Nghị định Hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Góp ý dự thảo Nghị định của Chính phủ Hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

>> Dự thảo Nghị định và Phụ lục

DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH
Hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
_________

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật đầu tư ngày 26 tháng 11 năm 2014;
Căn cứ Luật Khám bệnh, chữa bệnh ngày 23 tháng 11 năm 2009;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Y tế,

NGHỊ ĐỊNH:
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Nghị định này quy định về:
1. Các hình thức tổ chức của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; các hình thức tổ chức cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong quân đội.
2. Điều kiện, hồ sơ, thủ tục cấp, cấp lại, điều chỉnh chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh (sau đây gọi tắt là người hành nghề).
3. Điều kiện, hồ sơ, thủ tục cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Điều 2. Đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước, bao gồm cả các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc công an và quân đội (sau đây gọi chung là tổ chức, cá nhân), tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện các hoạt động liên quan đến khám bệnh, chữa bệnh tại Việt Nam.

Điều 3. Giải thích từ ngữ
1. Thời gian thực hành khám bệnh, chữa bệnh để cấp chứng chỉ hành nghề là thời gian người đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh liên tục sau khi được cấp văn bằng chuyên môn (xác định từ thời điểm ký kết hợp đồng lao động hoặc có quyết định tuyển dụng bao gồm cả thời gian thử việc được ghi trong Hợp đồng lao động, quyết định tuyển dụng hoặc ký kết hợp đồng thực hành tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh) đến ngày đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề, bao gồm cả thời gian học định hướng chuyên khoa hoặc sau đại học (bác sĩ nội trú, chuyên khoa cấp I, chuyên khoa cấp II) theo đúng chuyên khoa mà người đó đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề.
2. Thời gian khám bệnh, chữa bệnh để làm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật hoặc người phụ trách khoa, phòng, bộ phận chuyên môn (sau đây gọi tắt là khoa) là thời gian trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh kể từ ngày người đó được cấp văn bằng chuyên môn (xác định từ thời điểm ký kết hợp đồng lao động hoặc có quyết định tuyển dụng) đến ngày được phân công, bổ nhiệm làm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật hoặc người phụ trách khoa, bao gồm cả thời gian học định hướng chuyên khoa hoặc sau đại học (bác sĩ nội trú, chuyên khoa cấp I, chuyên khoa cấp II) theo đúng chuyên khoa mà người đó được phân công, bổ nhiệm.
3. Thời gian làm việc: người hành nghề được đăng ký thời gian làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh toàn thời gian hoặc một phần thời gian nhưng phải theo quy định của pháp luật về lao động.
a) Người làm việc toàn thời gian là người làm việc liên tục ít nhất 8 giờ/ngày trong thời gian hoạt động mà cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã đăng ký hoặc người làm việc đầy đủ thời gian mà cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đăng ký hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đăng ký hoạt động có thời gian ít hơn 8 giờ/ngày. Ví dụ:
– Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đăng ký thời gian hoạt động là 24 giờ/ngày và 07 ngày/tuần thì người làm việc toàn thời gian tại bệnh viện phải là người làm việc liên tục ít nhất 8 giờ/ngày phù hợp với quy định của pháp luật về lao động.
– Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đăng ký thời gian hoạt động 09h00 – 16h00 và 07 ngày/tuần thì người làm việc toàn thời gian tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải là người làm việc đầy đủ thời gian mà cơ sở đăng ký hoạt động phù hợp với quy định của pháp luật về lao động.
b) Người làm việc một phần thời gian là người đăng ký làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng không đủ thời gian quy định tại Điểm a Khoản này.

Điều 4. Nguyên tắc hướng dẫn và áp dụng pháp luật
1. Nghị định này hướng dẫn những điều, khoản, điểm mà Luật khám bệnh, chữa bệnh và Nghị định số 87/2011/NĐ-CP ngày 27 tháng 9 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật khám bệnh, chữa bệnh (sau đây gọi tắt là Nghị định số 87/2011/NĐ-CP) giao cho Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn thi hành và những vấn đề khác có liên quan đến việc cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề; cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
2. Ngoài việc áp dụng Luật khám bệnh, chữa bệnh, Nghị định số 87/2011/NĐ-CP và Nghị định này, người hành nghề, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh còn phải thực hiện các quy định của pháp luật về dược, thương mại, doanh nghiệp, đầu tư, quảng cáo, bảo vệ môi trường, an toàn bức xạ, phòng cháy, chữa cháy và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.
3. Việc thu và sử dụng lệ phí cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề bao gồm cả điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề; cấp, cấp lại và điều chỉnh giấy phép hoạt động của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; cấp giấy chứng nhận biết tiếng Việt thành thạo hoặc giấy chứng nhận sử dụng thành thạo ngôn ngữ khác hoặc giấy chứng nhận đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh; cấp giấy phép đối với cơ sở giáo dục đủ điều kiện để kiểm tra và công nhận biết tiếng Việt thành thạo hoặc sử dụng thành thạo ngôn ngữ khác hoặc đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Điều 5. Hành vi bị nghiêm cấm
1. Khám bệnh, chữa bệnh không có chứng chỉ hành nghề hoặc đang trong thời gian bị đình chỉ hành nghề, cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh mà không có giấy phép hoạt động hoặc đang trong thời gian bị đình chỉ hoạt động.
2. Hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh vượt quá phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề, giấy phép hoạt động, trừ trường hợp cấp cứu.
3. Thuê, mượn, cho thuê, cho mượn chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hoạt động.
4. Quảng cáo không đúng với khả năng, trình độ chuyên môn hoặc quá phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề, giấy phép hoạt động; lợi dụng kiến thức y học cổ truyền hoặc kiến thức y khoa khác để quảng cáo gian dối về phương pháp chữa bệnh, thuốc chữa bệnh.
5. Cán bộ, công chức, viên chức y tế thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia quản lý, điều hành bệnh viện tư nhân hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp và Luật hợp tác xã, trừ trường hợp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cử tham gia quản lý, điều hành tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có phần vốn của Nhà nước.

Chương II
QUY ĐỊNH VIỆC CẤP, CẤP LẠI CHỨNG CHỈ HÀNH NGHỀ
Mục 1
HỒ SƠ, THỦ TỤC CẤP, CẤP LẠI CHỨNG CHỈ HÀNH NGHỀ

Điều 6. Hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề đối với người Việt Nam
1.Hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề đối với người Việt Nam thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 27 Luật khám bệnh, chữa bệnh, cụ thể như sau:
a) Đơn đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề theo mẫu 01 quy định tại Phụ lục 01 ban hành kèm theo Nghị định này và hai ảnh màu 04 x 06 cm được chụp trên nền trắng trong thời gian không quá 06 tháng tính đến ngày nộp đơn;
b) Bản sao có chứng thực văn bằng chuyên môn liên quan đến y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề, cụ thể như sau:
– Văn bằng chuyên môn y.
– Văn bằng hoặc giấy chứng nhận trình độ chuyên môn đối với lương y hoặc giấy chứng nhận bài thuốc gia truyền hoặc phương pháp khám bệnh, chữa bệnh gia truyền do Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là tỉnh) cấp;
– Văn bằng chuyên môn của kỹ thuật viên: tốt nghiệp trung cấp trở lên chuyên ngành kỹ thuật y học; nếu tốt nghiệp cử nhân chuyên ngành hóa học, sinh học, dược sĩ đại học từ trước ngày Nghị định này có hiệu lực thì phải có chứng chỉ hoặc giấy chứng nhận đào tạo chuyên ngành kỹ thuật y học (xét nghiệm), thời gian học tối thiểu 3 tháng tại các đơn vị đã được cấp mã số đào tạo liên tục và thẩm định chương trình đào tạo theo quy định tại Thông tư số 22/2013/TT-BYT ngày 09 tháng 8 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế về hướng dẫn việc đào tạo liên tục cho cán bộ y tế; trường hợp chứng chỉ hoặc giấy chứng nhận đào tạo đã được cấp trước ngày Thông tư số 22/2013/TT-BYT có hiệu lực thì phải do cơ sở có chức năng đào tạo, cấp chứng chỉ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.
– Văn bằng của bác sĩ y học dự phòng;
– Trường hợp người tốt nghiệp cử nhân y khoa trình độ đại học do nước ngoài cấp gồm: cử nhân lâm sàng, cử nhân nội khoa và ngoại khoa, cử nhân điều trị học (y đa khoa), cử nhân Trung Y (Y học cổ truyền), cử nhân Răng Hàm Mặt, cử nhân Răng (Nha sĩ) phải có văn bằng, chứng chỉ sau đây:
+ Tốt nghiệp trước ngày 01 tháng 01 năm 2012: có bằng cử nhân y khoa trong trường hợp nước cấp bằng có Hiệp định ký kết với Việt Nam về việc công nhận văn bằng tương đương hoặc có bằng cử nhân y khoa và văn bản công nhận của Cục Khảo thí, Bộ Giáo dục và Đào tạo trong trường hợp nước cấp bằng chưa có Hiệp định ký kết với Việt Nam về việc công nhận văn bằng tương đương; Văn bằng, chứng chỉ chuyên môn y tế đào tạo bổ sung theo ngành, chuyên ngành phù hợp, có thời gian đào tạo cộng dồn tối thiểu là 12 tháng tại Trường Đại học y, dược hoặc bệnh viện đa khoa, chuyên khoa Trung ương của Việt Nam.
+ Tốt nghiệp sau ngày 01 tháng 01 năm 2012: có bằng cử nhân y khoa trong trường hợp nước cấp bằng có Hiệp định ký kết với Việt Nam về việc công nhận văn bằng tương đương hoặc có bằng cử nhân y khoa và văn bản công nhận của Cục Khảo thí, Bộ Giáo dục và Đào tạo trong trường hợp nước cấp bằng chưa có Hiệp định ký kết với Việt Nam về việc công nhận văn bằng tương đương; Giấy chứng nhận hoàn thành khóa học bổ sung theo ngành, chuyên ngành phù hợp, thời gian đào tạo tối thiểu là 12 tháng tại trường đại học y, dược của Việt Nam đã được cấp có thẩm quyền giao nhiệm vụ đào tạo mã ngành tương ứng theo chương trình đào tạo bổ sung cho từng ngành theo hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Y tế.
– Trường hợp mất văn bằng chuyên môn thì phải có giấy chứng nhận tốt nghiệp hoặc bản sao chứng thực giấy chứng nhận thay thế bằng tốt nghiệp do cơ sở đào tạo nơi cấp văn bằng chuyên môn cấp;
c) Một trong các giấy tờ xác nhận quá trình thực hành sau đây:
– Giấy xác nhận quá trình thực hành theo quy định tại Điều 18 Nghị định này bằng bác sĩ nội trú, bằng chuyên khoa cấp I, bằng chuyên khoa cấp II, chứng chỉ hoặc giấy chứng nhận chuyên khoa định hướng có tổng số thời gian thực hành quy đổi phải đủ theo quy định tại Điều 24 Luật khám bệnh, chữa bệnh;
Trường hợp thời gian đào tạo chuyên khoa định hướng không đủ thời gian theo quy định tại Điều 24 Luật khám bệnh, chữa bệnh thì phải bổ sung giấy xác nhận quá trình thực hành để đủ thời gian thực hành theo quy định tại Điều 24 Luật khám bệnh, chữa bệnh.
d) Giấy chứng nhận đủ sức khỏe để hành nghề khám bệnh, chữa bệnh do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế cấp;
đ) Phiếu lý lịch tư pháp;
e) Sơ yếu lý lịch có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là xã) nơi người hành nghề cư trú. Đối với người hành nghề đang làm việc tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì sơ yếu lý lịch phải có xác nhận của thủ trưởng đơn vị nơi công tác. Sơ yếu lý lịch thực hiện theo mẫu 04 – Phụ lục 01 ban hành kèm theo Nghị định này. Sơ yếu lý lịch có giá trị trong thời hạn 6 tháng tính đến thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề.
2. Hồ sơ đề nghị cấp lại chứng chỉ hành nghề đối với người bị mất hoặc bị hư hỏng chứng chỉ hành nghề hoặc bị thu hồi chứng chỉ hành nghề theo quy định tại Điểm a, b Khoản 1 Điều 29 Luật khám bệnh, chữa bệnh: Đơn đề nghị cấp lại chứng chỉ hành nghề theo mẫu 01 quy định tại Phụ lục 02 ban hành kèm theo Nghị định này và hai ảnh 04 x 06 cm được chụp trên nền trắng trong thời gian không quá 06 tháng tính đến ngày nộp đơn.
3. Hồ sơ đề nghị cấp lại chứng chỉ hành nghề trong trường hợp bị thu hồi theo quy định tại các Điểm c, d, đ, e và g Khoản 1 Điều 29 Luật khám bệnh, chữa bệnh bao gồm:
a) Đơn đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề theo mẫu 02 quy định tại Phụ lục 02 ban hành kèm theo Nghị định này và hai ảnh 04 x 06 cm được chụp trên nền trắng trong thời gian không quá 06 tháng tính đến ngày nộp đơn;
b) Các giấy tờ theo quy định tại Khoản 1 Điều này, trừ giấy xác nhận quá trình thực hành;
c) Giấy chứng nhận đã cập nhật kiến thức y khoa liên tục theo quy định của Bộ Y tế.
4. Hồ sơ điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh:
a) Hồ sơ bổ sung phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh bao gồm:
– Đơn đề nghị bổ sung phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh theo mẫu quy định tại mẫu 03 – Phụ lục 01 ban hành kèm theo Nghị định này;
– Bản sao có chứng thực văn bằng và chứng chỉ chuyên môn phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn đề nghị bổ sung;
– Giấy xác nhận quá trình thực hành theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều này;
b) Hồ sơ đề nghị thay đổi phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề thực hiện theo quy định tại các điểm b, c, d, e Khoản 1 Điều 5 Nghị định này và:
– Đơn đề nghị thay đổi phạm vi hoạt động chuyên môn theo mẫu 03a – Phụ lục 02 ban hành kèm theo Nghị định này;
– Hai ảnh màu 04 x 06 cm được chụp trên nền trắng trong thời gian không quá 06 tháng tính đến ngày nộp đơn.

