dụng các công nghệ tiên tiến của xã hội . Ngành y ứng dụng công nghệ sịnh học rất nhiều mà cử nhân công nghệ sinh học làm xét nghiệm không được cấp chứng chỉ hảnh nghề là một thiệt thòi .Đề nghị Bộ y tế xem xét lại hoặc các trường Đại học phải nghiên cứ bỏ 2 chữ Công Nghệ để sinh viên của minh ra trường có cơ hội làm việc trong ngành y .

  • Hiện nay số lượng cử nhân công nghệ sinh học làm trong lĩnh vực y tế rất nhiều. Trong khi họ được đào tạo gần giống vối cử nhân sinh học nhưng thiên về ứng dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật .Ngành y càng cần phải áp dụng công nghệ tiên tiến của xã hội. Công tác trong ngành y lâu dài nhưng cử nhân CNSH không được làm chứng chỉ hành nghề là một thiệt thòi rất lớn. Nếu vì 2 chữ Công Nghệ mà không được cấp chứng chỉ hành nghề thì các Trường Đại Học phải bỏ 2 chữ Công nghệ cho sinh viên mình có nhiều cơ hội làm việc trong ngành y hơn. Đề nghị Bộ y tế xem xét đưa vào Nghị định rõ ràng. Xin cảm ơn!

    • Mong Kcb xem lại, nghành kỹ sư, cử nhân công nghệ sinh học đang làm trong các bv rất nhiều và cũng nghành chuyên sinh học mà tại sao ko cũng dược chứng chỉ hành nghề, trong khi đó công nghệ sinh học , học những kỹ thuật tiên tiên,hiện đại hơn bên nghành cử nhân sinh.mong kcb có quýêt định đúng.

  • Kính thưa Ban soạn thảo Thông tư 41 về hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề và cấp giấy phép hoạt động khám, chữa bệnh, Cục Quản lý khám chữa bênh, Bộ Y tế. Kính mong các vị xem xét tình hình thực tế ở các bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện hiện nay ở Việt Nam hầu hết đều không đủ bác sĩ chuyên khoa Chẩn đoán hình ảnh, hơn nữa đội ngũ Cử nhân Kỹ thuật hình ảnh tốt nghiệp đại học đã và đang đảm đương rất tốt công việc đọc phim X quang quy ước cũng như các kỹ thuật khác, góp phần quan trọng trong nhiệm vụ chẩn đoán chính xác và kịp thời trong công tác khám chữa bệnh của các bệnh viện, được các bác sĩ đồng nghiệp và nhân dân rất tin tưởng. Cử nhân Kỹ thuật hình ảnh tốt nghiệp đại học điểm đầu vào đại học không thấp, học 4 năm, công tác có kinh nghiệm 54 tháng mà chỉ được thực hiện các kỹ thuật về chẩn đoán hình ảnh, thông tư sửa đổi năm 2015 chỉ thêm được mô tả hình ảnh, không được kết luận chẩn đoán và không được là người chịu trách nhiệm về chuyên môn kỹ thuật. Nay chúng tôi xin Ban soạn thảo xem xét và cho phép Cử nhân Kỹ thuật hình ảnh tốt nghiệp đại học được đứng tên là người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật chỉ Phòng X quang, không bao gồm phòng Chẩn đoán hình ảnh (gồm X quang, CT Scan, MRI, Siêu âm…) Kính mong các ngài xem xét, chúng tôi xin chân thành biết ơn.

  • Kính gửi: Các ban ngành có chức năng
    Để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh trong nhân dân, trang thiết bị phù hợp với tình hình kinh tế của địa phương và khả năng đáp ứng trình độ y học của nước ta hiện nay, góp phần giảm tải hệ thống y tế công. Tạo công bằng, hợp lý trong việc cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

    Tôi có ý kiến góp ý dự thảo về sửa đổi, bổ sung Điều 34 như sau:

    Khoản 1: Phân biệt riêng về cơ sở vật chất:
    – Phòng X.Quang thông thường.
    – Phòng chụp cắt lớp vi tính (CT scanner), cộng hưởng từ (MRI).

    Khoản 3: Nhân sự
    – Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng X.Quang thông thường là cử nhân X.Quang (tốt nghiệp đại học), bác sỹ có chứng chỉ hành nghề và có thời gian trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh về Xquang ít nhất là 54 tháng;
    – Cử nhân X.Quang (tốt nghiệp đại học) được đọc và mô tả hình ảnh chẩn đoán.

  • Kính gửi: Các ban ngành có chức năng
    Để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh trong nhân dân, trang thiết bị phù hợp với tình hình kinh tế của địa phương và khả năng đáp ứng trình độ y học của nước ta hiện nay, góp phần giảm tải hệ thống y tế công.
    Tạo công bằng, hợp lý trong việc cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

    Tôi có ý kiến góp ý dự thảo như sau về sửa đổi, bổ sung Điều 34:

    Khoản 1: Phân biệt riêng về cơ sở vật chất
    – Phòng Xquang thông thường.
    – Phòng chụp cắt lớp vi tính (CT scanner), cộng hưởng từ (MRI).
    Khoản 3: Nhân sự
    – Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng X quang thông thường là cử nhân X.Quang (tốt nghiệp đại học), bác sỹ có chứng chỉ hành nghề và có thời gian trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh về Xquang ít nhất là 54 tháng;

    – Cử nhân X.Quang (tốt nghiệp đại học) được đọc và mô tả hình ảnh chẩn đoán.

  • Kính gửi: Các ban ngành có chức năng
    Để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh trong nhân dân, trang thiết bị phù hợp với tình hình kinh tế của địa phương và khả năng đáp ứng trình độ y học của nước ta hiện nay, góp phần giảm tải hệ thống y tế công.
    Tạo công bằng, hợp lý trong việc cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

    Tôi có ý kiến góp ý dự thảo như sau về sửa đổi, bổ sung Điều 34:

    Khoản 1: Phân biệt riêng về cơ sở vật chất
    – Phòng Xquang thông thường.
    – Phòng chụp cắt lớp vi tính (CT scanner), cộng hưởng từ (MRI).
    Khoản 3: Nhân sự
    – Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng X quang thông thường là cử nhân X.Quang (tốt nghiệp đại học), bác sỹ có chứng chỉ hành nghề và có thời gian trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh về Xquang ít nhất là 54 tháng;

    – Cử nhân X.Quang (tốt nghiệp đại học) được đọc và mô tả hình ảnh chẩn đoán.
    Rất mong các ban ngành chức năng chấp thuận ý kiến đóng góp của tôi!

  • Kinh gửi : – Bộ Y Tế
                   – Cục Quản lý Khám chữa bệnh                           – Tổ thư ký Ban soạn thảo Nghị định.         Trước tiên tôi xin chân thành cám ơn Bộ Y Tế đã cho chúng tôi có tiếng nói góp ý dự thảo Nghị Định và đã lắng nghe từ những người dân thường của chúng tôi.            Qua nghiên cứu Dự thảo Nghị định tôi hoàn toàn nhất trí tôi hoàn toàn nhất trí nhưng tôi xin được có ý kiến đóng  góp như sau:                Điều 34 mục 3 a, cần bổ sung thêm cho Cử nhân X -Quang (tốt nghiệp đại học) được đứng tên phòng X- Quang thường qui. vÌ CN Xét nghiệm, CN Nữ hộ sinh cũng tốt nghiệp đại học thì được đứng tên phòng còn CN X- Quang thì sao lại không được.                 Theo tôi được biết Luật khám chữa bệnh và hành nghề y tế tư nhân thì cho phép, Thông tư 04, Thông tư 07, cũng cho phép CN X-Quang đứng tên. Đến Nghị Định 87 và Thông tư 41  năm 2011 thì không cho CN X-Quang đưng tên.  Rồi dự thảo Thông tư sữa đổi thì cho phép (điều 30 mục 3, a) . Nhưng rồi Thông tư 41 năm 2015 thì rồi lại không cho.                Vì vậy Dự thảo Nghị định này rất mong Bộ Y Tế, Cục quản lý khám chữa bệnh, Tổ thư ký Ban soạn thảo Nghị Định bổ sung Điều 34 mục 3 a, cần bổ sung thêm cho Cử nhân X -Quang (tốt nghiệp đại học) được đứng tên phòng X- Quang thường qui.                 Trong thời kỳ đất nước đang phát triển và hội nhập. Bộ Y Tế nên tạo một sân chơi công bằng và bình đăng theo pháp luật. Tạo điều kiện cho Nghành Kỹ thuật hình ảnh đã đươc Bộ Luật lao động công nhận tồn tại và phát triển. Xin chân thành cám ơn!                   Bộ Y Tế
    – Cục Quản lý Khám chữa bệnh
    – Tổ thư ký Ban soạn thảo Nghị định 

    •                                  Xin một lời nói thật bày tỏ niềm đau!

        Kính thưa Ban soạn thảo và các giáo sư đầu ngành tư vấn chính sách cho dự thảo Nghị định Hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

        Các vị là những nhân tài xuất chúng, danh vang bốn bể, nắm giữ trọng trách to lớn của ngành và đất nước. Kính mong các vị đèn trời soi xét cho thân phận chúng tôi, những Cử nhân X quang.
      – Cầm trong tay tấm bằng đại học cũng không kém danh giá so với các ngành học khác nhưng chúng tôi chẳng khác gì công nhân quèn, thử hỏi bao năm đèn sách học đại học để làm gì? Sau nầy ai còn theo học ngành nầy nữa?
       – Lấy đất nước ta so sánh với châu Âu và Bắc Mỹ thì khập khiễng biết bao! Hiện giờ bằng cấp của ta, kể cả Tiến sĩ, họ còn không công nhận, thì tại sao lấy chức danh và công việc Cử nhân kỹ thuật hình ảnh áp đặt theo tiêu chuẩn của châu Âu làm gì?

      – Nếu cho rằng Cử nhân Hình ảnh học chưa tới nơi tới chốn, còn thiếu kiến thức sao không đưa thêm học phần đó vào chương trình đào tạo để ngày càng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho ngành.

      – Thực tế hiện nay ở các tuyến tỉnh và huyện không cho Cử nhân Hình ảnh chịu trách nhiệm kỹ thuật đang gây khó khăn biết bao nhiêu cho các cơ sở y tế.

      – Chính sách thay đổi nhanh hơn thay áo làm chúng tôi đau khổ biết bao nhiêu? Bao năm dành dụm, vay mượn đầu tư phòng X quang cũng gần tỷ bạc, Thông tư 41: Cử nhân không được đứng tên, phòng X quang đóng cửa, mặc cho rêu phong, mạng nhện giăng đầy, nhìn thấy mà đau.

        Ôi! Rừng đã hết – Biển đã chết – Ruộng đồng khô hạn – Phòng X quang đóng cửa!!!
      Khổ đau nầy ai thấu?
      Kính mong các vị đèn trời soi xét, mở lượng hải hà, ban bố ân đức.
      Mong lắm thay !!!