Điều 7. Hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
1. Hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 27 Luật khám bệnh, chữa bệnh, cụ thể như sau:
a) Đơn đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề theo mẫu 02 quy định tại Phụ lục 01 ban hành kèm theo Nghị định này và hai ảnh 04 x 06 cm được chụp trên nền trắng trong thời gian không quá 06 tháng tính đến ngày nộp đơn;
b) Bản sao có chứng thực văn bằng chuyên môn;
c) Giấy xác nhận quá trình thực hành;
d) Bản sao có chứng thực giấy chứng nhận biết tiếng Việt thành thạo.
Trường hợp người đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề không có giấy chứng nhận biết tiếng Việt thành thạo thì phải có người phiên dịch để phiên dịch từ ngôn ngữ của người đó đăng ký sử dụng sang tiếng Việt.
Trường hợp người đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề đăng ký sử dụng ngôn ngữ khác mà không phải là tiếng mẹ đẻ của người đó để khám bệnh, chữa bệnh thì phải có giấy chứng nhận sử dụng thành thạo ngôn ngữ đó và phải có người phiên dịch để phiên dịch từ ngôn ngữ đó sang tiếng Việt.
Người phiên dịch phải có giấy chứng nhận đủ trình độ phiên dịch phù hợp với ngôn ngữ mà người nước ngoài đăng ký sử dụng trong khám bệnh, chữa bệnh và có hợp đồng lao động với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi người nước ngoài làm việc;
đ) Bản sao có chứng thực giấy phép lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền về lao động của Việt Nam cấp;
e) Trường hợp các văn bản quy định tại các Điểm b, c và d Khoản 1 Điều này do tổ chức nước ngoài cấp phải được hợp pháp hóa lãnh sự và dịch ra tiếng Việt, bản dịch phải được chứng thực theo quy định của pháp luật Việt Nam.
g) Giấy chứng nhận đủ sức khỏe để hành nghề khám bệnh, chữa bệnh do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế cấp.
2. Hồ sơ đề nghị cấp lại chứng chỉ hành nghề đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài bị mất hoặc bị hư hỏng chứng chỉ hành nghề hoặc bị thu hồi chứng chỉ hành nghề theo quy định tại Điểm a, b Khoản 1 Điều 29 Luật khám bệnh, chữa bệnh: Đơn đề nghị cấp lại chứng chỉ hành nghề theo mẫu 03 quy định tại Phụ lục 02 ban hành kèm theo Nghị định này và hai ảnh 04 x 06 cm được chụp trên nền trắng trong thời gian không quá 06 tháng tính đến ngày nộp đơn.
3. Hồ sơ đề nghị cấp lại chứng chỉ hành nghề đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài trong trường hợp bị thu hồi theo quy định tại các Điểm c, d, đ, e và g Khoản 1 Điều 29 Luật khám bệnh, chữa bệnh bao gồm:
a) Đơn đề nghị cấp lại chứng chỉ hành nghề theo mẫu 03 quy định tại Phụ lục 02 ban hành kèm theo Nghị định này; hai ảnh 04 x 06 cm được chụp trên nền trắng trong thời gian không quá 06 tháng tính đến ngày nộp đơn;
b) Các giấy tờ quy định tại các Điểm b, c, d, đ và e Khoản 1 Điều này.
4. Hồ sơ điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề:
a) Hồ sơ bổ sung phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề gồm:
– Đơn đề nghị bổ sung phạm vi hoạt động chuyên môn theo Phụ lục 04 ban hành kèm theo Nghị định này;
– Bản sao có chứng thực văn bằng chuyên môn phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn đề nghị bổ sung;
– Giấy xác nhận quá trình thực hành phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn đề nghị bổ sung và thời gian hành nghề theo quy định tại Điều 24 Luật khám bệnh, chữa bệnh;
b) Hồ sơ đề nghị thay đổi phạm vi hoạt động chuyên môn thực hiện theo quy định tại các điểm b, c, d, e Khoản 1 Điều 5 Nghị định này và:
– Đơn đề nghị thay đổi phạm vi hoạt động chuyên môn;
– Hai ảnh màu 04 x 06 cm được chụp trên nền trắng trong thời gian không quá 06 tháng tính đến ngày nộp đơn.
5. Các giấy tờ có trong hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề quy định nộp bản sao có chứng thực có thể áp dụng một trong các hình thức sau đây:
a) Bản sao có chứng thực;
b) Bản sao và xuất trình bản gốc để người tiếp nhận hồ sơ đối chiếu, kiểm ra, ký xác nhận lên bản sao khi nộp hồ sơ trực tiếp.

Điều 8. Thủ tục cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề và điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề
1. Hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề và điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề theo quy định tại Điều 5 và Điều 6 Nghị định này được thực hiện như sau:
a) Người đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề và điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền quy định tại Khoản 1 Điều 26 Luật khám bệnh, chữa bệnh:
– Gửi 01 bộ hồ sơ về Cục Quản lý khám, chữa bệnh – Bộ Y tế; đối với người hành nghề y học cổ truyền gửi 01 bộ hồ sơ về Cục Quản lý y, dược cổ truyền;
– Trường hợp người hành nghề đã được Bộ Y tế cấp chứng chỉ hành nghề nhưng tại thời điểm đề nghị bổ sung hoặc thay đổi phạm vi hoạt động chuyên môn, người hành nghề làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý của Sở Y tế thì nộp hồ sơ về Sở Y tế để đề nghị bổ sung hoặc thay đổi phạm vi hoạt động chuyên môn.
– Trường hợp người hành nghề được Sở Y tế cấp chứng chỉ hành nghề nhưng tại thời điểm đề nghị bổ sung hoặc thay đổi phạm vi hoạt động chuyên môn, người hành nghề làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Y tế hoặc Sở Y tế khác thì nộp hồ sơ về Bộ Y tế hoặc Sở Y tế có thẩm quyền quản lý cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đang hành nghề để đề nghị bổ sung hoặc thay đổi phạm vi hoạt động chuyên môn.
– Trường hợp tại thời điểm đề nghị cấp, cấp lại hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề, người hành nghề không làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nào thì nộp hồ sơ về Sở Y tế nơi có hộ khẩu thường trú để đề nghị cấp, bổ sung hoặc thay đổi phạm vi hoạt động chuyên môn.
b) Người đề nghị cấp, cấp lại hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền quy định tại Khoản 2 Điều 26 Luật khám bệnh, chữa bệnh gửi 01 bộ hồ sơ về Sở Y tế tỉnh.
2. Trình tự xem xét đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề:
a) Khi nhận được hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề, Bộ Y tế hoặc Sở Y tế tỉnh (sau đây gọi tắt là cơ quan tiếp nhận hồ sơ) gửi cho người đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề Phiếu tiếp nhận hồ sơ theo quy định tại Phụ lục 03 ban hành kèm theo Nghị định này;
b) Trong thời gian quy định tại các khoản 2, 3 Điều 28 Luật khám bệnh, chữa bệnh kể từ ngày ghi trên Phiếu tiếp nhận hồ sơ, Tổ thư ký quy định tại Điều 9 Nghị định này phải tiến hành thẩm định hồ sơ. Nếu không có yêu cầu bổ sung thì phải trình thủ trưởng cơ quan tiếp nhận hồ sơ để cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề; nếu không cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do;
Trường hợp hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề chưa hợp lệ thì trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày ghi trên Phiếu tiếp nhận hồ sơ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ phải có văn bản thông báo cho người đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề để hoàn chỉnh hồ sơ. Văn bản thông báo phải nêu cụ thể là bổ sung thêm những tài liệu nào, sửa đổi nội dung gì;
c) Khi nhận được văn bản yêu cầu hoàn chỉnh hồ sơ, người đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề phải sửa đổi, bổ sung theo đúng những nội dung đã được ghi trong văn bản và gửi về cơ quan tiếp nhận hồ sơ. Ngày tiếp nhận hồ sơ bổ sung được ghi trên Phiếu tiếp nhận hồ sơ. Nếu cơ quan tiếp nhận hồ sơ không có văn bản yêu cầu sửa đổi, bổ sung thì phải cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề trong thời gian quy định tại Điểm b Khoản này;
d) Trường hợp người đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề đã bổ sung hồ sơ nhưng không đúng với yêu cầu thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ sẽ thông báo cho người đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề để tiếp tục hoàn chỉnh hồ sơ theo quy định tại các điểm c, d Khoản 2 Điều này.
3. Chứng chỉ hành nghề, quyết định cấp bổ sung, thay đổi phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề do Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế tỉnh cấp theo mẫu quy định tại Phụ lục 4 và theo mã số quy định tại Phụ lục 05 ban hành kèm theo Nghị định này và mỗi cá nhân chỉ được cấp một chứng chỉ hành nghề. Phôi chứng chỉ hành nghề do Bộ Y tế quản lý và cung cấp.
4. Bản sao chứng chỉ hành nghề, quyết định cấp bổ sung, thay đổi phạm vi hoạt động chuyên môn khám bệnh, chữa bệnh và hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề được lưu tại cơ quan cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề hoặc điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề.

Điều 9. Phạm vi hoạt động chuyên môn ghi trên chứng chỉ hành nghề
1. Phạm vi hoạt động chuyên môn ghi trên chứng chỉ hành nghề theo các nhóm chuyên khoa quy định tại Phụ lục 4b ban hành kèm theo Nghị định này.
2. Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh căn cứ phạm vi hoạt động chuyên môn ghi trên chứng chỉ hành nghề, văn bằng, chứng chỉ và năng lực của người hành nghề để cho phép người hành nghề được thực hiện các chuyên môn kỹ thuật cụ thể tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh do mình phụ trách.

Mục 2
TỔ CHỨC VIỆC CẤP, CẤP LẠI CHỨNG CHỈ HÀNH NGHỀ

Điều 10. Hội đồng tư vấn về cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề
1. Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế tỉnh thành lập Hội đồng tư vấn về cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề (sau đây gọi tắt là Hội đồng tư vấn) theo quy định tại Khoản 4 Điều 28 Luật khám bệnh, chữa bệnh.
2. Chủ tịch Hội đồng tư vấn có trách nhiệm chỉ đạo việc xây dựng quy chế hoạt động của Hội đồng tư vấn để trình Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt.
3. Các thành viên của Hội đồng tư vấn thực hiện các nhiệm vụ theo sự phân công của chủ tịch Hội đồng tư vấn và được cung cấp các tài liệu liên quan đến việc thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Khoản 4 Điều 28 Luật khám bệnh, chữa bệnh.

Điều 11. Tổ thư ký thẩm định hồ sơ cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề
1. Bộ trưởng Bộ Y tế thành lập Tổ thư ký để giúp việc cho Bộ trưởng Bộ Y tế trong việc thẩm định hồ sơ cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề gồm các thành phần sau:
a) Đại diện lãnh đạo Cục Quản lý khám, chữa bệnh làm Tổ trưởng;
b) Đại diện lãnh đạo Vụ Y dược cổ truyền làm Phó tổ trưởng;
c) Đại diện Vụ Pháp chế;
d) Đại diện Vụ Khoa học và Đào tạo;
đ) Các thành phần khác có liên quan.
2. Giám đốc Sở Y tế tỉnh thành lập Tổ thư ký để giúp việc cho Giám đốc Sở Y tế tỉnh trong việc thẩm định hồ sơ cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề gồm các thành phần sau:
a) Trưởng phòng Quản lý hành nghề hoặc Trưởng phòng Nghiệp vụ y (đối với Sở Y tế tỉnh chưa thành lập phòng Quản lý hành nghề) làm Tổ trưởng;
b) Đại diện phòng Nghiệp vụ y (đối với Sở Y tế tỉnh đã thành lập phòng Quản lý hành nghề);
c) Đại diện phòng Tổ chức cán bộ của Sở Y tế;
d) Các thành phần khác có liên quan.
3. Thường trực của Tổ thư ký đặt tại Cục Quản lý khám, chữa bệnh – Bộ Y tế hoặc phòng Quản lý hành nghề hoặc phòng Nghiệp vụ y (đối với Sở Y tế tỉnh chưa thành lập phòng Quản lý hành nghề) – Sở Y tế.

Điều 12. Mối quan hệ công tác giữa Hội đồng tư vấn và Tổ thư ký
1. Tổ thư ký có trách nhiệm:
a) Xin ý kiến tư vấn của Hội đồng tư vấn trong trường hợp cần thiết về các nội dung liên quan đến việc  cấp, cấp lại, thu hồi chứng chỉ hành nghề; đình chỉ hoạt động chuyên môn của người hành nghề; xem xét công nhận giấy chứng nhận cập nhật kiến thức y khoa liên tục hoặc các giấy tờ liên quan đến việc công nhận người biết tiếng Việt thành thạo hoặc sử dụng thành thạo ngôn ngữ khác hoặc đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh;
b) Báo cáo Hội đồng tư vấn danh sách những người đã được cấp, cấp lại, thu hồi chứng chỉ hành nghề; các trường hợp người hành nghề bị đình chỉ hoạt động chuyên môn theo định kỳ 06 tháng/lần.
2. Hội đồng tư vấn có trách nhiệm:
a) Cho ý kiến tư vấn theo đề nghị của Tổ thư ký về các nội dung quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều này;
b) Thông báo với Tổ thư ký về các trường hợp có căn cứ rõ ràng cho thấy việc cấp, cấp lại, thu hồi chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ hoạt động chuyên môn của người hành nghề là không đúng theo quy định của pháp luật.

Mục 3
ĐĂNG KÝ HÀNH NGHỀ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH

Điều 13. Nguyên tắc đăng ký hành nghề
1. Một người hành nghề chỉ được đăng ký chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, không được đồng thời làm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật từ hai cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trở lên.
2. Một người hành nghề chỉ được đăng ký làm người phụ trách một khoa của một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (không được đồng thời làm người phụ trách từ hai khoa trở lên trong cùng một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc đồng thời làm người phụ trách khoa của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác).
3. Người hành nghề chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thể kiêm nhiệm phụ trách khoa trong cùng một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng chỉ được phụ trách một khoa và phải phù hợp với văn bằng chuyên môn được đào tạo của người đó.
4. Người hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được đăng ký làm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ngoài giờ.
5. Người hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước không được đăng ký làm người đứng đầu của bệnh viện tư nhân hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp và Luật hợp tác xã, trừ trường hợp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cử tham gia quản lý, điều hành tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có phần vốn của Nhà nước.
6. Người hành nghề đã đăng ký làm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được đăng ký làm việc ngoài giờ tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác trên cùng địa bàn tỉnh nhưng tổng thời gian làm ngoài giờ không quá 200 giờ theo quy định của Bộ luật Lao động.
7. Người hành nghề đã đăng ký hành nghề tại một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì không được đăng ký làm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn tỉnh khác với nơi mình đang hành nghề để bảo đảm tính liên tục, ổn định trong cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh.
8. Người hành nghề đã đăng ký hành nghề ở một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh theo chế độ luân phiên cán bộ từ tuyến trên xuống tuyến dưới, khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo hoặc thực hiện kỹ thuật chuyên môn (ví dụ: hội chẩn, mổ phiên) theo hợp đồng giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì không phải đăng ký hành nghề.
9. Trường hợp người chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh vắng mặt tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh vì lý do ốm đau, nghỉ phép, đi học hoặc vì các lý do khác thì người chịu trách nhiệm chuyên môn phải thực hiện các thủ tục sau:
a) Nếu thời gian vắng mặt tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh dưới 3 ngày thì phải ủy quyền bằng văn bản cho người làm việc tại cơ sở khám, chữa bệnh đó có chứng chỉ hành nghề phù hợp với ít nhất một trong các chuyên khoa mà cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đăng ký hoạt động và có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 54 tháng;
b) Nếu thời gian vắng mặt tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên 3 ngày thì thực hiện theo quy định tại Điểm a Khoản 9 Điều này và phải có văn bản báo cáo Sở Y tế;
c) Nếu thời gian vắng mặt tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ 30 ngày đến 180 ngày thì thực hiện theo quy định tại Điểm a Khoản 9 Điều này, có văn bản báo cáo Sở Y tế và được Sở Y tế chấp thuận bằng văn bản;
d) Nếu thời gian vắng mặt tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên 180 ngày thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải làm hồ sơ, thủ tục đề nghị thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Điều 14. Nội dung và hình thức đăng ký hành nghề khám bệnh, chữa bệnh
1. Nội dung đăng ký hành nghề:
a) Địa điểm hành nghề: ghi rõ tên, địa chỉ của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi đăng ký hành nghề;
b) Thời gian hành nghề: ghi cụ thể thời gian làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (từ mấy giờ đến mấy giờ trong ngày và mấy ngày trong tuần);
c) Vị trí chuyên môn:
– Ghi rõ khoa, phòng hoặc bộ phận chuyên môn nơi người hành nghề làm việc;
– Ghi rõ chức danh mà người hành nghề được phân công đảm nhiệm (ví dụ là người đứng đầu hoặc người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật hoặc người phụ trách khoa hoặc nhân viên).
2. Hình thức đăng ký hành nghề: Việc đăng ký hành nghề phải thực hiện bằng văn bản theo mẫu quy định tại Phụ lục 06 ban hành kèm theo Nghị định này.