  • Kính gửi : Bộ y tế -Cục quản lý khám chữa bệnh-Ban biên soạn nghị định:
     Trước hết rất cám ơn quí cấp đã tạo cho chúng tôi những tiếng nối để góp ý xây dựng dự thảo nghị định.
     Tôi xin góp ý 1 số ý kiến sau:
    Tôi về công tác cho 1 bv huyện cận kề TP Quảng ngãi hiện nay đã hơn 23 năm .Đã tôt nghiệp CN CĐXQ 2000,Tốt nghiệp ĐHKT Y 2005 tại ĐHY Dược tpHCM. Không kể trước kia T/Cấp 3 năm,CĐ Y 4 năm và 1 năm chuẩn hóa ĐH .8 năm học mới lấy bằng ĐH .Chúng tôi đã học qua  chương trình ĐH y đại cương ,bệnh học nội ,ngoại và TMH tại học y dược TP HCM.Thực hành hơn 23 năm ,bệnh viện hiện tại 150 giường( hiện vẫn chưa có BS CĐHA).Công việc hiện tại vẫn phụ chụp và chẩn đoán XQ là chính.
      Giai đoạn trước năm 2000 ,khi khoa CĐHA ra đời ,nhập chung siêu âm ,CT.MRI ,XQ …TT41/2011 và TT41/2015 có nhiều bất cập về quyền lợi đ/v những anh em chuyên về XQ  đã học ĐH.Rất mong quí vị xem xét .Tai sao CNXN,NHS… vẫn là người chụi trách với phòng khám XN,Hộ sinh…Tại sao chúng tôi không đc quyền là người chụi trách nhiệm của phòng XQ qui ước.
     TT 04/2003 và sau đó là TT07 cho CNXQ tốt nghiệp ĐH đc đứng tên phòng XQ .Vậy một số anh em đã đầu tư phòng chụp XQ qui ước với số tiền kg nhỏ ,chừng ấy năm đi học và phục vụ trong ngành độc hại ,BS CĐHA  rất hiếm rất nhiều phòng chụp phải đóng cửa,Vậy ai là người chụi trách nhiệm.
      23 năm phục vụ trong ngành ,chuyển đổi nghề nghiệp để nuôi sống gia đình là chụyện kg dễ.
      Rất mong quí cấp xem xét và ghi nhận công lao của a/e CNKTHA hiện nay , cần bổ sung trong điều 34 mục 3a ( CN KTHA đc chụi trách nhiệm phòng CĐXQ qui ước)để chúng tôi có đường sống ,yêu nghề và an tâm công tác phụ vụ bệnh nhân.
      Rất trân trọng cám ơn.

  • *CAONGUYENCLINIC@GMAIL.COM :
    Thưa các cấp, BYT ! Phòng khám chuyên khoa chẩn đoán hình ảnh là phòng khám bao gồm: Phòng chụp X Quang , phòng chụp CT scanner, phòng chụp MRI, phòng Siêu âm … Các phòng này hoàn toàn riêng biệt và vận hành thiết bị máy móc, phương pháp làm các kỹ thuật cũng khác nhau. Cử nhân X Quang tốt nghiệp đại học chỉ xin được phép đứng tên hành nghề phòng chụp X Quang thông thường mà thôi.Thiết nghĩ tất cả các Cử nhân Xét Nghiệm, Cử nhân Hộ Sinh … đều được cho phép đứng tên hành nghề các phòng Xét Nghiệm, nhà Hộ Sinh…thì tại sao Cử nhân X Quang không được đứng tên hành nghề phòng chụp X Quang?
    *Xin các cấp liên quan xem xét cho phép :
    Cử nhân KTHA được phép đứng tên Phòng chụp X Quang

  • Tôi xin có ý kiến đóng góp như sau: tôi hiện nay là. Kỳ thuật viên trung cấp X Quang. Nếu theo nghị định này thì xin bỏ ngành nghề học CN x quang làm chi.

  • de nghi bo yte quan tam den Cu nhan ky thuat hinh anh. theo nhu y kien trong sua doi du thao thong tu 41 thi CN ky thuat hinh anh co thoi gian cong tac 54 thang duoc dung ten phong chup x-quang rat hop ly voi tinh hinh hien nay giong nhu CN Xet nghiem, Vat ly tri lieu, cn Ho sinh…. Rat mong cuc quan ly kham chua benh va lanh dao bo y te xem xet. xim cam on

  • de nghi bo y te quan tam den Cu nhan ky thuat hinh anh. theo nhu y kien trong sua doi du thao thong tu 41 thi CN ky thuat hinh anh co thoi gian cong tac 54 thang duoc dung ten phong chup x-quang rat hop ly voi tinh hinh hien nay giong nhu CN Xet nghiem, Vat ly tri lieu, cn Ho sinh…. Rat mong cuc quan ly kham chua benh va lanh dao bo y te xem xet. xim cam on

  • Thưa các cấp, BYT ! Phòng khám chuyên khoa chẩn đoán hình ảnh là phòng khám bao gồm: Phòng chụp X Quang , phòng chụp CT scanner, phòng chụp MRI, phòng Siêu âm … Các phòng này hoàn toàn riêng biệt và vận hành thiết bị máy móc, phương pháp làm các kỹ thuật cũng khác nhau. Cử nhân X Quang tốt nghiệp đại học chỉ xin được phép đứng tên hành nghề phòng chụp X Quang thông thường mà thôi.Thiết nghĩ tất cả các Cử nhân Xét Nghiệm, Cử nhân Hộ Sinh … đều được cho phép đứng tên hành nghề các phòng Xét Nghiệm, nhà Hộ Sinh…thì tại sao Cử nhân X Quang không được đứng tên hành nghề phòng chụp X Quang ? *Xin các cấp liên quan xem xét cho phép :
    Cử nhân KTHA được phép đứng tên phòng chụp X Quang

  • Thưa các cấp ! Phòng khám chuyên khoa chẩn đoán hì/ Cử nhân KTHA được phép đứng tên phòng máy X Quangnh ảnh là phòng khám bao gồm: Phòng chụp X Quang , phòng chụp CT scanner, phòng chụp MRI, phòng Siêu âm … Các phòng này hoàn toàn riêng biệt và vận hành thiết bị máy móc, phương pháp làm các kỹ thuật cũng khác nhau. Cử nhân X Quang tốt nghiệp đại học chỉ xin được phép đứng tên hành nghề phòng chụp X Quang thông thường mà thôi.Thiết nghĩ tất cả các Cử nhân Xét Nghiệm, Cử nhân Hộ Sinh … đều được cho phép đứng tên hành nghề các phòng Xét Nghiệm, nhà Hộ Sinh…thì tại sao Cử nhân X Quang không được đứng tên hành nghề phòng chụp X Quang thông ? Xin các cấp liên quan xem xét cho phép :
    Cử nhân KTHA được phép đứng tên phòng máy X Quang

  • Xin một lời nói thật bày tỏ niềm đau!

    Kính thưa Ban soạn thảo và các giáo sư đầu ngành tư vấn chính sách cho dự thảo Nghị định Hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

    Các vị là những nhân tài xuất chúng, danh vang bốn bể, nắm giữ trọng trách to lớn của ngành và đất nước. Kính mong các vị đèn trời soi xét cho thân phận chúng tôi, những Cử nhân X quang.
    – Cầm trong tay tấm bằng đại học cũng không kém danh giá so với các ngành học khác nhưng chúng tôi chẳng khác gì công nhân quèn, thử hỏi bao năm đèn sách học đại học để làm gì? Sau nầy ai còn theo học ngành nầy nữa?
    – Lấy đất nước ta so sánh với châu Âu và Bắc Mỹ thì khập khiễng biết bao! Hiện giờ bằng cấp của ta, kể cả Tiến sĩ, họ còn không công nhận, thì tại sao lấy chức danh và công việc Cử nhân kỹ thuật hình ảnh áp đặt theo tiêu chuẩn của châu Âu làm gì?

    – Nếu cho rằng Cử nhân Hình ảnh học chưa tới nơi tới chốn, còn thiếu kiến thức sao không đưa thêm học phần đó vào chương trình đào tạo để ngày càng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho ngành.

    – Thực tế hiện nay ở các tuyến tỉnh và huyện không cho Cử nhân Hình ảnh chịu trách nhiệm kỹ thuật đang gây khó khăn biết bao nhiêu cho các cơ sở y tế.

    – Chính sách thay đổi nhanh hơn thay áo làm chúng tôi đau khổ biết bao nhiêu? Bao năm dành dụm, vay mượn đầu tư phòng X quang cũng gần tỷ bạc, Thông tư 41: Cử nhân không được đứng tên, phòng X quang đóng cửa, mặc cho rêu phong, mạng nhện giăng đầy, nhìn thấy mà đau.

    Ôi! Rừng đã hết – Biển đã chết – Ruộng đồng khô hạn – Phòng X quang đóng cửa!!!
    Khổ đau nầy ai thấu?
    Kính mong các vị đèn trời soi xét, mở lượng hải hà, ban bố ân đức.
    Mong lắm thay !!!

  • Thưa các cấp ! Phòng khám chuyên khoa chẩn đoán hình ảnh là phòng khám bao gồm: Phòng chụp X Quang , phòng chụp CT scanner, phòng chụp MRI, phòng Siêu âm … Các phòng này hoàn toàn riêng biệt và vận hành thiết bị máy móc, phương pháp làm các kỹ thuật cũng khác nhau. Cử nhân X Quang tốt nghiệp đại học chỉ xin được phép đứng tên hành nghề phòng chụp X Quang thông thường mà thôi.Thiết nghĩ  tất cả các Cử nhân Xét Nghiệm, Cử nhân Hộ Sinh … đều được cho phép đứng tên hành nghề các phòng Xét Nghiệm, nhà Hộ Sinh…thì tại sao Cử nhân X Quang không được đứng tên hành nghề phòng chụp X Quang thông ? Xin các cấp liên quan xem xét cho.

  • Kính mong Ban soạn thảo dự thảo Nghị định sửa lại: Cử nhân X.Quang (tốt nghiệp đại học) được đọc, mô tả hình ảnh và được kết luận chẩn đoán. Được đứng tên phòng chụp X quang thường qui như Cử nhân của các chuyên khoa khác như Xét nghiệm hay Hộ sinh….v.v.Cảm ơn Ban soạn thảo.

  • Thưa quý ngài ! Phòng khám chuyên khoa chẩn đoán hình ảnh là phòng khám bao gồm: Phòng chụp X Quang thông thường, phòng chụp CT scanner, phòng chụp MRI, phòng Siêu âm … Các phòng này hoàn toàn riêng biệt và vận hành thiết bị máy móc, phương pháp làm các kỹ thuật cũng khác nhau. Cử nhân X Quang tốt nghiệp đại học chỉ xin được phép đứng tên hành nghề phòng chụp X Quang thông thường mà thôi.Cần nói thêm rằng : Cử nhân Xét Nghiệm, Cử nhân Hộ Sinh … đều được cho phép đứng tên hành nghề các phòng Xét Nghiệm, nhà Hộ Sinh…thì tại sao Cử nhân X Quang không được đứng tên hành nghề phòng chụp X Quang thông thường ? Thưa quý ngài học đại học chuyên ngành kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh mà không được đứng phép một phòng chụp X Quang thông thường thì … quả thật là vô lý quá ?!? Mong quý ngài đừng để chúng tôi bức xúc thêm nữa. Qúy ngài hãy làm một việc gì đó hữu ích đúng với chương trình đào tạo chúng tôi để tạo điều kiện chúng tôi an tâm công tác với ngành nghề độc hại và là nhân tố kích thích để ngành Chẩn đoán hình ảnh nước nhà ngày càng phát triển và vươn xa hơn nữa. Thành thật cám ơn quý ngài !