Điều 15. Trình tự đăng ký hành nghề
1. Thời điểm đăng ký hành nghề:
a) Đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đề nghị cấp giấy phép hoạt động thì việc đăng ký hành nghề cho người hành nghề được thực hiện cùng thời điểm thực hiện việc đề nghị cấp giấy phép hoạt động;
b) Đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được cấp giấy phép hoạt động khi có thay đổi về nhân sự thì trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày ký quyết định tuyển dụng hoặc ký kết hợp đồng lao động với người hành nghề hoặc sa thải người hành nghề hoặc chấm dứt hợp đồng lao động với người hành nghề hoặc người hành nghề có thông báo nghỉ việc, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm gửi danh sách người hành nghề mới tiếp nhận và danh sách người hành nghề không còn làm việc tại cơ sở của mình đến cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quy định tại Khoản 2 Điều này.
2. Tiếp nhận văn bản đăng ký hành nghề:
a) Sở Y tế tỉnh tiếp nhận việc đăng ký hành nghề của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trụ sở đóng trên địa bàn (bao gồm cả bệnh viện tư nhân và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc các bộ, ngành), trừ các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế;
b) Bộ Y tế tiếp nhận việc đăng ký hành nghề của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế.
3. Xác nhận việc đăng ký hành nghề:
a) Đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đề nghị cấp giấy phép hoạt động thì việc xác nhận đăng ký hành nghề phải được thể hiện trong biên bản thẩm định;
b) Đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đang hoạt động thì trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được danh sách đăng ký hành nghề quy định tại Khoản 1 Điều này, căn cứ vào nguyên tắc đăng ký hành nghề quy định tại Điều 11 Nghị định này, Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế tỉnh phải có văn bản phê duyệt việc đăng ký hành nghề. Trường hợp không phê duyệt phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do từ chối đối với từng trường hợp cụ thể.
4. Trường hợp trong danh sách đăng ký hành nghề của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có người hành nghề đang hành nghề tại một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác thì trong danh sách đăng ký người hành nghề phải ghi rõ thời gian, địa điểm, vị trí chuyên môn của người hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh mà người hành nghề đang hành nghề trước đó.

Điều 16. Quản lý thông tin đăng ký hành nghề
1. Trong thời gian 10 ngày làm việc sau khi phê duyệt việc đăng ký hành nghề của người hành nghề, Sở Y tế tỉnh phải gửi danh sách người hành nghề đã được đăng ký trên địa bàn quản lý về Bộ Y tế.
2. Trong thời gian 10 ngày làm việc sau khi phê duyệt việc đăng ký hành nghề của người hành nghề, Bộ Y tế phải gửi danh sách người hành nghề đã được đăng ký cho Sở Y tế tỉnh nơi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có người đăng ký hành nghề đặt trụ sở.

Mục 4
XÁC NHẬN QUÁ TRÌNH THỰC HÀNH

Điều 17. Nguyên tắc đăng ký thực hành
Người đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề phải đăng ký thực hành phù hợp với văn bằng chuyên môn được đào tạo.
Trường hợp là bác sỹ đa khoa thì đăng ký thực hành theo một trong bốn chuyên khoa nội, ngoại, sản, nhi hoặc đăng ký thực hành theo một trong các hệ nội – nhi hoặc ngoại – sản. Trường hợp thực hành theo hệ thì tổng thời gian thực hành là 18 tháng trong đó thời gian thực hành tại mỗi chuyên khoa thuộc hệ ít nhất là 09 tháng liên tục.
Trường hợp là y sỹ đa khoa thì đăng ký thực hành theo một trong bốn chuyên khoa nội, ngoại, sản, nhi hoặc đăng ký thực hành theo một trong các hệ nội – nhi hoặc ngoại – sản. Trường hợp thực hành theo hệ thì tổng thời gian thực hành là 12 tháng trong đó thời gian thực hành tại mỗi chuyên khoa thuộc hệ ít nhất là 06 tháng liên tục.

Điều 18. Xác nhận về thời gian thực hành
1. Xác nhận về thời gian thực hành đối với bác sỹ:
a) Đối với bác sỹ đã thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trước ngày 01/01/2012:
– Nếu có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 18 tháng liên tục tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì được xác nhận có đủ thời gian thực hành;
– Nếu có thời gian khám bệnh, chữa bệnh chưa đủ 18 tháng liên tục tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì thời gian đã thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trước ngày 01/01/2012 được tính là thời gian thực hành (xác định từ thời điểm ký kết hợp đồng lao động hoặc có quyết định tuyển dụng) và phải tiếp tục thực hành đến khi đủ 18 tháng để được xác nhận có đủ thời gian thực hành;
– Nếu đã có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 18 tháng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng sau đó đã không tiếp tục thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trong thời gian 02 năm tính đến ngày nộp hồ sơ xin cấp chứng chỉ hành nghề thì không phải thực hành lại nếu có giấy chứng nhận cập nhật kiến thức y khoa liên tục. Trường hợp không có giấy chứng nhận cập nhật kiến thức y khoa liên tục thì phải thực hành theo quy định tại Khoản 1 Điều 24 Luật khám bệnh, chữa bệnh;
b) Đối với bác sỹ bắt đầu thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh từ ngày 01 tháng 01 năm 2012 thì phải thực hành theo quy định tại Khoản 1 Điều 24 Luật khám bệnh, chữa bệnh.
2. Xác nhận về thời gian thực hành đối với y sỹ:
a) Đối với y sỹ đã thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trước ngày 01/01/2012:
– Nếu có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 12 tháng liên tục tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì được xác nhận có đủ thời gian thực hành;
– Nếu có thời gian khám bệnh, chữa bệnh chưa đủ 12 tháng liên tục tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì thời gian đã thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trước ngày 01/01/2012 được tính là thời gian thực hành (xác định từ thời điểm có hợp đồng lao động hoặc quyết định tuyển dụng) và phải tiếp tục thực hành đến khi đủ 12 tháng để được xác nhận có đủ thời gian thực hành;
– Nếu đã có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 12 tháng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng sau đó đã không thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trong thời gian 02 năm tính đến ngày nộp hồ sơ xin cấp chứng chỉ hành nghề thì phải thực hành theo quy định tại Khoản 1 Điều 24 Luật khám bệnh, chữa bệnh.
b) Đối với y sỹ bắt đầu thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh từ ngày 01/01/2012 thì phải thực hành theo quy định tại Khoản 1 Điều 24 Luật khám bệnh, chữa bệnh.
3. Xác nhận về thời gian thực hành đối với hộ sinh viên, kỹ thuật viên và điều dưỡng viên:
a) Đối với hộ sinh viên, kỹ thuật viên và điều dưỡng viên đã thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trước ngày 01/01/2012:
– Nếu có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 09 tháng liên tục tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì được xác nhận có đủ thời gian thực hành;
– Nếu có thời gian khám bệnh, chữa bệnh chưa đủ là 09 tháng liên tục tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì thời gian đã thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trước ngày 01/01/2012 được tính là thời gian thực hành (xác định từ thời điểm có hợp đồng lao động hoặc quyết định tuyển dụng) và phải tiếp tục thực hành đến khi đủ 09 tháng để được xác nhận có đủ thời gian thực hành;
– Nếu đã có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 09 tháng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng sau đó đã không thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trong thời gian 02 năm tính đến ngày nộp hồ sơ xin cấp chứng chỉ hành nghề thì phải thực hành theo quy định tại Khoản 1 Điều 24 Luật khám bệnh, chữa bệnh.
b) Đối với hộ sinh viên, kỹ thuật viên và điều dưỡng bắt đầu thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh từ ngày 01/01/2012 thì phải thực hành theo quy định tại Khoản 1 Điều 24 Luật khám bệnh, chữa bệnh.
3.Xác nhận quá trình thực hành trước ngày 01/01/2012 đối với người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh tại trung tâm y tế (trung tâm y tế dự phòng, trung tâm y tế các quận huyện thị xã, trung tâm phòng chống bệnh xã hội, trung tâm y tế các bộ, ngành), y tế cơ quan, đơn vị, tổ chức đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề phải là viên chức, hợp đồng lao động dài hạn:
a) Trường hợp trung tâm y tế, cơ quan, đơn vị, tổ chức có thành lập đơn vị khám bệnh, chữa bệnh: thời gian thực hành khám bệnh, chữa bệnh do người phụ trách y tế cơ quan, đơn vị, tổ chức xác nhận kèm theo quyết định thành lập cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của cơ quan có thẩm quyền;
b) Trường hợp trung tâm y tế, cơ quan, đơn vị, tổ chức không thành lập đơn vị khám bệnh, chữa bệnh: việc xác nhận thời gian thực hành cho người hành nghề sẽ do thủ trưởng cơ quan xác nhận và kèm theo văn bản phân công người đó làm công tác y tế của cơ quan, đơn vị, tổ chức;
c) Đối với người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh tại trung tâm y tế, y tế cơ quan đơn vị, tổ chức đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề bắt đầu thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh từ ngày 01 tháng 01 năm 2012 đến nay thì phải thực hành theo quy định tại Khoản 1

Điều 24 Luật khám bệnh, chữa bệnh.
4. Bộ trưởng Bộ Y tế, Lãnh đạo các Bộ, ngành hoặc Giám đốc Sở Y tế tỉnh có trách nhiệm phân công các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý tham gia hướng dẫn thực hành đối với người có nhu cầu xác nhận quá trình thực hành.

Điều 19. Nội dung xác nhận về năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp
1. Nội dung xác nhận năng lực chuyên môn gồm: Khả năng thực hiện các kỹ thuật chuyên môn cơ bản theo chuyên khoa đăng ký thực hành do người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định.
2. Nội dung xác nhận đạo đức nghề nghiệp gồm: Việc thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 36, 37, 38 và 39 Luật khám bệnh, chữa bệnh và việc giao tiếp, ứng xử của người đăng ký thực hành theo quy định tại Quyết định số 29/2008/QĐ – BYT ngày 18 tháng 8 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế, về việc ban hành Quy tắc ứng xử của cán bộ, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp y tế.

Điều 20. Tổ chức việc thực hành
1. Tiếp nhận người thực hành:
a) Người thực hành phải có bản sao có chứng thực văn bằng chuyên môn và đơn đề nghị theo mẫu quy định tại Phụ lục 07 ban hành kèm theo Nghị định này gửi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi cá nhân đăng ký tham gia thực hành;
b) Người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm ban hành quyết định tiếp nhận người thực hành và phân công người hướng dẫn thực hành theo mẫu quy định tại Phụ lục 08 ban hành kèm theo Nghị định này. Trường hợp người đăng ký thực hành không phải là nhân viên của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì phải có hợp đồng thỏa thuận theo mẫu quy định tại Phụ lục 09 ban hành kèm theo Nghị định này.
2. Người hướng dẫn thực hành phải là người hành nghề có phạm vi hoạt động chuyên môn phù hợp với chuyên khoa mà người thực hành đăng ký thực hành.
3. Người hướng dẫn thực hành có trách nhiệm hướng dẫn người thực hành thực hiện khám bệnh, chữa bệnh. Người hướng dẫn thực hành phải chịu trách nhiệm về kết quả khám bệnh, chữa bệnh của người đăng ký thực hành trong quá trình thực hành.
4. Sau khi hết thời gian thực hành, người hướng dẫn thực hành phải nhận xét quá trình thực hành của người đăng ký thực hành theo nội dung quy định tại Điều 17 Nghị định này và chịu trách nhiệm về nội dung nhận xét của mình.
5. Sau khi có nhận xét của người hướng dẫn thực hành quy định tại Khoản 3 Điều này, người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải cấp giấy xác nhận quá trình thực hành theo mẫu quy định tại Phụ lục 10 ban hành kèm theo Nghị định này.

Mục 5
TIÊU CHÍ ĐỂ CÔNG NHẬN BIẾT TIẾNG VIỆT THÀNH THẠO
HOẶC SỬ DỤNG THÀNH THẠO NGÔN NGỮ KHÁC HOẶC ĐỦ TRÌNH
ĐỘ PHIÊN DỊCH TRONG KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH

Điều 21. Tiêu chí để công nhận người hành nghề biết tiếng Việt thành thạo hoặc sử dụng thành thạo ngôn ngữ khác trong khám bệnh, chữa bệnh
1. Người hành nghề được công nhận biết tiếng Việt thành thạo trong khám bệnh, chữa bệnh khi được cơ sở giáo dục quy định tại Khoản 1 Điều 21 Nghị định này kiểm tra để công nhận thành thạo cả bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết bằng tiếng Việt, trừ các trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều này.
2. Người hành nghề được công nhận sử dụng thành thạo ngôn ngữ khác tiếng Việt mà không phải là tiếng mẹ đẻ của người đó trong khám bệnh, chữa bệnh khi được cơ sở giáo dục quy định tại Khoản 1 Điều 21 Nghị định này kiểm tra để công nhận thành thạo cả bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết bằng ngôn ngữ mà người hành nghề đăng ký sử dụng trong khám bệnh, chữa bệnh, trừ các trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều này.
3. Các trường hợp được công nhận mà không phải qua kiểm tra khi có một trong các văn bằng, chứng chỉ sau:
a) Có bằng tốt nghiệp trình độ trung cấp chuyên ngành y trở lên do cơ sở đào tạo hợp pháp trong nước hoặc nước ngoài cấp mà toàn bộ chương trình đào tạo được sử dụng bằng tiếng Việt hoặc bằng ngôn ngữ mà người hành nghề đăng ký sử dụng trong khám bệnh, chữa bệnh;
b) Có chứng chỉ đã hoàn thành các khóa đào tạo chuyên ngành y có thời gian từ 12 tháng trở lên mà ngôn ngữ sử dụng trong đào tạo là tiếng Việt hoặc bằng ngôn ngữ mà người hành nghề đăng ký sử dụng trong khám bệnh, chữa bệnh;
c) Có bằng tốt nghiệp trình độ đại học chuyên ngành tiếng Việt hoặc bằng ngôn ngữ mà người hành nghề đăng ký sử dụng trong khám bệnh, chữa bệnh do các cơ sở đào tạo hợp pháp trong nước hoặc nước ngoài cấp.
Các văn bằng, chứng chỉ quy định tại Khoản 3 Điều này phải được cấp trong thời gian không quá 05 năm tính đến ngày nộp hồ sơ.

Điều 22. Tiêu chí để công nhận người có đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh
1. Người được công nhận đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh khi thành thạo cả bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết bằng tiếng nước ngoài và được cơ sở giáo dục quy định tại Khoản 1 Điều 21 Nghị định này kiểm tra để công nhận đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh, trừ các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều này.
2. Các trường hợp được công nhận mà không phải qua kiểm tra khi có một trong các văn bằng, chứng chỉ sau:
a) Có bằng tốt nghiệp trình độ trung cấp chuyên ngành y trở lên do cơ sở đào tạo hợp pháp trong nước hoặc nước ngoài cấp mà toàn bộ chương trình đào tạo được sử dụng bằng tiếng nước ngoài;
b) Có chứng chỉ đã hoàn thành các khóa đào tạo chuyên ngành y có thời gian từ 12 tháng trở lên mà ngôn ngữ sử dụng trong đào tạo là tiếng nước ngoài;
c) Có bằng tốt nghiệp trình độ trung cấp chuyên ngành y trở lên hoặc lương y và bằng tốt nghiệp trình độ đại học ngoại ngữ.
Các văn bằng, chứng chỉ quy định tại Điểm a và b Khoản 2 Điều này phải được cấp trong thời gian không quá 05 năm tính đến ngày nộp hồ sơ.

Điều 23. Điều kiện đối với cơ sở giáo dục được kiểm tra và công nhận biết tiếng Việt thành thạo hoặc sử dụng thành thạo ngôn ngữ khác hoặc đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh
1. Cơ sở giáo dục được kiểm tra và công nhận biết tiếng Việt thành thạo hoặc sử dụng thành thạo ngôn ngữ khác hoặc đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh khi có đủ các điều kiện sau:
a) Là trường đại học chuyên ngành y;
b) Có khoa hoặc bộ môn ngoại ngữ;
c) Có ngân hàng đề thi để kiểm tra và công nhận biết tiếng Việt thành thạo hoặc sử dụng thành thạo ngôn ngữ khác hoặc đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh.
2. Hồ sơ, thủ tục:
a) Hồ sơ:
– Bản sao có chứng thực các giấy tờ chứng minh việc thành lập và hoạt động của cơ sở giáo dục;
– Bản sao có chứng thực quyết định thành lập khoa hoặc bộ môn ngoại ngữ;
– Danh sách giảng viên làm việc toàn thời gian của khoa hoặc bộ môn ngoại ngữ;
– Ngân hàng đề thi được sử dụng để kiểm tra và công nhận biết tiếng Việt thành thạo hoặc sử dụng thành thạo ngôn ngữ khác hoặc đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh bằng một trong các ngôn ngữ sau: Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc, Ả Rập, Tây Ban Nha, Đức, Nhật Bản và Hàn Quốc.
b) Thủ tục:
– Căn cứ các điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều này, cơ sở giáo dục lập hồ sơ theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều này và gửi về Bộ Y tế (Vụ Khoa học – Đào tạo) để đề nghị công nhận đủ điều kiện. Riêng nội dung câu hỏi và đáp án của ngân hàng đề thi có thể gửi bằng giấy hoặc đĩa CD, DVD, USB hoặc thư điện tử;
– Trong thời gian 15 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ hợp lệ, Bộ Y tế phải có văn bản cho phép. Trường hợp từ chối phải nêu rõ lý do. Trường hợp cần thiết, Bộ Y tế tiến hành kiểm tra thực tế tại cơ sở đề nghị trước khi cho phép.
Điều 24. Hồ sơ, thủ tục đề nghị kiểm tra hoặc công nhận biết tiếng Việt thành thạo hoặc sử dụng thành thạo ngôn ngữ khác hoặc đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh
1. Hồ sơ đề nghị kiểm tra bao gồm:
a) Đơn đề nghị theo mẫu quy định tại Phụ lục 11 ban hành kèm theo Nghị định này và hai ảnh 04 x 06 cm được chụp trên nền trắng trong thời gian không quá 06 tháng tính đến ngày nộp đơn;
b) Bản sao có chứng thực giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu còn hạn sử dụng.
2. Hồ sơ đề nghị công nhận bao gồm:
a) Các giấy tờ quy định tại Điểm a và b Khoản 1 Điều này;
b) Bản sao có chứng thực văn bằng, chứng chỉ quy định tại Khoản 3 Điều 19 Nghị định này đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đề nghị công nhận biết tiếng Việt thành thạo hoặc Khoản 2 Điều 20 Nghị định này đối với người đề nghị công nhận có đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh hoặc Điểm d Khoản 1 Điều 6 Nghị định này đối với người hành nghề sử dụng ngôn ngữ khác trong khám bệnh, chữa bệnh.
3. Thủ tục đề nghị kiểm tra hoặc đề nghị công nhận:
a) Hồ sơ quy định tại Khoản 1 hoặc Khoản 2 Điều này được gửi tới cơ sở giáo dục quy định tại Khoản 1 Điều 21 Nghị định này;
b) Trong thời gian 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ sở giáo dục phải thực hiện như sau:
– Kiểm tra và cấp giấy chứng nhận đối với các trường hợp quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 19, Khoản 1 Điều 20. Kết quả kiểm tra phải được niêm yết công khai;
– Hoặc cấp giấy chứng nhận đối với các trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 19, Khoản 2 Điều 20. Trường hợp không cấp giấy chứng nhận phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.
4. Giấy chứng nhận thực hiện theo mẫu quy định tại Phụ lục 12 ban hành kèm theo Nghị định này.

Chương IV
ĐIỀU KIỆN, HỒ SƠ, THỦ TỤC CẤP, CẤP LẠI, ĐIỀU CHỈNH GIẤY PHÉP HOẠT ĐỘNG ĐỐI VỚI CƠ SỞ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH
Mục 1
ĐIỀU KIỆN CỤ THỂ CẤP GIẤY PHÉP HOẠT ĐỘNG ĐỐI VỚI
CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC CỦA CƠ SỞ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH

Điều 25. Hình thức tổ chức của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1. Tổ chức và cá nhân thực hiện hoạt động khám bệnh, chữa bệnh phải theo các hình thức tổ chức của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh sau đây:
a) Bệnh viện bao gồm bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa, bệnh viện y học cổ truyền;
b) Cơ sở giám định y khoa;
c) Phòng khám bệnh, chữa bệnh bao gồm phòng khám đa khoa, phòng khám chuyên khoa, phòng khám bác sỹ gia đình, phòng chẩn trị y học cổ truyền và bệnh xá;
d) Nhà hộ sinh;
đ) Cơ sở chẩn đoán bao gồm phòng chẩn đoán hình ảnh và phòng xét nghiệm;
e) Cơ sở dịch vụ y tế bao gồm:
– Cơ sở dịch vụ tiêm (chích), thay băng, đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp;
– Cơ sở dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tại nhà;
– Cơ sở dịch vụ cấp cứu, hỗ trợ vận chuyển người bệnh trong nước và ra nước ngoài;
– Cơ sở dịch vụ kính thuốc;
– Cơ sở dịch vụ làm răng giả;
– Cơ sở dịch vụ chăm sóc răng, miệng;
– Cơ sở dịch vụ thẩm mỹ.
g) Trạm y tế cấp xã; y tế cơ quan, đơn vị, tổ chức;
2. Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chi tiết điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với từng hình thức tổ chức của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định tại khoản 1 Điều này.

Điều 26. Hình thức tổ chức cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong quân đội
1. Trong quân đội, việc thực hiện khám bệnh, chữa bệnh phải theo một trong các hình thức tổ chức của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định này. Trường hợp để đáp ứng yêu cầu khám bệnh, chữa bệnh trong điều kiện thời chiến, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định thành lập các hình thức tổ chức khám bệnh, chữa bệnh phù hợp khác.
2. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với các hình thức tổ chức cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý quy định tại khoản 1 Điều này.

Điều 27. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với bệnh viện
1. Quy mô bệnh viện:
a) Bệnh viện đa khoa phải có ít nhất 30 giường bệnh;
b) Bệnh viện chuyên khoa, bệnh viện y học cổ truyền phải có ít nhất 20 giường bệnh; riêng đối với bệnh viện chuyên khoa mắt sử dụng kỹ thuật cao phải có ít nhất 10 giường bệnh.
2. Cơ sở vật chất:
a) Được thiết kế, xây dựng theo Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam số 365: 2007. Riêng đối với các khoa cấp cứu, khoa điều trị tích cực và chống độc, khoa phẫu thuật, khoa chẩn đoán hình ảnh, khoa xét nghiệm thì việc thiết kế, xây dựng phải thực hiện đúng các quy định tại các Quyết định số 32, 33, 34/2005/QĐ – BYT ngày 31 tháng 10 năm 2005 và số 35/2005/QĐ – BYT ngày 15 tháng 11 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế;
Trường hợp bệnh viện được xây dựng trên địa bàn quận thuộc thành phố trực thuộc trung ương mà không bảo đảm diện tích đất xây dựng theo quy định của Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam số 365:2007 thì có thể được thiết kế, xây dựng theo hình thức nhà hợp khối, cao tầng nhưng phải đáp ứng các điều kiện sau:
– Bố trí các khoa, phòng, hành lang bảo đảm hoạt động chuyên môn theo mô hình tập trung, liên hoàn, khép kín trong phạm vi khuôn viên của bệnh viện; bảo đảm điều kiện vô trùng và các điều kiện vệ sinh môi trường theo quy định của pháp luật;
– Bảo đảm diện tích sàn xây dựng ít nhất là 50 m2/giường bệnh trở lên; chiều rộng mặt trước (mặt tiền) bệnh viện phải đạt ít nhất 10 m. Đối với các bệnh viện đã hoạt động trước ngày 01/01/2012 được phép tiếp tục hoạt động nhưng phải đáp ứng điều kiện quy định về chiều rộng mặt trước của bệnh viện chậm nhất vào ngày 01/01/2016.
b) Bảo đảm các điều kiện về an toàn bức xạ, quản lý chất thải y tế, phòng cháy chữa cháy theo quy định của pháp luật;
c) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
3. Thiết bị y tế:
a) Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà bệnh viện đăng ký;
b) Có đủ phương tiện vận chuyển cấp cứu trong và ngoài bệnh viện. Trường hợp không có phương tiện cấp cứu ngoài bệnh viện, bệnh viện phải có hợp đồng với cơ sở có phương tiện cấp cứu ngoài bệnh viện.
4. Tổ chức:
a) Các khoa:
– Có ít nhất 02 trong 04 khoa nội, ngoại, sản, nhi đối với bệnh viện đa khoa hoặc một khoa lâm sàng phù hợp đối với bệnh viện chuyên khoa;
– Khoa khám bệnh (gồm có nơi tiếp đón người bệnh, buồng cấp cứu – lưu bệnh, buồng khám, buồng tiểu phẫu);
– Khoa cận lâm sàng: Có ít nhất một phòng xét nghiệm và một phòng chẩn đoán hình ảnh. Riêng đối với bệnh viện chuyên khoa mắt nếu không có bộ phận chẩn đoán hình ảnh thì phải có hợp đồng với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có bộ phận chẩn đoán hình ảnh đã được cấp giấy phép hoạt động;
– Khoa dược;
– Các khoa, phòng chuyên môn khác trong bệnh viện phải phù hợp với quy mô, chức năng nhiệm vụ.
b) Có các phòng chức năng về kế hoạch tổng hợp, tổ chức nhân sự, điều dưỡng, tài chính kế toán.
5. Nhân sự:
a) Số lượng nhân viên hành nghề làm việc toàn thời gian (cơ hữu) trong từng khoa phải đạt tỷ lệ ít nhất là 50% trên tổng số nhân viên hành nghề trong khoa;
b) Định mức biên chế, tỷ lệ cơ cấu bộ phận, chuyên môn thực hiện theo quy định tại Khoản 1, 2, 3 và 4 Mục II Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT – BYT – BNV ngày 05 tháng 6 năm 2007 của liên bộ: Bộ Y tế – Bộ Nội vụ hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế nhà nước;
c) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của bệnh viện phải đáp ứng các điều kiện sau:
– Là bác sỹ có chứng chỉ hành nghề phù hợp với ít nhất một trong các chuyên khoa mà bệnh viện đăng ký hoạt động;
– Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 54 tháng. Việc phân công, bổ nhiệm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của bệnh viện phải được thể hiện bằng văn bản;
– Là người làm việc toàn thời gian tại bệnh viện.
d) Trưởng khoa lâm sàng phải đáp ứng các điều kiện sau:
– Là bác sỹ có chứng chỉ hành nghề phù hợp với chuyên khoa đó;
– Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh tại chuyên khoa đó ít nhất là 36 tháng. Việc phân công, bổ nhiệm trưởng khoa phải được thể hiện bằng văn bản;
– Là người làm việc toàn thời gian tại bệnh viện;
đ) Trưởng khoa khác không thuộc đối tượng cấp chứng chỉ hành nghề phải đáp ứng các điều kiện sau:
Tốt nghiệp đại học và có thời gian làm việc tại chuyên khoa đó ít nhất là 36 tháng kể từ ngày được cấp bằng tốt nghiệp đại học đến ngày được phân công, bổ nhiệm làm trưởng khoa. Việc phân công, bổ nhiệm trưởng khoa phải được thể hiện bằng văn bản;
– Là người làm việc toàn thời gian tại bệnh viện;
e) Trưởng khoa dược là người làm việc toàn thời gian tại bệnh viện và phải đáp ứng quy định tại Khoản 1 Điều 7 Thông tư số 22/2011/TT-BYT ngày 10 tháng 6 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định tổ chức và hoạt động của khoa Dược bệnh viện (Đối với bệnh viện hạng 3 và không phân hạng chưa có dược sĩ đại học thì Giám đốc bệnh viện ủy quyền bằng văn bản cho dược sĩ trung học phụ trách khoa);
g) Phẫu thuật viên hoặc bác sỹ thực hiện kỹ thuật cao phải đáp ứng các điều kiện sau:
– Là bác sỹ chuyên khoa ngoại hoặc bác sỹ đa khoa có chứng nhận đào tạo chuyên khoa ngoại hoặc chứng nhận đào tạo chuyên khoa thực hiện kỹ thuật cao của bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh trở lên hoặc trường đại học chuyên ngành y khoa hoặc tại Trung tâm đào tạo và chỉ đạo tuyến thuộc các bệnh viện hạng đặc biệt, hạng 1 trực thuộc Bộ Y tế. Trường hợp được đào tạo ở nước ngoài, phẫu thuật viên phải có chứng nhận chuyên khoa;
– Có văn bản cho phép thực hiện phẫu thuật, can thiệp ngoại khoa của người đứng đầu bệnh viện theo đề nghị của người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của bệnh viện;
h) Ngoài các đối tượng quy định tại Điểm c, d, đ, e và g Khoản này, các đối tượng khác làm việc trong bệnh viện nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề và chỉ được thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi công việc được phân công. Những đối tượng khác có đủ điều kiện nhưng không thuộc đối tượng cấp chứng chỉ hành nghề, được thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi công việc được phân công. Việc phân công phải được thể hiện bằng văn bản và phải phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề hoặc phù hợp bằng cấp của người đó.
6. Phạm vi hoạt động chuyên môn:
Thực hiện các kỹ thuật chuyên môn theo danh mục được Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt.

Điều 28. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với phòng khám đa khoa
1. Quy mô phòng khám đa khoa:
Phòng khám đa khoa phải đáp ứng ít nhất các điều kiện sau:
a) Có ít nhất 02 trong 04 chuyên khoa nội, ngoại, sản, nhi;
b) Phòng cấp cứu;
c) Buồng tiểu phẫu;
d) Phòng lưu người bệnh;
đ) Cận lâm sàng: Có hai bộ phận xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh;
2. Cơ sở vật chất:
a) Có nơi tiếp đón, phòng cấp cứu, phòng lưu người bệnh, phòng khám chuyên khoa và buồng tiểu phẫu. Các phòng khám trong phòng khám đa khoa phải đáp ứng các yêu cầu ít nhất về diện tích như sau:
– Phòng cấp cứu có diện tích ít nhất 12m2;
– Phòng lưu người bệnh có diện tích ít nhất 15m2; có ít nhất từ 02 giường lưu trở lên, nếu có từ 03 giường lưu trở lên thì diện tích mỗi giường ít nhất là 05m2;
– Các phòng khám chuyên khoa và buồng tiểu phẫu có diện tích ít nhất 10m2.
Riêng đối với phòng khám đa khoa khu vực của Nhà nước phải bảo đảm tiêu chuẩn thiết kế quy định tại Quyết định số 1327/2002/QĐ – BYT ngày 18 tháng 4 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế;
b) Bảo đảm các điều kiện về an toàn bức xạ, quản lý chất thải y tế, phòng cháy chữa cháy theo quy định của pháp luật;
c) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
3. Thiết bị y tế:
Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà phòng khám đa khoa đăng ký.
4. Tổ chức nhân sự:
a) Số lượng bác sỹ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh làm việc toàn thời gian (cơ hữu) phải đạt tỷ lệ ít nhất là 50% trên tổng số bác sỹ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh của phòng khám đa khoa;
b) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám đa khoa phải đáp ứng các điều kiện sau:
– Là bác sỹ có chứng chỉ hành nghề phù hợp với ít nhất một trong các chuyên khoa mà phòng khám đa khoa đăng ký;
– Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 54 tháng. Việc phân công, bổ nhiệm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám đa khoa phải được thể hiện bằng văn bản;
– Là người làm việc toàn thời gian tại phòng khám đa khoa;
c) Ngoài người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám đa khoa, các đối tượng khác làm việc trong phòng khám đa khoa nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề và chỉ được thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi công việc được phân công. Đối với các đối tượng khác có đủ điều kiện nhưng không thuộc đối tượng cấp chứng chỉ, được thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi công việc được phân công. Việc phân công phải được thể hiện bằng văn bản và phải phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề hoặc phù hợp với văn bằng chuyên môn của người đó.
5. Phạm vi hoạt động chuyên môn:
Hành nghề theo phạm vi hoạt động chuyên môn được Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt. Việc phê duyệt phải căn cứ vào quy định về phạm vi hoạt động chuyên môn tại các Điều 25, 26, 28, 29, 30, 32, 33 và 34 Nghị định này.
– Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế phê duyệt khi phòng khám đa khoa đáp ứng đủ điều kiện theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế.