  • de nghi bo yte quan tam den Cu nhan ky thuat hinh anh. theo nhu y kien trong sua doi du thao thong tu 41 thi CN ky thuat hinh anh co thoi gian cong tac 54 thang duoc dung ten phong chup x-quang rat hop ly voi tinh hinh hien nay giong nhu CN Xet nghiem, Vat ly tri lieu, cn Ho sinh…. Rat mong cuc quan ly kham chua benh va lanh dao bo y te xem xet. xim cam on

  • de nghi bo yte quan tam den Cu nhan ky thuat hinh anh. theo nhu y kien trong sua doi du thao thong tu 41 thi CN ky thuat hinh anh co thoi gian cong tac 54 thang duoc dung ten phong chup x-quang rat hop ly voi tinh hinh hien nay giong nhu CN Xet nghiem, Vat ly tri lieu, cn Ho sinh…. Rat mong cuc quan ly kham chua benh va lanh dao bo y te xem xet. xin cam on

  • Kính thưa quý vị có trách nhiệm ở bộ y tế, xin hỏi quý vị hàng trăm cơ sở y tế tuyến huyện, tuyến tỉnh xa trung ương, kỹ thuật viên, cử nhân không đọc kết quả thì ai đọc để trả kết quả cho bệnh nhân. Thực tế quý vị đi khảo sát sẽ biết.

  • Đang lá trung cấp X quang, dự định học nâng cao lên đại học, nhưng thấy trong phụ lục 5 , phạm vi hoạt động chuyên môn của Cử nhân đại hoc X quang không có, làm cho nản chí không muốn học lên. Xin đề nghị xem xét lại 

  • Tại mục 3, điều 13, điểm7: ” Người hành nghề đã đăng ký hành nghề tại một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì không được đăng ký làm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn tỉnh khác với nơi mình đang hành nghề để bảo đảm tính liên tục, ổn định trong cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh”. Đề nghị bỏ hoặc thay đổi điểm này bằng cự ly Km cho phù hợp thực tế, vì có trường hợp cùng tỉnh nhưng cách trên 100 Km, và có trường hợp khác tỉnh nhưng chỉ cách dưới 20Km.

  • bằng Công nghệ sinh học có trường thì cấp bằng kỹ sư CNSH, có trường cấp bằng CN CNSH. Vậy nên trong thông thư có thể ghi cụ thể Cử nhân hoặc Kỹ sư CNSH để cho các đơn vị cứ thế mà áp dụng được không ah?

  • Tại các bệnh viện vùng sâu vùng xa thiếu BS chẩn đoán hình ảnh, rất đồng ý cho Cử Nhân X quang mô tả tổn thương.. Nhưng sẽ rất hợp lý hơn, thấu tình đạt lý hơn khi cho anh em Cử Nhân X quang ( trên 54 tháng kinh nghiệm ) được chịu trách nhiệm nhân sự về chuyên môn, được mở phòng chụp x quang ( không có CT, MRI ) …Hãy cho anh em con đường sống…Rất cám ơn quý vị.
    Khi thiếu BS, lại thuê BS đứng phòng chụp X quang thì chi phí tăng, không có cách nào khác là tăng giá chụp film…chỉ tội cho bệnh nhân.

    Trong phụ lục 5 , phạm vi hoạt động chuyên môn của CỬ NHÂN ĐẠI HỌC XÉT NGHIỆM thì có rõ ràng…còn CỬ NHÂN ĐẠI HỌC X QUANG thì sao không thấy ? rất buồn tủi….Hãy tạo điều kiện cho anh em đam mê học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn……

    Một lần nữa rất cám ơn quý vị đã lắng nghe!
    ( Xin tạo điều kiện tốt nhất cho anh em trong ngành sống, đam mê, cống hiến và lo cho gia đình )

    • author

      Ý kiến của anh chị đã được chuyển đến Tổ thư ký Ban soạn thảo.
      Chân thành cảm ơn !

    • Ở bệnh viện đa khoa tỉnh Gia lai,khoa chẩn đoán hình ảnh hiện có: 07 Bs (trong đó có 03 Bs CK1 chẩn đoán hình ảnh,01 Ths CĐHA ) và 04 Cử nhân kỹ thuật hình ảnh.Tôi tốt nghiệp trung cấp y tế TW2 Đà nẵng năm 1985,năm 1996 đến 2000:tốt nghiệp cao đẳng X quang,từ năm 2001-2003: tốt nghiệp cử nhân đại học kỷ thuật hình ảnh tại trường ĐH Y Dược TP HCM.Từ 1985 đến 2003 tôi làm và đọc phim x quang(kể cả bệnh phòng,giám định pháp y,giám định y khoa,bảo vệ sức khỏe tĩnh…)Từ 2003 đến nay tôi chuyển sang vừa làm vừa đọc phim CT.Scanner và cả phim x quang.Trong số các Bs trên chỉ có duy nhất 01 Bs CK1(trước đây là Ýsỉ xquang ) tham gia đọc phim cùng 04 anh em cử nhân đại học mà thôi.Trong quá trình công tác anh em cử nhân chúng tôi luôn hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn,và luôn được đội ngũ lâm sàng tin tưởng,và cũng được cấp bệnh viện ,cấp sở y tế khen thưởng hằng năm(trong lĩnh vực chuyên môn)Ngoài ra hằng năm anh em cử nhân chúng tôi vẫn thường tham gia các lớp đào tạo sau đại học liên tục do trường ĐHY Dược Huế tổ chức(có cấp giấy chứng nhận).Từ lẽ trên tôi thiết nghĩ theo thông tư hướng dẫn bổ sung nghị định 41 bộ YTế đã phê duyệt cho chúng tôi đọc mô tả kết quả xquang thì cũng chấp thuận cho đội ngũ cử nhân chúng tôi được đúng tên phòng chụp x quang đơn thuần là hợp tình hợp lý nhất.Kính mong quý cấp có thẩm quyền nhất là văn phòng quốc hội,bộ Y tế,cục khám chữa bênh tạo điều kiện cho chúng tôi có con đường mưu sinh,để có mưu cầu hạnh phúc!
      Tôi xin chân thành cảm ơn!

  • Một ngành nghề đã được công nhận trong danh mục nghề nghiệp của bộ luật lao động thì cớ sao Cử nhân Xquang lại không được phép đứng  tên độc lập khi mở phòng Xquang thường qui ? trong khi các ngành khác lại được ( Ban soạn thảo cần cân nhắc lại trước khi ban hành luật ). Ở các tuyến vùng sâu vùng xa lấy đâu ra bác sĩ chẩn đoán hình ảnh để đọc film mà dự thảo lại cấm không cho Cử nhân Xquang đọc film, vậy ai sẽ là người chẩn đoán chính xác trong trường hợp này? ( Ban soạn thảo cần cân nhắc lại trước khi ban hành luật )

  • Đề nghị BYT và các đơn vị trực thuộc xem xét về vai trò Cử nhân X quang trong hoàn cảnh thực tế ở các bộ phận Y tế hiện nay ở nước ta, nên cần có cái nhìn thực tế về việc làm và trách nhiệm của CN X quang hiện tại để tạo cho họ có niềm tin và sự cống hiến tốt hơn bằng cách cho họ có một cơ sở nhỏ bằng việc công nhận được đứng tên một phòng chụp x quang để họ yên tâm trong cuộc sống và động viên tinh thần cho họ. Kính mong được sự quan tâm.

  • Kính thưa quý Thầy Cô cùng các Anh Chị đồng nghiệp ở Cục quản lý khám chữa bệnh – Bộ Y tế !
    Rất cám ơn đã tạo điều kiện cho anh em chúng tôi ( đồng nghiệp của anh chị ) nói lên tâm tư nguyện vọng của mình, rất cám ơn đã lắng nghe từ cơ sở…Hiện tôi là Trưởng Khoa Chẩn Đoán Hình Ảnh bệnh viện đa khoa huyện, 22 năm trong ngành X quang, có rất nhiều kỷ niệm đối với tôi, khi mới về nhận công tác, bệnh viện có sẳn máy X quang cũ nhưng không sử dụng được, tôi tìm hiểu và khắc phục,  sau đó chụp được, ban lãnh đạo rất mừng, đặt biệt là bệnh nhân, họ khỏi phải đi lên tuyến trên…
    Trong quá trình tổ chức hoạt động, nhiều khi rất thương nhân viên anh em trong khoa bởi ” KTV có nhiệm vụ thực hiện đúng y lệnh của Bác Sĩ điều trị “…có lần chỉ định chụp “CỔ BÀN CHÂN THẲNG NGHIÊNG ” anh em trình bày trong sách dạy chỉ có CỔ CHÂN hoặc BÀN CHÂN thẳng nghiêng thôi, không thể chụp 1 lượt ra hai vị trí, thế là BS ấy phê bình anh em chúng tôi nên học lại.
    Bệnh nhân buổi sáng nhập khoa cấp cứu cho chụp xong, chiều chuyển bệnh lên khoa nội cho chụp lại là chuyện thường ngày ( bệnh ổn không phải theo dõi đặc biệt ), bệnh nhân lớn tuổi chẩn đoán cao huyết áp cho chụp xoang (Blon deau Hitz) tư thế khó, có lần bệnh nhân mệt choáng…phản ánh lên khoa, BS nói : chỉ định gì làm nấy..
    Bệnh nhân bị tai nạn giao thông, khi vào Bác Sĩ cho chụp toàn thân ( bệnh nhân đi đứng được) hiển nhiên chúng tôi phải chụp và kết quả hầu như là không thấy gãy xương…
    Rất đồng ý về lâu dài cần có BS chẩn đoán hình ảnh, nhưng tình hình thực tế hiện nay còn rất cần anh em cử nhân x quang nhiều kinh nghiệm, anh em đã cống hiến cho ngành những lúc khó khăn, mong quý vị xem xét lại.
    Đánh giá con người cần qua năng lực, hiệu quả công tác, nếu không cho anh em cử nhân x quang động lực học tập, nghiên cứu, lao động và công hiến, không có cơ sở pháp nhân…e rằng một số Bác Sĩ tiếp tục làm khổ anh em KTV và bệnh nhân vì cơ chế chỉ định gì chụp đó !
    Xin cám ơn quý vị ! chúc sức khỏe ! 

  • Xin chào . Hiện nay tôi cũng đã công tác trong ngành CĐHA được 20 năm . Tôi thấy ở tĩnh Quảng Ngãi  BVĐK tĩnh rất thiếu Bs . Xquang , còn hầu như ở Bv tuyến huyện không có Bs xquang , chỉ toàn là anh em CN XQuang tốt nghiệp đại học đọc kết quả .mà nay bộ y tế không cho đọc kết quả thử hỏi lấy ai mà đọc kết quả trả cho bệnh nhân . Trong khi đó các ngành khác như : CN xét nghiệm , CN hộ sinh đều được đứng tên phòng khám . mà sao CN XQuang cũng tốt nghiệp đại học lại không được đúng tên .theo tôi  CN XQuang đứng ten phòng khám XQuang thường quy là hợp lý . cũng là để khuyết khích tinh thần học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn phục vụ cho bệnh nhân ngày càng tốt hơn. Mà hơn nữa  lúc trước cũng Bộ y tế cho CN XQuang được đúng tên phòng chụp XQuang thường qui , nên tôi đã vai mượn tiền ngân hàng để mua máy về mỡ phòng chụp làm chưa được bao lâu  ,từ khi  Bộ y tế không cho CN XQuang đúng tên nữa nên tôi  phải đóng cửa  giờ  thì thành cục sắt . Nay  tôi xin góp ý vào dự thảo khám chữa bệnh mới là cho CN X- Quang được đúng tên phòng chụp X- Quang thông thường . Rất mong Bộ y tế xem xét lại . Chân thành cảm ơn .

  • Kính mong Cục quản lý khám chữa bệnh xem xét cấp CCHN cho Cử nhân CĐHA để anh em được đứng tên phòng X quang độc lập tương xứng với bằng cấp họ đã học và công sức họ đã cống hiến cho cộng đồng.

  • Thật bất công .chúng tôi là CN CĐHA  được đào tạo ở một trường y có tiếng ở VN (Trường ĐHYD TPHCM ) thì lại không được phép đứng tên một phòng chụp xq thông thường ,trong khi các nghành khác thì được phép như XN ,NHS …..Chúng tôi thiếu cái gì ?.Đề nghị Bộ y Tế cần quan tâm đến chúng tôi một bộ phận không nhỏ trong hệ thống nghành y ,để chúng tôi còn con đường sống và phục vụ cho XH .   

    • Rất đồng tình các ý kiến góp ý  của các đồng nghiệp trên toàn quốc , Đề nghị BYT và Ban Soan Thảo Nghị Định xem xét lai , cùng là tốt nghiệp Đại Học Trường Y mà có nghành Được cấp chứng chỉ hoat động riêng CN Yhoc Hình Ảnh thì lại ko? mong Các Bác Các cô chú GS, TS soạn thảo văn bản xem lại cho các bệnh viện vùng sâu xa chưa có Bs Chuyên Khoa đọc kết quả , bệnh nhân gặp khó khăn khi khám chửa bệnh Chúng tôi Rất mong Bộ Y tế xem xét Và thấu hiểu được tâm tư và nguyên vọng cửa chúng tôi ,những người CN Yhoc Hình Ảnh được phục vụ và làm viêc theo pháp luật

  • Kính gởi Qúy Lãnh đạo Bộ y tế  Tôi tốt nghiệp CN.XQuang năm 1992, và đã làm việc trong Khoa Xquang sau này là Khoa Chẩn đoán hình ảnh trên 30 năm, do đó tôi hiểu  không ít thì nhiều các chuyên môn kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh ,cũng như tâm tư nguyện vọng của anh chị em trong ngành, kể cả các em sinh viên đang theo học tai các trường Đại học y dươc ngành này  Vào thập niên 80-90-95 ít có BS theo học sơ bộ Xquang, bởi vì các cơ sở y tế tuyến tỉnh huyện chỉ có chiếu chụp XQuang, các cơ sở y tế không đủ điều kiện che chắn bức xạ, độc hại rất nguy hiểm. Các CN.XQuang về tỉnh phải đảm đang toàn bộ công tác chiếu chụp xquang này, nhưng các anh em vẫn bám trụ phục vụ bệnh viện và luôn học tập nâng cao nghiệp vụ phát triển ngành XQuang cho đến này nay. Hiện nay các BS có chứng chỉ hành nghề Xquang rất ít đa số là BS.Chẩn đoán hình ảnh.  Trước đây, thông tư 04, rồi đến thông tư 07- BYT cho phép CN.XQuang đứng pháp nhân phòng chẩn đoán XQuang. Anh em trong ngành rất phấn khởi cống hiến và học tập; các Thầy, Cô ở các trường Đại học Y Dược tích cực giảng dạy, sinh viên tích cực học tập, trau giồi chuyên môn nghiệp vụ. Những năm này, các anh em CN.XQuang hành nghề đều thực hiện tốt qui định chuyên môn.  Đến thông tư 41/ 2011-BYT ra đời bản thân tôi và anh em trong ngành rất bức xúc và chán nãn. Nhiều sinh viên gặp tôi nói rằng họ mất rất nhiều khí thế học tập, vì khi ra làm việc giống như các anh em học trung cấp. Tôi thiết nghĩ nếu sự việc kéo dài ngành KTHA Y học chắc ít ai thi vào.   Ở đây tôi không so sánh với các ngành khác được Bộ cho phép đứng tên pháp nhân đăng ký hành nghề. Tôi rất hoan nghênh Bộ cho phép y sĩ Răng trẻ em. KTV nha được mở phòng chăm sóc răng miệng ( các anh chị nha công đứng tên được tại sao KTV nha không được được đứng tên ) , một số ngành do các trường ngoài trường Y Dược đào tạo vẫn được đứng tên như cữ nhân Sinh học, sau CN.XQuang  được đào tạo bài bản tại các trường Đại học Y dược lại không được được đứng tên phòng kỹ thuật chẩn đoán Xquang !  Chúng tôi rất chân thành cám ơn sự cầu thị của Ban biên soạn nghị định hướng đẫn cấp chứng chỉ hành nghề với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động với cơ sở khám bệnh, chửa bệnh, cho phép tôi góp ý. Từ những suy nghĩ phân tích như trên, tôi kính đề nghị Ban biên soạn bổ sung điểm a, điều 34 như sau ” Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của Phòng khám chẩn đoán Xquang phải là bác sỹ hoặc cữ nhân Xquang (tốt nghiệp đại học) có chứng chỉ hành nghề…”    Riêng vấn đề mô tả hoặc kết luận trên phim Xquang qui ước, tôi biết từ xưa đến nay trên hình xquang các thầy đều mô tả hình ảnh tổn thương, bất thường là chính. Bác sĩ điều trị sẽ kết hợp hình ảnh XQ và các yếu tố khác để kết luận bệnh lý cho bệnh nhân. Do đó Bộ cho phép CN. XQuang mô tả hình ảnh trên phim là phù hợp, đồng thời góp phần tháo gở khó khăn cho địa phương đang thiếu BS.CĐHA

  • Đề nghị BYT và các cơ quan trực thuộc xem xét vai trò của Cử nhân X quang trong hoàn cảnh và điều kiện hoạt động y tế tại nước ta hiện nay, việc công nhận về văn bằng được đào tạo và trình độ chuyên môn thực tế đã chứng minh năng lực của họ, hiện tại chúng tôi nhận thấy việc cho họ đứng tên một phòng chụp X Quang là hợp lý và tạo cho họ có niềm tin và động lực để tiếp tục cống hiến cũng như cho họ một nguồn sống. Kính mong được xem xét

  • Ở bệnh viện đa khoa tỉnh Gia lai,khoa chẩn đoán hình ảnh hiện có: 07 Bs (trong đó có 03 Bs CK1 chẩn đoán hình ảnh,01 Ths CĐHA ) và 04 Cử nhân kỹ thuật hình ảnh.Tôi tốt nghiệp trung cấp y tế TW2 Đà nẵng năm 1985,năm 1996 đến 2000:tốt nghiệp cao đẳng X quang,từ năm 2001-2003: tốt nghiệp cử nhân đại học kỷ thuật hình ảnh tại trường ĐH Y Dược TP HCM.Từ 1985 đến 2003 tôi làm và đọc phim x quang(kể cả bệnh phòng,giám định pháp y,giám định y khoa,bảo vệ sức khỏe tĩnh…)Từ 2003 đến nay tôi chuyển sang vừa làm vừa đọc phim CT.Scanner và cả phim x quang.Trong số các Bs trên chỉ có duy nhất 01 Bs CK1(trước đây là Ýsỉ xquang ) tham gia đọc phim cùng 04 anh em cử nhân đại học mà thôi.Trong quá trình công tác anh em cử nhân chúng tôi luôn hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn,và luôn được đội ngũ lâm sàng tin tưởng,và cũng được cấp bệnh viện ,cấp sở y tế khen thưởng hằng năm(trong lĩnh vực chuyên môn)Ngoài ra hằng năm anh em cử nhân chúng tôi vẫn thường tham gia các lớp đào tạo sau đại học liên tục do trường ĐHY Dược Huế tổ chức(có cấp giấy chứng nhận).Từ lẽ trên tôi thiết nghĩ theo thông tư hướng dẫn bổ sung nghị định 41 bộ YTế đã phê duyệt cho chúng tôi đọc mô tả kết quả xquang thì cũng chấp thuận cho đội ngũ cử nhân chúng tôi được đúng tên phòng chụp x quang đơn thuần là hợp tình hợp lý nhất.Kính mong quý cấp có thẩm quyền nhất là văn phòng quốc hội,bộ Y tế,cục khám chữa bênh tạo điều kiện cho chúng tôi có con đường mưu sinh,để có mưu cầu hạnh phúc!
    Tôi xin chân thành cảm ơn!

  • Kính gởi các ngài có chức vị cao nhất của ngành hình ảnh VN hiện nay.  Và những người có chức vị cao nhất của ngành y tế.  Hãy xem xét kỹ lại cho đôi tuong CN hình ảnh y học. Để ngành được tiếp tục  phát triển và CN hình ảnh được ngan đầu nhìn lên với các ngành khác. Ngành hình ảnh y học là 1 ngành độc hại ko kém cũng là CN đại học mà hiện tại về thông tư đưa ra về hành nghề y dược tư nhân số với các ngành bạn thì ko dám ngan đầu. Mong quí ngài xem xét kỹ lại cho ngành. Xin chan thanh biết  on!

  • KÍnh mong CKCB và Ban soạn thảo Nghị định sửa lại: ngành Kỹ sư công nghệ sinh học có thể được cấp chứng chỉ hành nghề. có rất nhiều người học ngành KSCNSH ra trường, học chuyên khoa định hướng xét nghiệm tại các  trường y khoa và làm tại các phòng xét nghiệm ở các viện từ trung ương tới tuyến huyệnmà  hiện nay không được cấp CCHN. XIn hỏi nếu không được cấp CCHN chúng tôi làm việc kiểu gì, chẳng lẻ làm chui. chúng tôi học nghành kỷ thuật hiện đại  vậy mà  cử nhân hóa học, sinh học được cấp tại sao kỹ sư công nghệ sinh học lại không được cấp. KÍnh mong ban soạn thảo xem xét lại. Xin cảm ơn.