Điều 29. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với phòng khám chuyên khoa
1. Cơ sở vật chất:
a) Xây dựng và thiết kế:
– Địa điểm cố định, tách biệt với nơi sinh hoạt gia đình;
– Xây dựng chắc chắn, đủ ánh sáng, có trần chống bụi, tường và nền nhà phải sử dụng các chất liệu dễ tẩy rửa làm vệ sinh;
b) Phòng khám chuyên khoa phải có buồng khám bệnh, chữa bệnh có diện tích ít nhất là 10m2 và nơi đón tiếp người bệnh, trừ phòng tư vấn khám bệnh qua điện thoại, phòng tư vấn chăm sóc sức khỏe qua các phương tiện công nghệ thông tin, viễn thông và thiết bị y tế. Riêng đối với phòng khám chuyên khoa ngoại, phòng khám chuyên khoa phẫu thuật thẩm mỹ phải có thêm buồng lưu người bệnh có diện tích ít nhất 12 m2; phòng khám phục hồi chức năng phải có thêm buồng phục hồi chức năng có diện tích ít nhất là 10 m2;
c) Ngoài quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều này, tùy theo phạm vi hoạt động chuyên môn đăng ký, phòng khám phải đáp ứng thêm các điều kiện sau:
– Có buồng thủ thuật với diện tích ít nhất là 10 m2 nếu có thực hiện thủ thuật, bao gồm cả kỹ thuật cấy ghép răng (implant);
– Có buồng thăm dò chức năng với diện tích ít nhất là 10 m2 nếu có thực hiện thăm dò chức năng;
– Có buồng khám phụ khoa có diện tích ít nhất là 10 m2 nếu thực hiện việc khám phụ khoa hoặc khám các bệnh lây truyền qua đường tình dục;
– Có buồng thực hiện kỹ thuật kế hoạch hóa gia đình có diện tích ít nhất là 10 m2 nếu thực hiện kỹ thuật kế hoạch hóa gia đình;
– Có buồng vận động trị liệu có diện tích ít nhất là 40 m2 nếu thực hiện vận động trị liệu;
– Phòng khám chuyên khoa răng hàm mặt nếu có từ ba ghế răng trở lên thì diện tích cho mỗi ghế răng ít nhất là 5 m2;
– Phòng khám chuyên khoa nếu sử dụng thiết bị bức xạ (bao gồm cả thiết bị X-quang chụp răng gắn liền với ghế răng) phải đáp ứng các quy định của pháp luật về an toàn bức xạ;
d) Bảo đảm xử lý rác thải y tế theo quy định của pháp luật; bảo đảm vô trùng đối với buồng thực hiện thủ thuật, buồng kế hoạch hóa gia đình;
đ) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
2. Thiết bị y tế:
a) Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở đăng ký;
b) Có hộp thuốc chống choáng và đủ thuốc cấp cứu chuyên khoa;
c) Phòng tư vấn khám bệnh qua điện thoại, phòng tư vấn chăm sóc sức khỏe qua các phương tiện công nghệ thông tin, viễn thông và thiết bị y tế không phải có thiết bị, dụng cụ y tế quy định tại Điểm a và b Khoản 2 Điều này nhưng phải có đủ các phương tiện công nghệ thông tin, viễn thông, thiết bị phù hợp với hoạt động tư vấn đã đăng ký.
3. Nhân sự:
a) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám chuyên khoa phải là bác sỹ có chứng chỉ hành nghề phù hợp với chuyên khoa mà phòng khám đăng ký và có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 54 tháng tại chuyên khoa đó;
b) Ngoài người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám chuyên khoa, các đối tượng khác làm việc trong phòng khám chuyên khoa nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề và chỉ được thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi công việc được phân công. Việc phân công phải phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó;
4. Phạm vi hoạt động chuyên môn:
a) Phòng khám nội tổng hợp:
– Sơ cứu, khám bệnh, chữa bệnh đối với các bệnh nội khoa thông thường, không làm các thủ thuật chuyên khoa;
– Thực hiện kỹ thuật điện tim, điện não đồ, điện cơ, lưu huyết não, siêu âm, nội soi tiêu hóa nếu bác sỹ trực tiếp thực hiện các kỹ thuật này có giấy chứng nhận bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của bệnh viện tuyến tỉnh trở lên. Trường hợp có thực hiện kỹ thuật nội soi tiêu hóa thì phải có thêm giấy xác nhận đã qua thực hành về chuyên khoa từ 18 tháng trở lên tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
– Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của phòng khám.
b) Phòng khám chuyên khoa thuộc hệ nội (tim mạch, hô hấp, tiêu hóa, nhi và chuyên khoa khác thuộc hệ nội):
– Sơ cứu, khám bệnh, chữa bệnh đối với các bệnh chuyên khoa thuộc hệ nội;
– Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của phòng khám.
c) Phòng khám bác sỹ gia đình thực hiện theo quy định tại Thông tư số 16/2014/TT-BYT ngày 22 tháng 5 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế về hướng dẫn thí điểm về bác sĩ gia đình và phòng khám bác sĩ gia đình;
d) Phòng tư vấn khám bệnh, chữa bệnh qua điện thoại, phòng tư vấn chăm sóc sức khỏe qua các phương tiện công nghệ thông tin, viễn thông và thiết bị y tế:
– Phòng tư vấn chỉ được tư vấn trong phạm vi những chuyên khoa đã được phê duyệt;
– Người hành nghề chỉ được tư vấn về chăm sóc sức khỏe phù hợp với chứng chỉ hành nghề đã được cấp;
– Bảo đảm các quy định về điều kiện an toàn, an ninh thông tin và điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin quy định tại Điều 4 và Điều 6 của Thông tư số 53/2014/TT-BYT ngày 29 tháng 12 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế về quy định điều kiện hoạt động y tế trên môi trường mạng.
đ) Phòng khám chuyên khoa ngoại:
– Sơ cứu, cấp cứu ban đầu về ngoại khoa;
– Khám và xử trí các vết thương thông thường;
– Bó bột, tháo bột gẫy xương nhỏ;
– Mổ u nang bã đậu, u nông nhỏ;
– Không chích các ổ mủ lan tỏa lớn.
– Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của phòng khám.
e) Phòng khám chuyên khoa phụ sản – kế hoạch hóa gia đình:
– Cấp cứu ban đầu về sản, phụ khoa;
– Khám thai, quản lý thai sản;
– Khám bệnh, chữa bệnh phụ khoa thông thường;
– Đặt thuốc âm đạo;
– Đốt điều trị lộ tuyến cổ tử cung;
– Soi cổ tử cung, lấy bệnh phẩm tìm tế bào ung thư;
– Siêu âm sản khoa nếu bác sỹ trực tiếp thực hiện các kỹ thuật siêu âm có giấy chứng nhận bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của bệnh viện tuyến tỉnh trở lên và có giấy xác nhận đã qua thực hành về chuyên khoa từ 18 tháng trở lên tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
– Đặt vòng tránh thai;
– Hút thai, phá thai nội khoa đối với thai 06 tuần (từ 36 ngày đến 42 ngày, kể từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng) khi đáp ứng các điều kiện quy định tại chuẩn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành;
– Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của phòng khám.
f) Phòng khám chuyên khoa răng – hàm – mặt:
– Khám bệnh, chữa bệnh thông thường, cấp cứu ban đầu các vết thương hàm mặt;
– Làm các tiểu phẫu sửa sẹo vết thương nhỏ dài dưới 02 cm ở mặt;
– Nắn sai khớp hàm;
– Điều trị laser bề mặt;
– Chữa các bệnh viêm quanh răng;
– Chích, rạch áp xe, lấy cao răng, nhổ răng;
– Làm răng, hàm giả;
– Chỉnh hình răng miệng;
– Chữa răng và điều trị nội nha;
– Thực hiện cắm ghép răng (implant) đơn giản với số lượng từ một đến hai răng trong một lần thực hiện thủ thuật (riêng cắm răng cửa của hàm dưới được cắm tối đa 04 răng) nếu bác sỹ trực tiếp thực hiện kỹ thuật có chứng chỉ hoặc giấy chứng nhận về cắm ghép răng do trường đại học chuyên ngành y khoa hoặc bệnh viện tuyến tỉnh trở lên cấp. Không ghép xương khối tự thân để cắm răng hoặc người bệnh đang có bệnh lý về nội khoa tiến triển liên quan đến chất lượng cắm răng;
– Tiểu phẫu thuật răng miệng;
– Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của phòng khám.
g) Phòng khám chuyên khoa tai – mũi – họng:
– Khám bệnh, chữa bệnh thông thường, cấp cứu ban đầu về tai mũi họng;
– Điều trị viêm xoang, chọc dò xoang, chọc hút dịch u nang;
– Chích rạch viêm tai giữa cấp;
– Chích rạch áp xe amidan;
– Cắt polip đơn giản, u bã đậu, u nang lành, u mỡ vùng tai – mũi – họng;
– Cầm máu cam;
– Lấy dị vật vùng tai mũi họng, trừ dị vật ở thanh quản, thực quản;
– Đốt họng bằng nhiệt, bằng laser;
– Nạo VA;
– Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của phòng khám.
h) Phòng khám chuyên khoa mắt:
– Khám bệnh, chữa bệnh thông thường, cấp cứu ban đầu về mắt;
– Tiêm dưới kết mạc, cạnh nhãn cầu, hậu nhãn cầu;
– Lấy dị vật kết mạc, giác mạc, chích chắp lẹo;
– Thông rửa lệ đạo;
– Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của phòng khám.
i) Phòng khám phẫu thuật thẩm mỹ:
– Tạo má lúm đồng tiền, xóa xăm cung lông mày, nâng cung lông mày, tạo hình gò má, tạo hình cằm chẻ, cằm lẹm, sửa da ở vùng mặt, vùng cổ;
– Xăm môi, xăm mi mắt, xăm cung lông mày, xăm ngoài da;
– Tạo hình mí mắt, mũi, môi, tai;
– Không được phẫu thuật tạo hình như nâng ngực; nâng vú; thu nhỏ quầng vú, núm vú; thu gọn thành bụng, mông, đùi; căng da mặt, mông, đùi; lấy mỡ cơ thể;
– Thực hiện các kỹ thuật thẩm mỹ bằng thiết bị Laser phải có giấy chứng nhận bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của bệnh viện tuyến tỉnh trở lên có khoa điều trị bệnh bằng Laser.
– Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của phòng khám.
– Việc phẫu thuật thẩm mỹ làm thay đổi đặc điểm nhận dạng đã được xác định trong chứng minh nhân dân chỉ được thực hiện sau khi người có yêu cầu phẫu thuật thẩm mỹ đã có đơn gửi cơ quan Công an nơi cấp chứng minh nhân dân và được sự đồng ý của cơ quan này bằng văn bản.
k) Phòng khám chuyên khoa phục hồi chức năng:
– Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật là cử nhân vật lý trị liệu – phục hồi chức năng (trình độ đại học trở lên)
– Phục hồi chức năng các hội chứng liệt thần kinh trung ương và ngoại biên; các bệnh mạn tính hoặc sau khi phẫu thuật;
– Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của phòng khám.
l) Phòng khám chuyên khoa tâm thần:
– Cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh ngoại trú tâm thần, động kinh;
– Thực hiện các liệu pháp tâm lý trị liệu;
– Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của phòng khám.
m) Phòng khám chuyên khoa ung bướu:
– Khám, phát hiện sớm các bệnh ung bướu thông thường;
– Lấy bệnh phẩm để làm xét nghiệm tế bào, giải phẫu bệnh lý một số loại ung thư cổ tử cung, trực tràng, âm hộ, vú, hạch. Những kết quả xét nghiệm tế bào, xét nghiệm giải phẫu bệnh lý phải được bác sỹ chuyên khoa giải phẫu bệnh – tế bào kết luận;
– Khám và theo dõi định kỳ các bệnh ung bướu đã và đang điều trị;
– Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của phòng khám.
n) Phòng khám chuyên khoa da liễu:
– Khám bệnh, chữa bệnh các bệnh về da, bệnh phong và các bệnh lây truyền qua đường tình dục;
– Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của phòng khám.
p) Phòng khám bệnh nghề nghiệp cho người lao động
– Về nhân sự:
+ Người thực hiện khám lâm sàng và cận lâm sàng phải có bằng cấp chuyên môn phù hợp với công việc được phân công.
+ Người chịu trách nhiệm khám lâm sàng phải là bác sỹ và có chứng chỉ đào tạo về bệnh nghề nghiệp.
+ Người kết luận sức khỏe phải được người có thẩm quyền của cơ sở khám bệnh nghề nghiệp phân công thực hiện.
– Về cơ sở vật chất, trang thiết bị:
+ Có phòng khám lâm sàng và cận lâm sàng từng chuyên khoa;
+ Có bộ phận tư vấn sức khỏe nghề nghiệp;
+ Phải có các trang thiết bị tối thiểu theo quy định;

Điều 30. Phòng khám tư vấn và điều trị dự phòng
1. Cơ sở vật chất: Đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 27 Nghị định này;
2. Thiết bị y tế:
a) Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở đăng ký;
b) Có hộp thuốc chống choáng và đủ thuốc cấp cứu chuyên khoa;
c) Nếu thực hiện tiêm chủng vắc xin, sinh phẩm y tế thì phải thực hiện theo hướng dẫn của Thông tư số 12/2014/TT-BYT ngày 20 tháng 3 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc hướng dẫn việc quản lý sử dụng vắc xin trong tiêm chủng.
3. Nhân sự:
a) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của Phòng khám tư vấn và điều trị dự phòng phải là bác sỹ đa khoa có chứng chỉ hành nghề và có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 54 tháng;
b) Ngoài người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của Phòng khám tư vấn và điều trị dự phòng, các đối tượng khác làm việc trong Phòng khám nếu có thực hiện công việc chuyên môn phải có chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với công việc được phân công.
4. Phạm vi hoạt động chuyên môn:
a) Tổ chức khám sàng lọc, phát hiện sớm các bệnh truyền nhiễm, bệnh tật học đường, bệnh liên quan đến dinh dưỡng, bệnh không lây nhiễm, bệnh chưa rõ nguyên nhân cho cá nhân và cộng đồng;
b) Tư vấn, truyền thông nâng cao sức khỏe, dinh dưỡng hợp lý, tiêm chủng phòng bệnh, kiểm soát các yếu tố nguy cơ đối với sức khỏe nhằm nâng cao sức khỏe cộng đồng;
c) Tiêm chủng vắc xin, sinh phẩm y tế theo hình thức dịch vụ;
d) Khám, quản lý sức khỏe cộng đồng và phục hồi chức năng;
e) Tổ chức thực hiện các hoạt động quản lý, tư vấn và điều trị dự phòng các bệnh truyền nhiễm, bệnh liên quan đến dinh dưỡng không hợp lý, bệnh liên quan rối loạn chuyển hóa, bệnh không lây nhiễm khác và các đối tượng nguy cơ mắc bệnh không lây nhiễm (bệnh bướu cổ, Basedow, đái tháo đường, tăng huyết áp, răng miệng, bệnh nghề nghiệp và các bệnh không lây nhiễm khác);
Căn cứ vào năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của phòng khám Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt danh mục chuyên môn cụ thể theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11 tháng 12 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế.