  • Rất mong Cục khám chữa bệnh (Bộ Y tế) tạo điều kiện thuận lợi hơn để nhân viên y tế làm thêm bằng nghề chính của mình. Để phục vụ xã hội nhiều hơn, nâng cao tay nghề hơn, có thêm thu nhập chính đáng được xã hội công nhận để đủ sống nuôi bản thân và gia đình, tăng thêm nhiệt huyết yêu nghề. Góp phần giảm tải bệnh viện Công (Mức lương thực nhận hiện nay quá thấp, nhưng ngân sách Nhà nước thì có hạn). Góp phần tạo động lực nhân viên y tế khởi nghiệp bằng nghề y. Nếu có thể được nên giảm bớt thủ tục hành chính ký hợp đồng thực hành nghề y. Hoặc tạo điều kiện ký hợp đồng 5 năm liên tục (1 lần) đối với xác nhận thực hành. Yêu cầu Thủ trưởng các Bệnh viện công tạo điều kiện thuận lợi ký hợp đồng thực hành ngành y. Vì có một số nhân viên y tế làm phòng khám tư nhân, y tế cơ quan, sinh viên y khoa ra trường chưa xin được việc, có cơ hội làm việc, thực hành nghề y để họ có thể khởi nghiệp mở được phòng khám tư nhân.

  • Kính gởi cục khám  chữa  bệnh. Tôi có thắc mắc là tại  sao kỹ sư công nghệ sinh học hay nói chung nghành công nghệ sinh học  không được cấp chứng  chỉ hành nghề, mà những người nghành này đang họat  động trong lĩnh vực y học rất là nhiều, nếu  không mở lối cho chúng tôi thì khác nào chúng tôi đang hoạt động chui, và những người như chúng tôi khác nào đang vi phạm pháp luật.mong KcB có công văn hướng dẫn cụ  thể để chúng  tôi  an tâm làm việc 

  •        Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Bộ Y tế và Ban soạn thảo nghị định đã lắng nghe ý kiến đóng góp rộng rãi trong dân chúng, để Nghị định sau khi ban hành có thể áp dụng một cách thiết thực với cán bộ y tế chúng ta

           Tôi xin đóng góp một số ý kiến trong Chương II, mục 1, điều 6 như sau:
            Do đặc thù giảng dạy của ngành Công nghệ sinh học gắn liền với các phòng Thí nghiệm (sinh hóa, vi sinh…) Sinh viên Ngành Công nghệ sinh học ra trường có số lượng khá lớn làm công tác xét nghiệm trong các Bệnh viện, phòng khám đa khoa, phòng khám tư nhân… Ngoài ra, cử nhân Công nghệ sinh học được trang bị những kiến thức về sinh học thực nghiệm, sinh học phân tử… thực tế đáp ứng khá tốt với những kỹ thuật xét nghiệm ngày một tiến bộ ngày nay.

           Sẽ là bất hợp lý trong Nghị định ban hành, nếu cho phép cử nhân Sinh học được cấp CCHN, còn cử nhân Công nghệ sinh học lại không. Hiện tại không ít người đặt câu hỏi và bức xúc về vấn đề này. Ngoài ra cử nhân Công nghệ sinh học hoạt động trong phòng Xét nghiệm của các bệnh viện, phòng khám… những nơi trực tiếp phục vụ nhân dân, thường xuyên được kiểm tra gắt gao về các quy định, quy chế hoạt động mà lại không có CCHN, những cử nhân Công nghệ sinh học khó có thể yên tâm công tác, phục vụ ngành Y tế nước nhà.

           Nếu được Bộ lắng nghe và xem xét bổ sung vấn đề này sẽ là một nguồn khích lệ rất lớn với toàn bộ cử nhân Công nghệ sinh học nước ta.     

          Xin chân thành cảm ơn!

  • Hiện nay các bạn tốt nghiệp CN công nghệ sinh học có được cấp chứng chỉ hành nghề không ạ?

  • Kính thưa Ban soạn thảo Nghị định!
    Theo quy định tại điểm c, khoản 1, điều 9 của Thông tư 10/2015/TTLT-BYT-BNV quy định nhiệm vụ của Bs YHDP, trong đó có các nội dung sau: “Tham gia quản lý, chăm sóc tại cộng đồng: bệnh mãn tính, bệnh nghề nghiệp, bệnh xã hội và phục hồi chức năng;
    Khám, chữa bệnh thông thường và xử trí cấp cứu ban đầu;
    Khám, tư vấn và điều trị dự phòng theo quy định”.
    Tuy nhiên, theo như tại điểm 7, phụ lục 5 của Nghị định này Quy định phạm vi hoạt động chuyên môn ghi trên chứng chỉ hành nghề đối với bác sĩ Y học dự phòng là: “Phát hiện và xử trí các bệnh thông thường; xử trí ban đầu một số trường hợp cấp cứu tại cộng đồng”. Như vậy là chưa bao quát hết nhiệm vụ của bs YHDP trong lĩnh vực khám, chữa bệnh do Bộ đề ra.Chính vì thế mà hiện nay các bs YHDP đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc xin cấp CCHN, mặc dù có nhiều Bs đã có chứng chỉ chuyên khoa định hướng một số chuyên ngành và làm chuyên môn rất tốt.
    Kính mong Bộ Y tế, Ban soạn thảo Nghị định xem xét để chỉnh sửa cho phù hợp, giúp các bs YHDP đủ căn cứ pháp lý để yên tâm thực hiện nhiệm vụ và hoàn thành nhiệm vụ của mình do Bộ y tế quy định.
    Bên cạnh đó, chương trình đại học của Bs YHDP về các môn Y học cơ sở cũng được đào tạo như BSĐK. Sau khi tốt nghiệp ĐH, một số Bs YHDP đã học định hướng chuyên khoa này do nhu cầu đơn vị công tác.Bản thân tôi là 1 Bs YHDP ra trường 3 năm, về quê xin việc vào 1 bệnh viện chuyên khoa Tâm thần của tỉnh nhà, tuy nhiên khi làm hồ sơ cấp chứng chỉ hành nghề về lĩnh vực tâm thần không được. Và khi được hỏi nếu sau khi học xong Bs Chuyên khoa 1 or Thạc sĩ tâm thần về vẫn không được cấp chứng chỉ hành nghề khám chữa bệnh tâm thần. Như vậy có hợp lý không? Kính mong ban soạn thảo xem xét!

  • Kính thưa Ban soạn thảo Nghị định!
    Theo quy định tại điểm c, khoản 1, điều 9 của Thông tư 10/2015/TTLT-BYT-BNV quy định nhiệm vụ của Bs YHDP, trong đó có các nội dung sau: “Tham gia quản lý, chăm sóc tại cộng đồng: bệnh mãn tính, bệnh nghề nghiệp, bệnh xã hội và phục hồi chức năng;
    Khám, chữa bệnh thông thường và xử trí cấp cứu ban đầu;
    Khám, tư vấn và điều trị dự phòng theo quy định”.
    Tuy nhiên, theo như tại điểm 7, phụ lục 5 của Nghị định này Quy định phạm vi hoạt động chuyên môn ghi trên chứng chỉ hành nghề đối với bác sĩ Y học dự phòng là: “Phát hiện và xử trí các bệnh thông thường; xử trí ban đầu một số trường hợp cấp cứu tại cộng đồng”.
    Như vậy là chưa bao quát hết nhiệm vụ của bs YHDP trong lĩnh vực khám, chữa bệnh do Bộ đề ra.Chính vì thế mà hiện nay các bs YHDP đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc xin cấp CCHN, mặc dù có nhiều Bs đã có chứng chỉ chuyên khoa định hướng một số chuyên ngành và làm chuyên môn rất tốt.
    Kính mong Bộ Y tế, Ban soạn thảo Nghị định xem xét để chỉnh sửa cho phù hợp, giúp các bs YHDP đủ căn cứ pháp lý để yên tâm thực hiện nhiệm vụ và hoàn thành nhiệm vụ của mình do Bộ y tế quy định.
    Bên cạnh đó, chương trình đại học của Bs YHDP về các môn Y học cơ sở cũng được đào tạo như BSĐK. Sau khi tốt nghiệp ĐH, một số Bs YHDP đã học định hướng chuyên khoa này do nhu cầu đơn vị công tác.
    Bản thân tôi là 1 Bs YHDP ra trường 3 năm, về quê xin việc vào 1 bệnh viện chuyên khoa Tâm thần của tỉnh nhà, tuy nhiên khi làm hồ sơ cấp chứng chỉ hành nghề về lĩnh vực tâm thần không được. Và khi được hỏi nếu sau khi học xong Bs Chuyên khoa 1 or Thạc sĩ tâm thần về vẫn không được cấp chứng chỉ hành nghề khám chữa bệnh tâm thần. Như vậy có hợp lý không? Kính mong ban soạn thảo xem xét!

  • chúng em rất mong rằng cục QL KCB- BYT có thể ban hành công văn cho các Sở y tế kỹ cư CNSH có chứng chỉ về xét nghiệm được phép cấp CCHN như là cử nhân Sinh học ah. chỉ cần 1 công văn này chúng em được yên tâm làm việc phục vụ cho công tác KCB cho nhân dân. Giờ đợi thông tư sửa đổi thì không biết là đến khi nào mới được thực hiện ah!

  • Kính thưa Ban soạn thảo Nghị định!
    Theo quy định tại điểm c, khoản 1, điều 9 của Thông tư 10/2015/TTLT-BYT-BNV quy định nhiệm vụ của Bs YHDP, trong đó có các nội dung sau: “Tham gia quản lý, chăm sóc tại cộng đồng: bệnh mãn tính, bệnh nghề nghiệp, bệnh xã hội và phục hồi chức năng;
    Khám, chữa bệnh thông thường và xử trí cấp cứu ban đầu;
    Khám, tư vấn và điều trị dự phòng theo quy định”.
    Tuy nhiên, theo như tại điểm 7, phụ lục 5 của Nghị định này Quy định phạm vi hoạt động chuyên môn ghi trên chứng chỉ hành nghề đối với bác sĩ Y học dự phòng là: “Phát hiện và xử trí các bệnh thông thường; xử trí ban đầu một số trường hợp cấp cứu tại cộng đồng”. Như vậy là chưa bao quát hết nhiệm vụ của bs YHDP trong lĩnh vực khám, chữa bệnh do Bộ đề ra.Chính vì thế mà hiện nay các bs YHDP đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc xin cấp CCHN, mặc dù có nhiều Bs đã có chứng chỉ chuyên khoa định hướng một số chuyên ngành và làm chuyên môn rất tốt.
    Bản thân tôi là 1 bs yHdp đã học chuyên khoa định hướng tâm thần và hiện đang công tác tại 1 bệnh viện tâm thần tỉnh nhưng khi trình hồ sơ lên Sở y tế không được cấp chứng chỉ hành nghề. Kính mong Bộ Y tế, Ban soạn thảo Nghị định xem xét để chỉnh sửa cho phù hợp, giúp các bs YHDP đủ căn cứ pháp lý để yên tâm thực hiện nhiệm vụ và hoàn thành nhiệm vụ của mình do Bộ y tế quy định.

  • Kính gửi: Bộ Y tế; Cục khám chữa bệnh.-   Theo quy định tại điểm c, khoản 1, điều 9 của Thông tư 10/2015/TTLT-BYT-BNV quy định nhiệm vụ của Bs YHDP, trong đó có các nội dung sau: “Tham gia quản lý, chăm sóc tại cộng đồng: bệnh mãn tính, bệnh nghề nghiệp, bệnh xã hội và phục hồi chức năng;
    Khám, chữa bệnh thông thường và xử trí cấp cứu ban đầu;
    Khám, tư vấn và điều trị dự phòng theo quy định”.
        – Tuy nhiên, theo như tại điểm 7, phụ lục 5 của Nghị định này Quy định phạm vi hoạt động chuyên môn ghi trên chứng chỉ hành nghề đối với bác sĩ Y học dự phòng là: “Phát hiện và xử trí các bệnh thông thường; xử trí ban đầu một số trường hợp cấp cứu tại cộng đồng”.     Như vậy em có một số ý kiến như sau: + Giữa hai quy định này không thống nhất quan điểm, ngôn từ còn chung chung không cụ thể.+ Nếu được khám, tư vấn và điều trị dự phòng theo quy định thì BSDP phải tuân theo quy nào?+ Trong khi đó phạm vi trên chứng chỉ hành nghề lại không có khám và chữa bệnh.+ Nếu khám phát hiện xử trí bệnh thông thường thì bệnh thông thường ở đây là những bệnh nào? + Nếu cấp cứu tại cộng đồng thì bác sĩ YHDP sẽ thực hành ở đâu để có giấy chứng nhận thực hành các bệnh thông thường?+ Nếu đã được khám phát hiện xử trí ban đầu thì bác sĩ dự phòng làm việc ở những đơn vị nào trong khi các trung tâm dự phòng không có khu khám chữa bệnh, bệnh viện thì không tiếp nhận nếu không có chứng chỉ hành nghề.- Một điều bất cập em xin được chia sẻ đối với ngành dự phòng là:+ Cũng gọi là bác sĩ, được đào tạo cơ bản về y khoa 5 năm như đa khoa thêm 1 năm đào tạo sâu hơn về quản lý, cộng đồng nhưng khi ra đi làm hầu như chuyên ngành này bị kỳ thị vì không cơ quan nào biết cái ngành này nó phục vụ ở đâu thì phù hợp. + Có những bác sĩ dp làm tại bệnh viện thì chứng chỉ hành nghề không được cấp phù hợp với yêu cầu, còn các bác sĩ dp tại trung tâm dự phòng thì không có giấy thực hành để được cấp chứng chỉ, + Những bác sĩ dp có được đi học định hướng các chuyên khoa lâm sàng nhưng lại không được học chuyên khoa 1, thạc sĩ,, về các chuyên ngành lâm sàng hoặc có học thì về các sở không dám cấp chứng chỉ hành nghề.+ Theo em đã gọi là bác sĩ thì nên được khám chữa bệnh, còn không thì không nên dùng từ bác sĩ.      Như vậy ngành bác sĩ dự phòng không hề có một quyền lợi chính đáng nào khi bị hạn chế về quá nhiều mảng. thậm chí còn không thể có được quyền lợi như y sĩ học lên chuyên tu chứ chưa nói gì bằng BS chuyên tu.Nên em rất mong quý Bộ trưởng xem xét để có thể đồng bộ một cách cụ thể các ngành nghề trong lĩnh vực y tế, đảm bảo được cho chính con em của mình những quyền lợi chính đáng.

  • tôi tốt nghiệp cử nhân kỹ thuật y học tại trường Đại học Y Hà Nội, đã làm việc trên 2 năm ở bệnh viện đa khoa Đông Anh. Hôm trước tôi có đi làm chứng chỉ hành nghề thì trong phần văn bằng chuyên môn của CCHN ghi là: kỹ thuật viên, phần phạm vi hoạt động chuyên môn ghi là: kỹ thuật viên xét nghiệm. Nhưng theo tôi đọc phần phụ lục 4b trong thông tư thì ghi khác. Như vậy có phải Cục quản lý KCB đã có nhầm lẫn khi cấp CCHN cho tôi không? 
    Tôi rất mong nhận được phản hồi cho câu hỏi của tôi vì khi có thắc mắc tôi không biết hỏi ai. xXn chân thành cảm ơn!

  • tôi tốt nghiệp cử nhân kỹ thuật y học tại trường Đại học Y Hà Nội, đã làm việc trên 2 năm ở bệnh viện đa khoa Đông Anh. Hôm trước tôi có đi làm chứng chỉ hành nghề thì trong phần văn bằng chuyên môn của CCHN ghi là: kỹ thuật viên, phần phạm vi hoạt động chuyên môn ghi là: kỹ thuật viên xét nghiệm. Nhưng theo tôi đọc phần phụ lục 4b trong thông tư thì ghi khác. Như vậy có phải Cục quản lý KCB đã có nhầm lẫn khi cấp CCHN cho tôi không? 
    Tôi rất mong nhận được phản hồi cho câu hỏi của tôi vì khi có thắc mắc tôi không biết hỏi ai. xin chân thành cảm ơn!

  • Kính gởi cục khám chữa bệnh. Cho tôi hỏi tại sao nghành công nghệ sinh học(kỹ sư, cử nhân)không được cấp, trong khi đó thỏang mãn những yên cầu của thông tư đưa ra, trong khi đó nói cho phép nghành công nghệ  sinh học làm việc cận lâm sàng nhưng không cấp chứng chỉ hành nghề có phải là điều bất cập lắm không, kính mong cục khám chữa bệnh phải có hướng tháo gở cho nghành công nghệ sinh học

    • Hiện nay đời sống của cán bộ y tế khó khăn, kể cả Giám đốc TTYT huyện trong sạch, nhưng Bộ Y tế không cho Giám đốc các TTYT được đứng tên chịu trách nhiệm kỹ thuật của Phòng khám ngoài giờ. Điều này hết sức thiệt thoài cho các đồng chí làm lãnh đạo, công việc nhiều, trách nhiệm nhiều, nhưng thiệt thoài nhiều. Kính đề nghị Bộ y tế cho phép Giám đốc các Trung tâm y tế huyện được đứng tên chịu trách nhiệm kỹ thuật phòng khám ngoài giờ để nuôi sống bản thân, gia đình và con cái

  • Hiện nay đời sống của cán bộ y tế khó khăn, kể cả Giám đốc TTYT huyện trong sạch, nhưng Bộ Y tế không cho Giám đốc các TTYT được đứng tên chịu trách nhiệm kỹ thuật của Phòng khám ngoài giờ. Điều này hết sức thiệt thoài cho các đồng chí làm lãnh đạo, công việc nhiều, trách nhiệm nhiều, nhưng thiệt thoài nhiều. Kính đề nghị Bộ y tế cho phép Giám đốc các Trung tâm y tế huyện được đứng tên chịu trách nhiệm kỹ thuật phòng khám ngoài giờ để nuôi sống bản thân, gia đình và con cái

  • Dạ cho em hỏi vì sao phần nhập khảo sát hài lòng người bệnh chỉ nhập được 02 phiếu thôi 

  • Kính gửi các ngành chức năng!Hiện nay có trường thì cấp bằng kỹ sư CNSH, CN CNSH. lượng nhân viên học ngành CNSH làm ở các đơn vị y tế rất nhiều, nếu chỉ cấp chứng chỉ hành nghề cho CN sinh học thì thiệt thòi cho KS CNSH và CN CNSH lắm ạ, mong các ngành chức năng xem xét giải quyết!

  • kính mong cục khám chữa bệnh sớm có công văn hướng dẫn cho kỹ sư (cư nhân)nghành công nghệ sinh học để làm chứng chỉ hành nghề. những người đang hoạt động trong lĩnh vực y học rất lo lắng về vấn đề chứng chỉ hành nghề, trong khi đó cho làm việc mà không cho cấp chứng chỉ hành nghề có phi lý không?

  • kính mong cục khám chữa bệnh sớm có công văn hướng dẫn cho kỹ sư (cử nhân) nghành công nghệ sinh học để làm chứng chỉ hành nghề. những người đang hoạt động trong lĩnh vực y học rất lo lắng về vấn đề chứng chỉ hành nghề, trong khi đó cho làm việc mà không cho cấp chứng chỉ hành nghề có phi lý không?

  • Kính gửi : Các ban ngành có liên quan
    Hiện nay số lượng kỹ sư, cử nhân công nghệ sinh học làm trong lĩnh vực y tế rất nhiều. Trong khi họ được đào tạo gần giống vối cử nhân sinh học nhưng thiên về ứng dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Ngành y càng cần phải áp dụng công nghệ tiên tiến của thế giới. Công tác trong ngành y lâu dài nhưng cử nhân CNSH không được làm chứng chỉ hành nghề là một thiệt thòi rất lớn. Nếu vì 2 chữ Công Nghệ mà không được cấp chứng chỉ hành nghề thì các Trường Đại Học phải bỏ 2 chữ Công nghệ cho sinh viên mình có nhiều cơ hội làm việc trong ngành y hơn. Đề nghị Bộ y tế nên xem xét đưa Công Nghệ Sinh Học vào Nghị định rõ ràng. Xin cảm ơn!

  • Kính thưa Ban soạn thảo Nghị định!
    Theo quy định tại điểm c, khoản 1, điều 9 của Thông tư 10/2015/TTLT-BYT-BNV quy định nhiệm vụ của Bs YHDP, trong đó có các nội dung sau: “Tham gia quản lý, chăm sóc tại cộng đồng: bệnh mãn tính, bệnh nghề nghiệp, bệnh xã hội và phục hồi chức năng;
    Khám, chữa bệnh thông thường và xử trí cấp cứu ban đầu;
    Khám, tư vấn và điều trị dự phòng theo quy định”.
    Tuy nhiên, theo như tại điểm 7, phụ lục 5 của Nghị định này Quy định phạm vi hoạt động chuyên môn ghi trên chứng chỉ hành nghề đối với bác sĩ Y học dự phòng là: “Phát hiện và xử trí các bệnh thông thường; xử trí ban đầu một số trường hợp cấp cứu tại cộng đồng”. Như vậy là chưa bao quát hết nhiệm vụ của bs YHDP trong lĩnh vực khám, chữa bệnh do Bộ đề ra.Chính vì thế mà hiện nay các bs YHDP đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc xin cấp CCHN. Bản thân tôi là 1 Bác sĩ YHDP đang công tác tại 1 Bệnh viện chuyên khoa tâm thần tuyến tỉnh, tuy nhiên khi làm hồ sơ thủ tục xin cấp CCHN thì Sở y tế trực thuộc không cho phép cấp và trả lời rằng dù có học Chuyên khoa cấp 1 về cũng không được cấp chứng chỉ hành nghề vì theo thông tư 41 cấp chứng chỉ hành nghề theo văn bằng tốt nghiệp đại học. Mong ban soạn thảo có quy định cụ thể thật rõ ràng để thống nhất vì 1 số tỉnh được cấp và 1 số tỉnh không cấp. Rất bất cập,Xin chân thành cảm ơn!

  • Kính gửi: – Ngài Thủ tướng Chinh phủ.
    – Bà Bộ trưởng Bộ Y tế.
    – Ban soạn thảo nghị định.
    – Cùng toàn thể các Giao sư. Bác sĩ và các đồng nghiệp chuyên nghành CĐHA.