Điều 31. Các điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với phòng chẩn trị y học cổ truyền
1. Cơ sở vật chất:
a) Đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Điểm a, d và đ Khoản 1 Điều 27 Nghị định này;
b) Buồng chẩn trị có diện tích ít nhất là 10 m2 và có nơi đón tiếp người bệnh;
c) Tùy theo phạm vi hoạt động chuyên môn đăng ký, phòng chẩn trị y học cổ truyền phải đáp ứng thêm các điều kiện sau:
– Nếu có châm cứu, xoa bóp day ấn huyệt thì phải có buồng hoặc bố trí nơi kê giường châm cứu, xoa bóp day ấn huyệt với diện tích ít nhất 05 m2/giường;
– Nếu có xông hơi thuốc thì phải có buồng xông hơi. Diện tích ít nhất là 02m2 đối với một buồng xông hơi, buồng phải kín nhưng đủ ánh sáng;
– Nếu có bào chế một số dạng đóng gói sẵn thì phải được Sở Y tế tỉnh thẩm định, xem xét cho phép.
2. Thiết bị y tế:
a) Nếu thực hiện việc khám bệnh, kê đơn, bốc thuốc:
– Có tủ thuốc, các vị thuốc được đựng trong ô kéo hoặc trong chai lọ thủy tinh hoặc nhựa trắng có nắp và ghi rõ tên vị thuốc ở bên ngoài;
– Có cân thuốc và phân chia các vị thuốc theo thang, giấy gói thuốc (không dùng giấy báo, giấy có chữ).
b) Nếu thực hiện việc châm, cứu, xoa bóp day ấn huyệt:
– Có giường châm, cứu, xoa bóp day ấn huyệt;
– Có đủ dụng cụ để châm, cứu, xoa bóp day ấn huyệt, đèn hồng ngoại;
– Có đủ dụng cụ và hướng dẫn xử lý vượng châm.
c) Nếu thực hiện xông hơi thuốc: phải có phòng xông hơi, có hệ thống tạo hơi thuốc, van điều chỉnh, có bảng hướng dẫn xông hơi và hệ thống chuông báo trong trường hợp khẩn cấp;
3. Nhân sự:
a) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng chẩn trị y học cổ truyền phải là bác sỹ chuyên khoa y học cổ truyền hoặc y sỹ chuyên khoa y học cổ truyền hoặc là người có giấy chứng nhận lương y của Bộ Y tế hoặc Sở Y tế tỉnh cấp hoặc người có bài thuốc gia truyền hoặc có phương pháp chữa bệnh gia truyền có chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh y học cổ truyền;
– Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ truyền ít nhất là 54 tháng đối với bác sỹ chuyên khoa y học cổ truyền;
– Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ truyền ít nhất là 48 tháng đối với y sỹ chuyên khoa y học cổ truyền;
– Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ truyền ít nhất là 36 tháng đối với lương y hoặc người có bài thuốc gia truyền hoặc người có phương pháp chữa bệnh gia truyền;
b) Ngoài người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng chẩn trị y học cổ truyền, các đối tượng khác làm việc trong phòng chẩn trị y học cổ truyền nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề và chỉ được thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi công việc được phân công. Việc phân công phải phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó.
4. Phạm vi hoạt động chuyên môn:
a) Khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ truyền (dùng thuốc và không dùng thuốc);
Đối với bác sĩ y học cổ truyền có chứng chỉ hành nghề thực hiện khám bệnh, chữa bệnh tại các phòng chẩn trị được chỉ định người bệnh làm xét nghiệm cần thiết, được sử dụng các kết quả xét nghiệm để chẩn đoán, theo dõi diễn biến của bệnh, được kết hợp kê đơn thuốc y học hiện đại trong danh mục thuốc thiết yếu theo quy định.
b) Được sử dụng các thành phẩm thuốc y học cổ truyền do các cơ sở khác sản xuất đã được Bộ Y tế cấp đăng ký lưu hành để phục vụ cho việc khám bệnh, chữa bệnh;
c) Bào chế thuốc sống thành thuốc chín (thuốc phiến), cân thuốc thang cho người bệnh;
d) Người hành nghề bằng bài thuốc gia truyền hoặc phương pháp chữa bệnh gia truyền chỉ được khám, chữa bệnh bằng chính bài thuốc gia truyền hoặc phương pháp gia truyền đó;
đ) Trong trường hợp có sản xuất một số dạng đóng gói sẵn để phục vụ trực tiếp cho người bệnh của phòng chẩn trị (cao, đơn, hoàn, tán hoặc các dạng khác) thì phải đăng ký với Sở Y tế tỉnh về công thức bài thuốc, quy trình sản xuất (kèm theo bản giải trình về cơ sở vật chất, thiết bị), công dụng, liều dùng, chống chỉ định và mẫu nhãn thuốc. Có phòng sản xuất riêng, diện tích tối thiểu là 10 m2 đảm bảo thoáng và kín, trần nhà sơn màu trắng, sàn nhà, bề mặt tường và sàn của phòng sản xuất phải sử dụng vật liệu không thấm nước, bề mặt phẳng, không đọng nước, trang thiết bị phải phù hợp với dạng thuốc sản xuất, hệ thống cấp nước bảo đảm nước sạch theo tiêu chuẩn Việt Nam và phải được Sở Y tế tỉnh xem xét thẩm định và công nhận đủ điều kiện thì mới được sản xuất. Thuốc chỉ để phục vụ trực tiếp cho người bệnh của phòng chẩn trị, không lưu hành trên thị trường theo đúng quy định của pháp luật về dược.

Điều 32. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc cơ sở giám định y khoa
Cơ sở giám định y khoa có thực hiện khám bệnh, chữa bệnh thì phải thực hiện theo một trong các hình thức tổ chức quy định tại Điều 27, 28 và Điều 29 Nghị định này.

Điều 33. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với nhà hộ sinh
1. Cơ sở vật chất:
a) Xây dựng và thiết kế:
– Xây dựng chắc chắn, đủ các buồng chuyên môn, đủ ánh sáng, có trần chống bụi, tường và nền nhà phải sử dụng các chất liệu dễ làm vệ sinh;
– Các buồng phải được thiết kế liên hoàn, hợp lý để thuận tiện cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh.
b) Nhà hộ sinh phải có các buồng khám thai, khám phụ khoa, kỹ thuật kế hoạch hóa gia đình, mỗi buồng có diện tích ít nhất là 10m2; buồng đẻ có diện tích ít nhất là 16 m2; buồng nằm của sản phụ có diện tích ít nhất là 20 m2 để bảo đảm diện tích ít nhất cho một giường bệnh là 5m2/giường;
c) Các buồng quy định tại Điểm a, b Khoản 1 Điều này phải đáp ứng các yêu cầu về kết cấu và hoàn thiện công trình theo quy định tại Điểm 5.4 Khoản 5 về yêu cầu hoàn thiện và kết cấu công trình của Quyết định số 2271/2002/QĐ – BYT ngày 17 tháng 6 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành Tiêu chuẩn thiết kế Trạm y tế cơ sở – Tiêu chuẩn ngành;
d) Bảo đảm xử lý rác thải y tế và các điều kiện về an toàn bức xạ (nếu có) theo quy định của pháp luật;
đ) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
2. Thiết bị y tế:
a) Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà nhà hộ sinh đăng ký;
b) Có phương tiện vận chuyển cấp cứu trong và ngoài nhà hộ sinh. Trường hợp không có phương tiện cấp cứu ngoài nhà hộ sinh thì phải có hợp đồng với cơ sở có phương tiện cấp cứu.
c) Có hộp thuốc chống choáng và đủ thuốc cấp cứu chuyên khoa;
3. Tổ chức, nhân sự:
a) Có bộ máy tổ chức phù hợp phạm vi hoạt động chuyên môn đã đăng ký trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động;
b) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của nhà hộ sinh phải đáp ứng các điều kiện sau:
– Là bác sỹ hoặc cử nhân hộ sinh (tốt nghiệp đại học) có chứng chỉ hành nghề;
– Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh về sản phụ khoa ít nhất là 54 tháng;
– Là người làm việc toàn thời gian tại nhà hộ sinh.
c) Ngoài người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của nhà hộ sinh, các đối tượng khác làm việc trong nhà hộ sinh nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề và chỉ được thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi công việc được phân công. Việc phân công phải phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó.
4. Phạm vi hoạt động chuyên môn:
a) Khám thai thường, quản lý thai sản;
b) Cấp cứu ban đầu, sơ cứu sản khoa;
c) Tiêm phòng uốn ván;
d) Thử protein niệu;
đ) Đỡ đẻ thường;
e) Nạo sót rau sau đẻ; sau sẩy thai;
g) Đặt vòng tránh thai;
h) Hút thai, phá thai nội khoa đối với thai 06 tuần (từ 36 ngày đến 42 ngày, kể từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng) khi đáp ứng các điều kiện quy định tại chuẩn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành;
Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của nhà hộ sinh.

Điều 34. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với phòng khám chẩn đoán hình ảnh
1. Cơ sở vật chất:
a) Xây dựng và thiết kế:
– Địa điểm cố định, tách biệt với nơi sinh hoạt gia đình;
– Xây dựng chắc chắn, đủ ánh sáng, có trần chống bụi, tường và nền nhà phải sử dụng các chất liệu dễ tẩy rửa làm vệ sinh;
– Phòng X quang, chụp cắt lớp vi tính (CT scanner), cộng hưởng từ (MRI) phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật về an toàn bức xạ;
– Phòng siêu âm, phòng nội soi chẩn đoán được thiết kế độc lập, mỗi phòng có diện tích ít nhất là 10m2; riêng đối với nội soi tiêu hóa nếu thực hiện cả hai kỹ thuật nội soi tiêu hóa trên và nội soi tiêu hóa dưới thì phải có 02 buồng riêng biệt;
b) Bảo đảm xử lý rác thải y tế và các điều kiện về an toàn bức xạ theo quy định của pháp luật;
c) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
2. Thiết bị y tế:
a) Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở đăng ký;
b) Có thiết bị phòng hộ cá nhân theo quy định của pháp luật về an toàn bức xạ.
3. Nhân sự:
a) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám chẩn đoán hình ảnh phải là bác sỹ có chứng chỉ hành nghề và có thời gian trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh về chẩn đoán hình ảnh ít nhất là 54 tháng;
Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám chẩn đoán hình ảnh XQuang là bác sỹ có chứng chỉ hành nghề và có thời gian trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh về Xquang ít nhất là 54 tháng;
Cử nhân X.Quang (tốt nghiệp đại học) được đọc và mô tả hình ảnh chẩn đoán nhưng không được kết luận chẩn đoán.
b) Ngoài người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám chẩn đoán hình ảnh, các đối tượng khác làm việc trong phòng khám chẩn đoán hình ảnh nếu có thực hiện các kỹ thuật chuyên môn về chẩn đoán hình ảnh thì phải có chứng chỉ hành nghề và chỉ được thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi công việc được phân công. Việc phân công phải phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó.
c) Không được sử dụng thuốc đối quang tĩnh mạch, trừ phòng khám chẩn đoán hình ảnh có bác sỹ hồi sức cấp cứu và có phòng cấp cứu.
4. Phạm vi hoạt động chuyên môn:
a) Chẩn đoán X.Quang, chụp cắt lớp, cộng hưởng từ;
b) Chẩn đoán siêu âm doppler, siêu âm thường, nội soi chẩn đoán;
c) Được sử dụng thuốc cản quang tĩnh mạch: nếu có bác sỹ lâm sàng và có đủ trang thiết bị, dụng cụ cấp cứu;
d) Không chọc dò dưới hướng dẫn của siêu âm, không làm phẫu thuật nội soi, không soi phế quản, không làm các can thiệp X.Quang chảy máu;
đ) Cử nhân X.Quang (tốt nghiệp đại học) không được kết luận chẩn đoán, trường hợp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không có bác sỹ chuyên khoa chẩn đoán hình ảnh hoặc bác sỹ X-Quang thì bác sỹ chỉ định kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh sẽ kết luận chẩn đoán;
Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của phòng khám chẩn đoán hình ảnh.

Điều 35. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với phòng xét nghiệm
1. Cơ sở vật chất:
a) Xây dựng và thiết kế:
– Địa điểm cố định, tách biệt với nơi sinh hoạt gia đình; Phòng xét nghiệm phải đáp ứng các yêu cầu sau:
– Phòng có diện tích tối thiểu 10 m2 nếu thực hiện một trong các xét nghiệm huyết học hoặc hóa sinh hoặc di truyền y học .
– Phòng có diện tích tối thiểu 15 m2 nếu thực hiện hai trong các xét nghiệm huyết học, hóa sinh, di truyền y học.
– Phòng có diện tích tối thiểu 20 m2 nếu thực hiện cả 03 xét nghiệm huyết học, hóa sinh, di truyền y học.
– Phòng gỉải phẫu bệnh và tế bào học có diện tích tối thiểu 20 m2 phải riêng biệt với các phòng xét nghiệm khác.
– Phòng vi sinh có diện tích 30 m2 phải riêng biệt với các phòng xét nghiệm khác.
– Bề mặt tường của phòng xét nghiệm phải sử dụng vật liệu không thấm nước sát đến trần nhà.
– Bề mặt sàn của phòng xét nghiệm phải sử dụng vật liệu không thấm nước, bề mặt phẳng, không đọng nước.
– Bàn xét nghiệm phải sử dụng vật liệu không thấm nước, chống ăn mòn. Có hệ thống chậu rửa, vòi nước sạch lắp ngay tại bàn.
– Có nơi chờ lấy bệnh phẩm, nơi nhận bệnh phẩm, nơi vệ sinh dụng cụ.
b) Đối với phòng xét nghiệm có thực hiện xét nghiệm vi sinh vật có nguy cơ gây bệnh truyền nhiễm cho người thì ngoài việc đáp ứng các điều kiện quy định tại các Điểm a Khoản 1 Điều này còn phải đáp ứng quy định tại Nghị định số 92/2010/NĐ – CP ngày 30 tháng 8 năm 2010 của Chính phủ về bảo đảm an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm;
c) Đối với phòng xét nghiệm HIV phải thực hiện đúng quy định tại Thông tư số 15/2013/TT – BYT ngày 24/5/2013 của Bộ Y tế Hướng dẫn bảo đảm chất lượng thực hiện kỹ thuật xét nghiệm HIV;
d) Bảo đảm xử lý rác thải y tế theo quy định của pháp luật;
đ) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
2. Thiết bị y tế:
Có đủ thiết bị xét nghiệm, dụng cụ y tế để thực hiện được ít nhất 01 trong 06 loại xét nghiệm vi sinh, hóa sinh, huyết học, miễn dịch, giải phẫu bệnh, di truyền y học.
3. Nhân sự:
a) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng xét nghiệm phải đáp ứng các điều kiện như sau:
– Là bác sỹ hoặc cử nhân sinh học hoặc cử nhân hóa học hoặc cử nhân hóa sinh hoặc dược sỹ đại học hoặc kỹ thuật viên chuyên ngành xét nghiệm trình độ đại học trở lên có chứng chỉ hành nghề chuyên khoa xét nghiệm;
– Có thời gian làm việc xét nghiệm ít nhất là 54 tháng kể cả thời gian học sau đại học về chuyên khoa xét nghiệm kể từ ngày bắt đầu thực hiện công việc xét nghiệm (xác định từ thời điểm ký kết hợp đồng lao động hoặc có quyết định tuyển dụng) đến ngày được phân công, bổ nhiệm làm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng xét nghiệm;
b) Ngoài người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng xét nghiệm, các đối tượng khác làm việc trong phòng xét nghiệm nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề và chỉ được thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi công việc được phân công. Việc phân công phải phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó.
4. Phạm vi hoạt động chuyên môn:
Chỉ được thực hiện các xét nghiệm phù hợp với thiết bị xét nghiệm hiện có và năng lực thực tế của người hành nghề tại phòng xét nghiệm.