    Tôi tên là Nguyễn Văn Chu, Cử nhân CĐHA, công tác tại khoa CĐHA Bệnh viện ĐK tỉnh Quảng Ngãi, chức vụ hiện tại: Phó trưởng khoa, Phụ trách khoa.
    Tôi xin trình bày cùng quý cấp như sau:
    – Năm 1980, tôi tốt nghiệp KTV trung cấp X quang về công tác tạ BV tỉnh Quảng Ngãi, trong khoa có 4 KTV sơ cấp cùng 1 KTV trung cấp về cùng khóa với tôi, tổng cọng có 6 KTV đẫ phải đảm nhận tất cả các công việc từ chụp phim, đọc phim của đơn vị, nhưng công việc nặng nhọc và trách nhiệm nặng nề nhất là soi chiếu X quang (vì lúc đó phim rất hiếm) chúng tôi 2 KTV trung cấp vẫn hoàn thành.
    – Năm 1992, tôi tốt nghiệp Cử nhân Đại học, BGĐ bệnh viện cử tôi Phụ trách khoa và chúng tôi cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn của khoa.
    – Trong thời gian học trung cấp và đại học, tôi đều có học học phần bệnh học và chẩn đoán X quang.
    – Trong thời gian công tác 36 năm qua, trong chuyên môn thế nào cũng có sai sót nhưng chưa bao giờ xãy ra nghiêm trọng ảnh hưởng đến điều trị và tính mạng bệnh nhân.
    – Theo tôi thiết nghĩ, điều 34 của nghị định nên cho Cử nhân đại học được mở phòng chụp X quang (không mở phòng CĐHA: có CT Scan, MRI, Siêu âm. Không dùng thuốc cản quang tỉnh mạch, không dùng X quang can thiệp) vì:
    + Dùng X quang chẩn đoán không can thiệp thì không nguy hiểm đến tính mạng BN như các phòng khám Xét nghiệm, nhà hộ sinh…
    + Cử nhân X Quang, theo thông tư 41-2015 và dự thảo nghị định này quy định CN Đại học được đọc và mô tả hình ảnh, không kết luận chẩn đoán là đúng tinh thần chúng tôi xin được mở phòng chụp X quang. Vì muốn kết luận bệnh cần phải có đầy đủ các yếu tố: Khám Lâm sàng, các xét nghiệm thường quy và chuyên sâu, các kỹ thuật cao……riêng phim x quang thì không thể kết luận chẩn đoán bệnh được.
    + Việc được mở phòng chụp X quang sẽ giúp chúng tôi cải thiện đời sống trong điều kiện lương thưởng hiện tại quá thấp, không đảm bảo chi tiêu cho gia đình và cho con cái ăn học. Tạo động lực cho KTV trung cấp và học sinh phổ thông có lý do học nghề này. Riêng bản thân tôi, đã gần đến ngày nghỉ hưu (01.7.2016) có điều kiện tham gia công việc xã hội hóa ngành Y tế phục vụ người bệnh, tạo thu nhập thêm cho cuộc sống với lương hưu chưa được 4 triệu đồng.
    Kính mong được sự quan tâm của Quý cấp và ban soạn thảo Nghị định.
    Xin cảm ơn

  • kính mong ban soạn thỏa và các lãnh đạo Bộ yte xem xét quyết định cho công bằng và hợp tình hợp lý. các cử nhân các ngành khác được con cu nhăn xquang thì không được

  • kính gởi bộ y tế
    Trong dự thảo tôi thấy không nhắc tới đối tượng thạc sĩ và tiến sĩ. Lẽ nào 2 đối tượng này không được công nhận trong hệ thóng y tế nước ta mặc dù chương trình đào tạo cũng bao gồm thực hành? Nếu bộ không công nhận, tôi xin đề nghị xóa bỏ hình thức đào tạo này vì gây lãng phí thời gian, công sức người học và cơ sở đào tạo.

    • Đề nghị Cục quản lý KCB đưa thêm phần cấp chứng chỉ hành nghề cho những ai học xong sau đại học bao gồm: BSNT, chuyên khoa cấp I, cấp II và tất nhiên quý vị lại quên đi Thạc sỹ, thạc sỹ học chuyên ngành lâm sàng vẫn có thời gian học chứng chỉ và thời gian thực hành tại bệnh viện, tham gia làm đề tài, cũng khám chữa bệnh… nên không thể một thạc sỹ sau khi học xong lại không được cấp chứng chỉ hành nghề??? Quá vô lý

  • Hiện nay số lượng cử nhân công nghệ sinh học làm trong lĩnh vực y tế rất nhiều. Trong khi họ được đào tạo gần giống vối cử nhân sinh học nhưng thiên về ứng dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật .Ngành y càng cần phải áp dụng công nghệ tiên tiến của xã hội. Công tác trong ngành y lâu dài nhưng cử nhân CNSH không được làm chứng chỉ hành nghề là một thiệt thòi rất lớn. Nếu vì 2 chữ Công Nghệ mà không được cấp chứng chỉ hành nghề thì các Trường Đại Học phải bỏ 2 chữ Công nghệ cho sinh viên mình có nhiều cơ hội làm việc trong ngành y hơn. Đề nghị Bộ y tế xem xét đưa vào Nghị định rõ ràng. Xin cảm ơn!

  • Mong Kcb xem lại, nghành kỹ sư, cử nhân công nghệ sinh học đang làm trong các bv rất nhiều và cũng nghành chuyên sinh học mà tại sao ko cũng dược chứng chỉ hành nghề, trong khi đó công nghệ sinh học , học những kỹ thuật tiên tiên,hiện đại hơn bên nghành cử nhân sinh.mong kcb có quýêt định đúng.

    • Mi nghiên cứu dự thảo kỹ chưa, mi ở mô rứa mà đồng ý vậy.

  • Kính gởi Kcb. Tôi muốn hỏi là theo thông tư 41 sửa đổi bổ sung là chuyên ngành sinh học được cấp chứng chỉ hành nghề, mà sao chỉ có cử nhân sinh học được cấp,còn kỹ sư, cử nhân công nghệ sinh học không được.chẳng lẻ nghành công nghệ sinh học không phải chuyên sinh,trong khi đó nghành công nghệ sinh học là nghành học rất nhiều kỹ thuật hiện đại( sinh học ptử, pcr….).mà trong y kỹ sư ,cư nhân công nghệ sinh học làm rất nhiều, cử nhân hay kỹ sư cũng là 1 bậc đại học, tại sao có sự phân biệt.kính mong  cục kcb sớm có chỉ đạo để những người kỹ sư, cử nhân công nghệ sinh học đang làm yên tâm hơn

  • Mong Kcb  xem lại, nghành kỹ sư, cử nhân  công nghệ sinh học đang làm trong các bv rất nhiều và cũng nghành chuyên sinh học mà tại sao ko cũng dược chứng chỉ hành nghề, trong khi đó công nghệ sinh học , học những kỹ thuật tiên tiên,hiện đại hơn bên nghành cử nhân sinh.mong kcb  có quýêt định đúng.

  • E là công Nghệ Sinh Học, E đã có chứng chỉ bồi dưỡng xét nghiệm 1 năm của trường DH Y Dược TPHCM. E đã làm việc hơn 5 năm trong phòng Xét nghiệm. Ngày 11.03.2016 em lên SYT nộp hồ sơ làm CCHN thì họ trả lời công nghệ sinh học không được cấp CCHN. E hỏi vì sao thông tư sửa đổi đã cấp được CCHN cho sinh hoc, hóa học tại sao lại không cấp. E rất ngạc nhiên khi nhận được câu trả lời của họ là “thông tư chỉ ghi cấp CCHN cho sinh học chứ không có chữ Công Nghệ” nên họ không giải quyết cho Công Nghệ Sinh Học. Vậy cho em hỏi:cử nhân Sinh học và Công Nghệ Sinh Học  khác nhau như thế nào mà tại sao cấp CCHN cho Sinh Học mà không cấp cho Công Nghệ Sinh Học.
    Nếu không cấp CCHN cho công nghệ sinh học thì tất cả những người hiện tại đang làm xét nghiệm chui hay sao ạ? có những người đã làm hơn 20 năm trong phòng xét nghiệm của bệnh viện và pk lớn.
    Nếu không cấp CCHN cho thì tại sao các trường DH Y Dược lại đào tạo và cấp chứng chỉ bồi dưỡng xét nghiệm cho CNSH để làm gì?
    Em thay mặt toàn thể các bạn CNSH rất mong cục khám chữa bệnh giải quyết vấn đề này sớm cho chúng em để chúng em an tâm làm việc. Chúng em đã chờ đợi lâu lắm rồi.

  • E là công Nghệ Sinh Học, E đã có chứng chỉ bồi dưỡng xét nghiệm 1 năm của trường DH Y Dược TPHCM. E đã làm việc hơn 5 năm trong phòng Xét nghiệm. Ngày 11.03.2016 em lên SYT nộp hồ sơ làm CCHN thì họ trả lời công nghệ sinh học không được cấp CCHN. E hỏi vì sao thông tư sửa đổi đã cấp được CCHN cho sinh hoc, hóa học tại sao lại không cấp. E rất ngạc nhiên khi nhận được câu trả lời của họ là “thông tư chỉ ghi cấp CCHN cho sinh học chứ không có chữ Công Nghệ” nên họ không giải quyết cho Công Nghệ Sinh Học. Vậy cho em hỏi:cử nhân Sinh học và Công Nghệ Sinh Học  khác nhau như thế nào mà tại sao cấp CCHN cho Sinh Học mà không cấp cho Công Nghệ Sinh Học.
    Nếu không cấp CCHN cho công nghệ sinh học thì tất cả những người hiện tại đang làm xét nghiệm chui hay sao ạ? có những người đã làm hơn 20 năm trong phòng xét nghiệm của bệnh viện và pk lớn.
    Nếu không cấp CCHN cho thì tại sao các trường DH Y Dược lại đào tạo và cấp chứng chỉ bồi dưỡng xét nghiệm cho Công Nghệ Sinh Học để làm gì?
    Em thay mặt toàn thể các bạn CNSH rất mong cục khám chữa bệnh giải quyết vấn đề này sớm cho chúng em để chúng em an tâm làm việc. Chúng em đã chờ đợi lâu lắm rồi.

  • Anh em cử  nhân đại học chẩn đoán hình ảnh ra trường mỗi người mỗi cơ quan công tác trong nhiều lĩnh vực như siêu âm,xquang,cắt lớp.hiện giờ rất nhiều anh em làm siêu âm ở bệnh viện nhà nước trên 10 kinh nghiệm chuyên môn rất tốt cơ mà làm thêm siêu âm ngoài giờ lại phải làm chui(pháp luật không cho phép)vậy nên sửa đổi bổ sung là đứng tên phòng chẩn đoán hình ảnh và được ký các kết luận chẩn đoán hình ảnh thì đúng hơn ạ.

  • Kính gửi Cục Quản lý Khám, chữa bệnhChúng tôi làm ở trung tâm y tế huyện, trong dự thảo lại không đưa trung tâm y tế huyện vào các cơ sở khám bệnh, chưa bệnh tại Điều 25, đề nghị Ban soạn thảo đưa vào cho khôn thiếu.