Điều 36. Cơ sở dịch vụ thẩm mỹ:
1. Cơ sở vật chất:
a) Địa điểm cố định, xây dựng chắc chắn, đủ ánh sáng, tách biệt với nơi sinh hoạt gia đình;
b) Cơ sở có diện tích ít nhất là 15 m2;
c) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện vệ sinh khác để phục vụ chăm sóc người đến sử dụng dịch vụ;
2. Thiết bị y tế:
Có đủ dụng cụ, thiết bị y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở đã đăng ký.
3. Nhân sự:
a) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật đối với cơ sở dịch vụ thẩm mỹ: là người làm việc toàn thời gian tại cơ sở dịch vụ thẩm mỹ và phải đáp ứng một trong các điều kiện sau:
– Có chứng chỉ nghề phun, xăm ngoài da được tập huấn kiến thức y khoa về phòng chống bệnh truyền nhiễm hoặc có chứng chỉ bồi dưỡng do Sở y tế cấp. Có thời gian hành nghề phun, xăm từ 36 tháng trở lên.
b) Người hành nghề tại cơ sở dịch vụ thẩm mỹ phải có chứng chỉ hành nghề phun, xăm do cơ sở hợp pháp đào tạo và cấp.
4. Phạm vi hoạt động chuyên môn:
a) Phun xăm môi, mí mắt, cung lông mày, xăm ngoài da.
b) Các dịch vụ thẩm mỹ không xâm lấn trên da, cơ thể, không dùng thuốc
c) Không được làm các dịch vụ xâm lấn (tiêm, chích, châm) trên da, cơ thể, không dùng thuốc hoặc các chất đưa vào da, cơ thể người.
Các kỹ thuật chuyên môn quy định tại Khoản này không được thực hiện tại bất kỳ cơ sở nào không phải là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chuyên khoa đã được cấp giấy phép hoạt động theo quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh và các văn bản hướng dẫn.

Điều 37. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở dịch vụ tiêm (chích), thay băng, đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp
1. Cơ sở vật chất:
a) Địa điểm cố định, xây dựng chắc chắn, đủ ánh sáng, tách biệt với nơi sinh hoạt gia đình;
b) Buồng tiêm chích, thay băng phải có diện tích ít nhất là 10 m2;
c) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện vệ sinh khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
2. Thiết bị y tế:
a) Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở đã đăng ký;
b) Có hộp thuốc chống choáng.
3. Nhân sự:
a) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật đối với cơ sở dịch vụ tiêm (chích), thay băng, đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp phải đáp ứng các điều kiện sau:
– Là người tốt nghiệp trung cấp y trở lên có chứng chỉ hành nghề;
– Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh về tiêm (chích), thay băng, đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp ít nhất là 45 tháng.
b) Ngoài người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật quy định tại Điểm a Khoản này, các đối tượng khác làm việc trong cơ sở nếu có thực hiện việc tiêm (chích), thay băng, đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp thì phải có chứng chỉ hành nghề và chỉ được thực hiện việc tiêm (chích), thay băng, đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp trong phạm vi công việc được phân công. Việc phân công phải phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó.
4. Phạm vi hoạt động chuyên môn:
a) Thực hiện việc tiêm (chích), thay băng theo đơn của bác sỹ;
b) Thực hiện việc đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp;
c) Không truyền dịch; không khám bệnh, chữa bệnh và kê đơn thuốc.
Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của cơ sở dịch vụ tiêm (chích), thay băng, đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp.

Điều 38. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở dịch vụ làm răng giả
1. Cơ sở vật chất:
a) Phòng khám và lắp răng, hàm giả phải có diện tích ít nhất 10 m2;
b) Phòng làm răng, hàm giả phải có diện tích ít nhất 10 m2 hoặc ký hợp đồng với cơ sở làm răng giả khác;
c) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện vệ sinh khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
2. Thiết bị y tế:
Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở đăng ký.
3. Nhân sự:
Người phụ trách cơ sở dịch vụ làm răng giả phải ít nhất là thợ trồng răng (nha công) đã hành nghề từ năm 1980 trở về trước và tại thời điểm đó đã đủ 18 tuổi trở lên, đồng thời phải có giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã và đã được cấp chứng chỉ hành nghề với phạm vi hành nghề là kỹ thuật viên răng giả.
4. Phạm vi hoạt động chuyên môn: Làm răng giả, hàm giả, tháo lắp, cố định;

Điều 39. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà
1. Thiết bị y tế:
Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở dịch vụ đăng ký.
2. Nhân sự:
a) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật đối với cơ sở dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà phải là người tốt nghiệp trung cấp y trở lên có chứng chỉ hành nghề và có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 45 tháng;
b) Ngoài người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà, các đối tượng khác làm việc trong cơ sở dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề và chỉ được thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi công việc được phân công. Việc phân công phải phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó.
3. Phạm vi hoạt động chuyên môn:
a) Chăm sóc sức khỏe tại nhà theo đơn của bác sỹ;
b) Không truyền dịch; không khám bệnh, chữa bệnh và kê đơn thuốc.
c) Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của cơ sở dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà.

Điều 40. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở dịch vụ kính thuốc
1. Cơ sở vật chất:
a) Địa điểm cố định, xây dựng chắc chắn, đủ ánh sáng, tách biệt với nơi sinh hoạt gia đình;
b) Cơ sở có diện tích ít nhất là 15 m2;
c) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện vệ sinh khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
2. Thiết bị y tế:
Có đủ dụng cụ, thiết bị y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở đã đăng ký.
3. Nhân sự:
a) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật đối với cơ sở dịch vụ kính thuốc: là người làm việc toàn thời gian tại cơ sở dịch vụ kính thuốc và phải đáp ứng một trong các điều kiện sau:
– Là bác sỹ đã được cấp chứng chỉ hành nghề với phạm vi hoạt động chuyên môn khám bệnh, chữa bệnh chuyên khoa mắt có thời gian thực hiện đo kiểm, chẩn đoán tật khúc xạ mắt tại cơ sở dịch vụ kính thuốc hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có chuyên khoa mắt ít nhất là 36 tháng.
– Là y sỹ đã được cấp chứng chỉ hành nghề với phạm vi hoạt động chuyên môn khám bệnh, chữa bệnh chuyên khoa mắt có thời gian thực hiện đo kiểm, chẩn đoán tật khúc xạ mắt tại cơ sở dịch vụ kính thuốc hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có chuyên khoa mắt ít nhất là 45 tháng.
– Là người tốt nghiệp trung cấp y chuyên khoa mắt trở lên, có chứng nhận đào tạo đo kiểm, chấn đoán tật khúc xạ mắt tại cơ sở dịch vụ kính thuốc hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có chuyên khoa mắt ít nhất là 45 tháng.
b) Người hành nghề tại cơ sở dịch vụ kính thuốc phải có chứng chỉ hành nghề hoặc chứng chỉ về thiết bị y tế (thiết bị đo kiểm, chẩn đoán tật khúc xạ mắt) do cơ sở được Bộ Y tế chỉ định đào tạo và cấp.
4. Phạm vi hoạt động chuyên môn:
a) Đo tật khúc xạ mắt, tư vấn về việc sử dụng kính;
b) Mài lắp kính thuốc theo đơn của bác sỹ và bảo hành kính thuốc.
Điều 41. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở dịch vụ chăm sóc răng – miệng
1. Cơ sở vật chất:
a) Xây dựng và thiết kế:
– Địa điểm cố định, tách biệt với nơi sinh hoạt gia đình;
– Xây dựng chắc chắn, đủ ánh sáng, có trần chống bụi, tường và nền nhà phải sử dụng các chất liệu dễ tẩy rửa làm vệ sinh;
b) Phòng chăm sóc răng miệng có diện tích ít nhất là 10m2 và nơi đón tiếp người bệnh,
c) Bảo đảm xử lý chất thải y tế theo quy định của pháp luật;
d) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
2. Thiết bị y tế:
a) Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở đăng ký;
b) Có hộp thuốc chống choáng và đủ thuốc cấp cứu chuyên khoa;
3. Nhân sự:
a) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của dịch vụ chăm sóc răng miệng phải là y sỹ răng hàm mặt, y sỹ răng trẻ em, kỹ thuật viên răng hàm mặt trình độ trung cấp trở lên có chứng chỉ hành nghề phù hợp với dịch vụ chăm sóc răng miệng đăng ký và có thời gian thực hiện chăm sóc răng miệng ít nhất là 45 tháng tại chuyên khoa đó;
b) Ngoài người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của Phòng chăm sóc răng miệng, các đối tượng khác làm việc trong cơ sở chăm sóc răng miệng nếu có thực hiện việc chăm sóc răng miệng thì phải có chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với công việc được phân công.
4. Phạm vi hoạt động chuyên môn:
– Trám răng sâu độ 1,2;
– Nhổ răng một chân lung lay
– Lấy cao răng;
– Các kỹ thuật chuyên môn khác do Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt theo quy định tại Thông tư số 43/2013/TT – BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế trên cơ sở năng lực thực tế của người hành nghề và điều kiện thiết bị y tế, cơ sở vật chất của cơ sở dịch vụ chăm sóc răng miệng.

Điều 42. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở dịch vụ cấp cứu, hỗ trợ vận chuyển người bệnh
1. Thiết bị, phương tiện vận chuyển y tế:
a) Có đủ phương tiện vận chuyển, thiết bị, dụng cụ y tế, hộp thuốc chống choáng và đủ thuốc cấp cứu bảo đảm an toàn cho người bệnh;
b) Có đủ phương tiện vận chuyển bảo đảm vệ sinh môi trường khi chuyển người bệnh.
2. Nhân sự:
a) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở dịch vụ cấp cứu, hỗ trợ vận chuyển người bệnh trong nước và ra nước ngoài phải đáp ứng các điều kiện sau:
– Là bác sỹ có chứng chỉ hành nghề;
– Có văn bằng chuyên môn hoặc chứng chỉ hoặc giấy chứng nhận đã được học về chuyên ngành hồi sức cấp cứu;
– Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 54 tháng.
b) Ngoài người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật quy định tại Điểm a Khoản này, các đối tượng khác làm việc trong cơ sở dịch vụ cấp cứu, hỗ trợ vận chuyển người bệnh trong nước và ra nước ngoài nếu có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề và chỉ được thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi công việc được phân công. Việc phân công phải phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đó.
3. Có hợp đồng với công ty dịch vụ hàng không nếu cơ sở đăng ký vận chuyển người bệnh ra nước ngoài.
4. Phạm vi hoạt động chuyên môn:
Cấp cứu, vận chuyển người bệnh trong nước và ra nước ngoài.

Điều 43. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với trạm xá, trạm y tế cấp xã
1. Cơ sở vật chất:
a) Bảo đảm thiết kế theo quy định tại Quyết định số 2271/2002/QĐ – BYT ngày 17 tháng 6 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành Tiêu chuẩn thiết kế Trạm y tế cơ sở – Tiêu chuẩn ngành;
b) Bảo đảm các điều kiện về quản lý chất thải y tế, phòng cháy chữa cháy theo quy định của pháp luật;
c) Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
2. Thiết bị y tế:
Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn được Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt.
3. Tổ chức, nhân sự:
a) Người chịu trách nhiệm chuyên môn phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
– Là bác sỹ, y sỹ có chứng chỉ hành nghề.
– Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 54 tháng.
b) Số lượng người hành nghề thuộc trạm y tế cấp xã phải đáp ứng điều kiện quy định tại Mục IV của Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT – BYT – BNV ngày 05 tháng 6 năm 2007 của liên bộ: Bộ Y tế – Bộ Nội vụ hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế nhà nước.
c) Đối với bác sỹ về công tác tại các trạm y tế xã thuộc các vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn mà chưa có chứng chỉ hành nghề thì được khám, kê đơn, điều trị các bệnh thông thường theo phân công nhiệm vụ bằng văn bản của Giám đốc Trung tâm y tế huyện và chịu trách nhiệm trước pháp luật về sự phân công này.
4. Phạm vi hoạt động chuyên môn:
a) Trạm xá, trạm y tế cấp xã thực hiện kỹ thuật chuyên môn theo danh mục kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành và được Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt;
b) Nhân viên y tế thôn, bản thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu theo sự phân công và chỉ đạo về chuyên môn của Trưởng Trạm y tế xã.

Điều 44. Cơ sở y tế của cơ quan, đơn vị, tổ chức
1. Cơ quan, đơn vị, tổ chức có thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh thì phải thực hiện theo một trong các hình thức tổ chức quy định tại Điều 24, 25 và 36 Nghị định này.
2. Đối với các cơ sở y tế thực hiện việc khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật về dự phòng, phòng, chống ma túy, mại dâm và HIV/AIDS:
a) Nếu đã hoạt động trước ngày 01/01/2012 thì ngoài việc đáp ứng các điều kiện của pháp luật chuyên ngành, còn phải đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Điều 25 Nghị định này chậm nhất đến ngày 01/01/2016;
b) Nếu thành lập sau ngày 01/01/2012 thì phải đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Điều 25 Nghị định này để được cấp giấy phép hoạt động.

Điều 45. Nội dung biển hiệu của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Nội dung biển hiệu của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải đảm bảo các thông tin cơ bản sau đây:
1. Tên của cơ sở: Ghi đầy đủ tên của cơ sở, số giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh, họ và tên của người đứng đầu hoặc người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở.
2. Địa chỉ: ghi đầy đủ địa chỉ của cơ sở được ghi trong giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh; Số điện thoại.
3. Phạm vi hoạt động chuyên môn: Ghi phạm vi hành nghề chính được ghi trong giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh.
4. Thời gian làm việc.