    • KÍnh mong CKCB và Ban soạn thảo Nghị định sửa lại: ngành Kỹ sư công nghệ sinh học có thể được cấp chứng chỉ hành nghề. có rất nhiều người học ngành KSCNSH ra trường, học chuyên khoa định hướng xét nghiệm tại ĐHYHN và làm tại các phòng xét nghiệm ở các viện từ trung ương tới tuyến huyện hiện nay không được cấp CCHN. XIn hỏi nếu không được cấp CCHN chúng tôi làm việc kiểu gì. Và cử nhân hóa học, sinh học được cấp tại sao kỹ sư công nghệ sinh học lại không được cấp. KÍnh mong ban soạn thảo xem xét lại. Xin cảm ơn.

  • KÍnh mong CKCB và Ban soạn thảo Nghị định sửa lại: ngành Kỹ sư công nghệ sinh học có thể được cấp chứng chỉ hành nghề. có rất nhiều người học ngành KSCNSH ra trường, học chuyên khoa định hướng xét nghiệm tại ĐHYHN và  làm tại các phòng xét nghiệm ở các viện từ trung ương tới tuyến huyện hiện nay không được cấp CCHN. XIn hỏi nếu không được cấp CCHN chúng tôi làm việc kiểu gì. Và cử nhân hóa học, sinh học được cấp tại sao kỹ sư công nghệ sinh học lại không được cấp. KÍnh mong ban soạn thảo xem xét lại. Xin cảm ơn.

  • Kính thưa Bộ trưởng Bộ Y tế!Kính thưa Ban soạn thảo Nghị định!

    Theo quy định tại điểm c, khoản 1, điều 9 của Thông tư 10/2015/TTLT-BYT-BNV quy định nhiệm vụ của Bs YHDP, trong đó có các nội dung sau: “Tham gia quản lý, chăm sóc tại cộng đồng: bệnh mãn tính, bệnh nghề nghiệp, bệnh xã hội và phục hồi chức năng;

    Khám, chữa bệnh thông thường và xử trí cấp cứu ban đầu;

    Khám, tư vấn và điều trị dự phòng theo quy định”.

    Tuy nhiên, theo như tại điểm 7, phụ lục 5 của Nghị định này Quy định phạm vi hoạt động chuyên môn ghi trên chứng chỉ hành nghề đối với bác sĩ Y học dự phòng là: “Phát hiện và xử trí các bệnh thông thường; xử trí ban đầu một số trường hợp cấp cứu tại cộng đồng”. Như vậy là chưa bao quát hết nhiệm vụ của bs YHDP trong lĩnh vực khám, chữa bệnh do Bộ đề ra.Chính vì thế mà hiện nay các bs YHDP đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc xin cấp CCHN, mặc dù có nhiều Bs đã có chứng chỉ chuyên khoa định hướng một số chuyên ngành và làm chuyên môn rất tốt.

    Kính mong Bộ Y tế, Ban soạn thảo Nghị định xem xét để chỉnh sửa cho phù hợp, giúp các bs YHDP đủ căn cứ pháp lý để yên tâm thực hiện nhiệm vụ và hoàn thành nhiệm vụ của mình do Bộ y tế quy định.

    Bên cạnh đó, chương trình đại học của Bs YHDP về các môn Y học cơ sở cũng được đào tạo như BSĐK. Sau khi tốt nghiệp ĐH, một số Bs YHDP đã học định hướng chuyên khoa này do nhu cầu đơn vị công tác. Tuy nhiên, nếu căn cứ theo Nghị định này thì các bs cũng không được cấp CCHN Xét nghiệm. Điều này là chưa thỏa đáng vì các cử nhân hóa, cử nhân sinh…vẫn được hành nghề xét nghiệm nếu học thêm tối thiểu 3 tháng trong lĩnh vực XN và có đủ thời gian thực hành; trong khi Bs YHDP thì không được. Trong khi đó, hiện nay tại các BV tuyến huyện, thậm chí cả tuyến tỉnh vẫn thiếu bs xét nghiệm rất nhiều (do BSĐK rất ít người theo chuyên ngành này). 

    Kính mong Bộ trưởng, Ban soạn thảo lưu tâm, xem xét để các Bs YHDP có căn cứ pháp lý thực hiện nhiệm vụ, cũng là để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các đơn vị tuyến dưới!

    Kính chúc Bộ trưởng, Ban soạn thảo sức khỏe, hạnh phúc!

    Xin chân thành cảm ơn!

  • Tôi công tác trong nghành CĐHẢ lâu năm .Kính mong Ban lãnh đạo Bộ Y Tế xem xét cho chúng tôi được mở cơ sở phòng chụp XQUang để cải tạo cuộc sống cần thiết của chúng tôi vì chúng tôi củng qua chương trình ĐẠI HỌC như nghành XÉT NGHIỆM,PHỤ SẢN nhưng các nghành kia được mở tại sao chúng tôi không được mở? Chúng tôi rất mong được sự xem xét,chấp thuận cho chúng tôi được toại nguyện lo cuộc sống-và cho nghành HÌNH ẢNH ngày càng phát triển, Anh em an tâm công tác.                 Kính chào và cám ơn.

  • Kính gửi: – Bộ trưởng Bộ Y tế.
    – Các Thứ trưởng Bộ Y tế.
    – Cục trưởng Cục quản lý khám chữa bệnh, Bộ Y tế.
    – Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Y tế.
    – Cục Khoa học Công nghệ và Đào tạo Bộ Y tế.
    – Chủ tịch Hội Chẩn đoán hình ảnh Việt Nam.
    – Hội đồng cố vấn và Ban soạn thảo Nghị định Hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám chữa bệnh.
    – Ban Giám đốc, Phòng TCCB, Phòng Nghiệp vụ các Sở Y tế trên toàn quốc.
    – Các Giáo sư, Bác sỹ và các đồng nghiêp là Cử nhân ĐH Chẩn đoán hình ảnh trên toàn quốc.

    Tôi tên là Nguyễn Văn Chu, Cử nhân ĐH ngành CĐHA, công tác tại khoa CĐHA Bệnh viên đa khoa tỉnh Quảng Ngãi. Chức vụ Phó khoa, Phụ trách khoa. Thời gian công tác 36 năm trong đó có 24 năm làm công tác lãnh đạo.
    Kính thưa quý vị, từ ngày có dự thảo nghị định, chúng tôi là các Cử nhân ĐH ngành CĐHA trên toàn quốc đã có nhiều góp ý trên diễn đàn dự thảo. Nhưng không chắc quý vị đã đọc hết và đồng thuận cho nỗi niềm của chúng tôi, Vì vậy tôi viết thư này lần nữa xin gửi để mong được sự đồng thuận chung cho chúng tôi được mở “Phòng chụp X quang”, kết quả xác định bệnh do Bác sỹ Lâm sàng chỉ định kết luận (Chỉ chụp X quang, không khám lâm sàng, không chụp CT Scan, MRI, Siêu âm… không dùng thuốc cản quang tiêm tỉnh mạch, không X quang can thiệp…)
    Chúng tôi thiết nghĩ:
    – Chúng tôi học nghề, làm nghề thì phải sống được với nghề như các ngành khác như Xét nghiệm, Răng, Nữ hộ sinh… phải cho chúng tôi được mở phòng chụp X quang để chúng tôi có thêm thu nhập tạo điều kiện sống và giúp đỡ gia đình, nuôi con ăn học, tích cốp phòng khi bệnh tật, tai nạn… ngoài đồng lương ít ỏi của Nhà nước.
    – Chúng tôi muốn đóng góp nhiều hơn nữa cho ngành y tế sau khi về hưu bằng hình thức xã hội hóa, y tế tư nhân sau bao năm làm việc và tích lũy kinh nghiệm.
    – Chúng tôi tốt nghiệp THPT (hệ chính quy), thi vào trường Trung học Y tế Trung ương (toàn quốc có 3 trường: TW1, TW2, TW3) đã học 3 năm trung cấp, đi làm, học 4 năm ĐH lấy được bằng Cử nhân và cũng rất muốn học nhiều hơn nữa nhưng Nhà nước, Bộ không cho chúng tôi con đường tiến thân bằng các khóa học trên ĐH, không như các ngành khác: Y sỹ (trường tỉnh tuyển học sinh THCS)  Bác sỹ  Thạc sỹ  Tiến sỹ. Vì thế chúng tôi phải dậm chân tại chổ với tấm bằng Cử nhân và yêu nghề, yêu công việc mà mình đã chọn, thế mà cuối đời phải sống nhờ những đồng lương hưu còm cỏi, không có tích lũy phòng lúc sa cơ bệnh tật, tai nạn…
    – Ngành X quang là một nghề độc hại, không những độc hại cho bản thân mà còn cho các thế hệ con cháu. Bản thân tôi, đã từng đi điều trị tại BV Bạch Mai, BV Chợ Rẫy, Viện huyết học TP HCM… mổ u cột sống (Lymphoma cột sống) và hiện tại đang hưởng chế độ phụ cấp bệnh nghề nghiệp. Nhân viên làm việc ngành X quang được hưởng chế độ phụ cấp độc hại 0.4, thế nhưng khi nghỉ hưu không còn được hưởng chế độ bồi dưỡng, nếu bị bệnh nhẹ thì trông chờ vào BHYT nhưng bệnh nặng, bệnh nghề nghiệp (phát sinh sau nghỉ hưu) phải điều trị dài hạn hoặc chuyển tuyến thì không biết trông nhờ vào đâu.
    – Thực tế nhân lực ở các tuyên tỉnh đặc biệt là tuyến huyện rất thiếu, lấy đâu ra Bác sỹ CĐHA để thực hiện tốt Thông tư 41-2011, thông tư 41-2015 và Nghị định này. Ngay tại khoa CĐHA Bệnh viện tỉnh Quảng Ngãi của chúng tôi có đến 9 BS mà vừa phải khám Siêu âm, đọc MRI, đọc CT Scan và đọc phim X quang rồi còn phải trực, nghỉ trực, nghỉ phép, nghỉ ốm (thai sản), đi học…việc đọc phim X quang lâu nay và hiện tại được phân công cho Cử nhân ĐH đọc, BS CĐHA chỉ ký để thanh toán BHYT. Thế nhưng trong góp ý dự thảo chúng tôi không thấy Sở Y tế hoặc Bệnh viện nào lên tiếng. Nhân đây tôi xin đề nghị Bộ Y tế vi hành xuống các tỉnh để nắm thực tế nhân lực ở các địa phương, tôi được biết ngày 13 và 14 tháng 6 này có Đoàn Bộ về làm việc với Bệnh viện ĐK tỉnh Quảng Ngãi, Xin mời Quý vị ghé qua khoa chúng tôi và xem lịch phân công công việc hàng ngày thì sẽ rõ (chúng tôi còn lưu lịch 2015 và 2016).
    Mấy dòng tâm sư nổi niềm khổ đau của tập thể Cử nhân ĐH ngành CĐHA trên đây đến quý vị, chúng tôi chỉ mong được sự đồng thuận cho chúng tôi con đường sống tốt với nghề nghiệp bằng cách đồng ý cho chúng tôi được mở Phòng chụp X quang qui ước. Xin cám ơn quý vị đã đọc thư này và đồng thuận cho chúng tôi.
    Quảng Ngãi, ngày 06 tháng 6 năm 2016
    Kính thư