Mục 2
THẨM QUYỀN, HỒ SƠ, THỦ TỤC CẤP, CẤP LẠI, ĐIỀU CHỈNH GIẤY PHÉP HOẠT ĐỘNG ĐỐI VỚI CƠ SỞ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH

Điều 46. Thẩm quyền cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
1. Bộ trưởng Bộ Y tế, Giám đốc Sở Y tế tỉnh cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 45 Luật khám bệnh, chữa bệnh.
2. Bộ trưởng Bộ Y tế phân cấp cho Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt một số nội dung liên quan đến hoạt động của bệnh viện tư nhân, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc các bộ, ngành khác đã được Bộ trưởng Bộ Y tế cấp giấy phép hoạt động và phải báo cáo bằng văn bản cho Bộ Y tế ngay sau khi cho phép, cụ thể như sau:
a) Thẩm định, cho phép bằng văn bản việc thay đổi quy mô giường bệnh, cơ cấu tổ chức (thành lập thêm hoặc giải thể các khoa, phòng), bổ sung, điều chỉnh danh mục kỹ thuật theo quy định;
b) Cho phép bằng văn bản việc thay đổi trưởng khoa, người hành nghề;

Điều 47. Hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định tại Khoản 1 Điều 46 Luật khám bệnh, chữa bệnh, cụ thể như sau:
a) Đơn đề nghị cấp giấy phép hoạt động theo mẫu quy định tại Phụ lục 15 ban hành kèm theo Nghị định này;
b) Bản sao có chứng thực quyết định thành lập đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của nhà nước hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân hoặc giấy chứng nhận đầu tư đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có vốn đầu tư nước ngoài;
c) Giấy xác nhận quá trình thực hành của người chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
d) Bản sao có chứng thực chứng chỉ hành nghề của tất cả người hành nghề và danh sách người đăng ký hành nghề của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo mẫu quy định tại Phụ lục 8 ban hành kèm theo Nghị định này; Giấy xác nhận quá trình thực hành của người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của bệnh viện;
đ) Bản kê khai cơ sở vật chất, thiết bị y tế, của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo mẫu quy định tại Phụ lục 16 ban hành kèm theo Nghị định này;
e) Hồ sơ nhân sự của người làm việc chuyên môn y tế tại cơ sở nhưng không thuộc diện phải cấp chứng chỉ hành nghề;
f) Tài liệu chứng minh cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đáp ứng điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị y tế, tổ chức nhân sự phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn của một trong các hình thức tổ chức quy định tại Mục 1 Chương III Nghị định này;
g) Điều lệ tổ chức và hoạt động đối với bệnh viện Nhà nước thực hiện theo mẫu quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế; đối với bệnh viện tư nhân thực hiện theo mẫu quy định tại Phụ lục 17 ban hành kèm theo Nghị định này và phương án hoạt động ban đầu đối với bệnh viện;
h) Bản sao có chứng thực hợp đồng với công ty dịch vụ hàng không để vận chuyển người bệnh đối với cơ sở dịch vụ cấp cứu, hỗ trợ vận chuyển người bệnh ra nước ngoài;
i) Bản sao có chứng thực hợp đồng vận chuyển người bệnh đối với bệnh viện không có phương tiện vận chuyển cấp cứu;
k) Dự kiến phạm vi hoạt động chuyên môn: Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đề xuất phạm vi hoạt động chuyên môn, danh mục kỹ thuật dự kiến thực hiện trên cơ sở danh mục kỹ thuật chuyên môn do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành.
2. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi thay đổi hình thức tổ chức, chia tách, hợp nhất, sáp nhập thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều này.
3. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi thay đổi địa điểm thực hiện theo quy định tại Điểm b, d, e, g và h Khoản 1 Điều này kèm theo đơn đề nghị theo mẫu quy định tại Phụ lục 18 ban hành kèm theo Nghị định này.
4. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi thay đổi tên cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì thực hiện theo quy định tại Điểm b, e, g và h Khoản 1 Điều này kèm theo đơn đề nghị theo mẫu quy định tại Phụ lục 19 ban hành kèm theo Nghị định này.
5. Hồ sơ đề nghị điều chỉnh nội dung giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi thay đổi quy mô giường bệnh hoặc cơ cấu tổ chức hoặc phạm vi hoạt động chuyên môn thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 46 Luật khám bệnh, chữa bệnh bao gồm bản kê khai cơ sở vật chất, thiết bị y tế và hồ sơ nhân sự tương ứng với quy mô hoặc phạm vi hoạt động chuyên môn dự kiến điều chỉnh kèm theo đơn đề nghị theo mẫu quy định tại Phụ lục 21 ban hành kèm theo Nghị định này.
6. Hồ sơ đề nghị cấp lại giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bị mất hoặc hư hỏng hoặc bị thu hồi theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 48 Luật khám bệnh, chữa bệnh bao gồm bản gốc giấy phép bị hư hỏng (nếu có) kèm theo đơn đề nghị theo mẫu quy định tại Phụ lục 20 ban hành kèm theo Nghị định này.
7. Hồ sơ đề nghị thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh:
a) Công văn đề nghị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
b) Quyết định bãi nhiệm người chịu trách nhiệm chuyên môn trước đây của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
c) Quyết định bổ nhiệm người chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
d) Bản sao có chứng thực chứng chỉ hành nghề của người được bổ nhiệm chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
đ) Hợp đồng lao động hoặc quyết định tuyển dụng của người được bổ nhiệm chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
e) Giấy xác nhận thời gian thực hành hoặc tài liệu chứng minh người được bổ nhiệm có đủ thời gian hành nghề để là người chịu trách nhiệm chuyên môn;
g) Bản gốc Giấy phép hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.”

Điều 48. Thủ tục cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1. Hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định tại Điều 45 Nghị định này được gửi như sau:
a) Đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quy định tại Khoản 1 Điều 45 Luật khám bệnh, chữa bệnh, nộp 01 bộ hồ sơ đến Cục Quản lý khám, chữa bệnh – Bộ Y tế, Đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh y học cổ truyền nộp 01 bộ hồ sơ đến Cục Quản lý Y, dược cổ truyền – Bộ Y tế, trừ các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 44 Nghị định này; Cục Quản lý môi trường y tế – Bộ Y tế tiếp nhận hồ sơ đăng ký đủ điều kiện khám bệnh nghề nghiệp của cơ sở y tế trực thuộc Bộ Y tế, các Bộ, ngành và cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam;
b) Đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quy định tại Khoản 2 Điều 45 Luật khám bệnh, chữa bệnh và các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 38 Nghị định này: nộp 01 bộ hồ sơ đến Sở Y tế;
2. Trình tự xem xét việc đề nghị cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh:
a) Sau khi nhận được hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, Bộ Y tế hoặc Sở Y tế tỉnh (sau đây gọi tắt là cơ quan tiếp nhận hồ sơ) gửi cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đề nghị cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Phiếu tiếp nhận hồ sơ theo mẫu quy định tại Phụ lục 22ban hành kèm theo Nghị định này;
b) Trong thời gian quy định tại các Điểm b, c Khoản 1 Điều 47 Luật khám bệnh, chữa bệnh, kể từ ngày ghi trên Phiếu tiếp nhận hồ sơ, nếu không có yêu cầu bổ sung thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ phải xem xét để cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; nếu không cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, cho phép thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do;
c) Trường hợp hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chưa hợp lệ thì trong thời gian 10 ngày làm việc, kể từ ngày ghi trên Phiếu tiếp nhận hồ sơ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ phải có văn bản thông báo cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đề nghị cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, xin phép thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để hoàn chỉnh hồ sơ. Văn bản thông báo phải nêu cụ thể là bổ sung những tài liệu nào, nội dung nào cần sửa đổi;
d) Khi nhận được văn bản yêu cầu hoàn chỉnh hồ sơ, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đề nghị cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải bổ sung, sửa đổi theo đúng những nội dung đã được ghi trong văn bản và gửi về cơ quan tiếp nhận hồ sơ. Ngày tiếp nhận hồ sơ bổ sung, sửa đổi được ghi trên Phiếu tiếp nhận hồ sơ. Sau 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung, sửa đổi, nếu cơ quan tiếp nhận hồ sơ không có văn bản yêu cầu sửa đổi, bổ sung thì phải cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong thời gian quy định tại các Điểm b, c Khoản 1 Điều 47 Luật khám bệnh, chữa bệnh; nếu không cấp, cấp lại thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do;
đ) Trường hợp cơ sở đề nghị cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã bổ sung, sửa đổi hồ sơ nhưng không đúng với yêu cầu thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ sẽ thông báo cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đề nghị cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để tiếp tục hoàn chỉnh hồ sơ theo quy định tại Điểm c, d Khoản 2 Điều này.
3. Giấy phép hoạt động do Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế tỉnh cấp theo mẫu quy định tại Phụ lục 23 ban hành kèm theo Nghị định này.

Mục 3
TỔ CHỨC VIỆC CẤP, CẤP LẠI VÀ ĐIỀU CHỈNH GIẤY PHÉP
HOẠT ĐỘNG ĐỐI VỚI CƠ SỞ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH

Điều 49. Tổ chức thẩm định để cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1. Bộ trưởng Bộ Y tế thành lập đoàn thẩm định để cấp, điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc Bộ Y tế, bệnh viện tư nhân hoặc thuộc các bộ, ngành khác với các thành phần như sau:
a) Đại diện lãnh đạo Cục Quản lý khám, chữa bệnh làm Trưởng đoàn;
Đại diện lãnh đạo Cục Quản lý y, dược cổ truyền làm Trưởng đoàn đối với trường hợp thẩm định cơ sở khám bệnh, chữa bệnh y học cổ truyền;
b) Đại diện lãnh đạo Vụ Pháp chế làm Phó trưởng đoàn;
c) Đại diện Vụ Trang thiết bị và công trình y tế;
d) Đại diện Sở Y tế tỉnh nơi có cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đóng trên địa bàn được giao quản lý;
đ) Đại diện chuyên gia y tế của bệnh viện khác có chuyên khoa phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đề nghị cấp giấy phép hoạt động đăng ký;
e) Các thành phần liên quan khác nếu cần (đại diện cơ quan quản lý y tế của bộ, ngành đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc bộ, ngành khác);
g) Chuyên viên Cục Quản lý khám, chữa bệnh hoặc chuyên viên Vụ Y dược cổ truyền (đối với trường hợp thẩm định cơ sở khám bệnh, chữa bệnh y học cổ truyền) làm Thư ký đoàn thẩm định.
2. Giám đốc Sở Y tế tỉnh thành lập đoàn thẩm định để cấp, điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trừ trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này như sau:
a) Đại diện lãnh đạo Sở Y tế tỉnh hoặc đại diện đơn vị thường trực Đoàn thẩm định quy định tại Khoản 3 Điều này làm Trưởng đoàn;
b) Đại diện lãnh đạo Phòng Quản lý hành nghề hoặc Phòng Nghiệp vụ y (đối với các Sở Y tế tỉnh chưa thành lập Phòng Quản lý hành nghề) làm Phó trưởng đoàn;
c) Đại diện Phòng Nghiệp vụ y (đối với các Sở Y tế tỉnh đã thành lập Phòng Quản lý hành nghề);
d) Đại diện Phòng Tổ chức cán bộ (đối với trường hợp thẩm định cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước);
đ) Đại diện của bệnh viện có chuyên khoa phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đề nghị cấp giấy phép hoạt động đăng ký (nếu cần);
e) Các thành phần liên quan khác nếu cần (đại diện cơ quan quản lý y tế bộ, ngành đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc bộ, ngành khác);
g) Chuyên viên Phòng Quản lý hành nghề hoặc Phòng Nghiệp vụ y (đối với các Sở Y tế tỉnh chưa thành lập Phòng Quản lý hành nghề) làm Thư ký đoàn thẩm định.
3. Thường trực Đoàn thẩm định quy định tại Khoản 1 Điều này đặt tại Cục Quản lý khám, chữa bệnh – Bộ Y tế, đối với y học cổ truyền đặt tại Cục Quản lý y, dược cổ truyền. Thường trực Đoàn thẩm định quy định tại Khoản 2 Điều này đặt tại Phòng Quản lý hành nghề hoặc Phòng Nghiệp vụ y (đối với các Sở Y tế tỉnh chưa thành lập Phòng Quản lý hành nghề) – Sở Y tế.

Điều 50. Quy trình thẩm định cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1. Quy trình thẩm định cấp, điều chỉnh giấy phép hoạt động bao gồm:
a) Thẩm định hồ sơ pháp lý; kiểm tra các điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị, dụng cụ y tế, tổ chức nhân sự của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; thẩm định phạm vi hoạt động chuyên môn;
b) Lập biên bản thẩm định theo mẫu quy định tại Phụ lục 24 ban hành kèm theo Nghị định này;
c) Biên bản thẩm định các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ trưởng Bộ Y tế được làm thành 03 bản: 01 bản lưu tại Bộ Y tế, 01 bản lưu tại Sở Y tế tỉnh nơi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đặt trụ sở, 01 bản lưu tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thẩm định;
d) Biên bản thẩm định các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý của Giám đốc Sở Y tế tỉnh được làm thành 02 bản: 01 bản lưu tại Sở Y tế tỉnh, 01 bản lưu tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thẩm định.
2. Quy trình thẩm định cấp lại giấy phép hoạt động bao gồm:
a) Kiểm tra hồ sơ thẩm định đã cấp giấy phép hoạt động trước đó lưu tại Bộ Y tế hoặc Sở Y tế tỉnh hoặc giấy phép hoạt động bị hư hỏng (nếu có);
b) Cấp lại giấy phép hoạt động theo mẫu quy định tại Phụ lục 23 ban hành kèm theo Nghị định này.
3. Quản lý giấy phép hoạt động:
a) Mỗi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chỉ được cấp một giấy phép hoạt động;
b) Bản sao giấy phép hoạt động và hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại giấy phép hoạt động được lưu tại cơ quan cấp giấy phép hoạt động;
c) Sau khi cấp giấy phép hoạt động cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh:
– Bộ Y tế phải gửi văn bản thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Sở Y tế tỉnh nơi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được cấp giấy phép hoạt động đặt trụ sở trong thời gian không quá 30 ngày kể từ ngày cấp, cấp lại, điều chỉnh hoặc thu hồi giấy phép hoạt động;
– Sở Y tế tỉnh phải gửi văn bản thông báo cho Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được cấp giấy phép hoạt động đặt trụ sở trong thời gian không quá 30 ngày kể từ ngày cấp, cấp lại, điều chỉnh hoặc thu hồi giấy phép hoạt động.

Chương VI
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 51. Điều khoản chuyển tiếp
1. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân đã được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề y tư nhân theo quy định của Pháp lệnh Hành nghề y, dược tư nhân có giá trị sử dụng đến hoặc sau ngày 31 tháng 12 năm 2010 thì được tiếp tục hoạt động khám bệnh, chữa bệnh cho tới khi được cấp giấy phép hoạt động theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh trước ngày 31 tháng 12 năm 2012.
2. Người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh tư nhân đã được cấp chứng chỉ hành nghề để làm người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân theo quy định của Pháp lệnh Hành nghề y, dược tư nhân có giá trị sử dụng đến hoặc sau ngày 31 tháng 12 năm 2010 thì được tiếp tục hành nghề khám bệnh, chữa bệnh cho tới khi được cấp chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh trước ngày 31 tháng 12 năm 2012.
3. Người đang hành nghề khám bệnh, chữa bệnh tư nhân theo quy định của Pháp lệnh Hành nghề y, dược tư nhân thì được tiếp tục hành nghề cho tới khi được cấp chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh trước ngày 31 tháng 12 năm 2012.

Điều 52. Hiệu lực thi hành
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016.
2. Nghị định này bãi bỏ Điều 3 và Điều 4 của Nghị định số 87/2011/NĐ-CP ngày 27 tháng 9 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi một số điều của Luật khám bệnh, chữa bệnh.

Điều 53. Trách nhiệm thi hành
1. Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có trách nhiệm hướng dẫn thực hiện Nghị định này.
2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG

>> Dự thảo Nghị định và Phụ lục

Download

CÙNG DANH MỤC

33 comments

  • Kính gửi Bộ trưởng Bộ y tế. Cục khám chữa bệnh.      Chúng tôi là những cử nhân kỹ thuật hình ảnh y học,tốt nghiệp đại học  tại trường Đại học YD TP HCM,cũng như các cử nhân xét nghiêm,cử nhân điều dưỡng,cử nhân VLTL,cử nhân hộ sinh v.v…         Chúng tôi thấy bức xúc và thiệt thòi khi thông tư 41 của bộ y tế ra đời.Trong khi tất cả cử nhân các nghành đêù được đứng tên chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật,được mở phòng mạch tư,chúng tôi thì không được.Thông tư 41 ra đời đã cắt mất đường sống của chúng tôi,không cho chúng tôi làm thêm như các nghành khác.Thật là bất công!Cùng học một trường,thời gian học như nhau,cùng tốt nghiệp đại học,chúng tôi cũng phải nổ lực để học tập, để vươn lên, mong muốn có cuộc sống tốt hơn.           Chúng tôi là những người thấp cổ bé họng!bị thiệt thòi nhưng không biết kêu với ai để đòi lại công bằng cho mình.          Chúng tôi chỉ muốn bộ y tế cho chúng tôi được đứng tên phòng x quang qui ước,chụp x quang thường qui,chụp phim răng thông thường .Chứ không đòi hỏi cao cấp hơn như MRI,CT,DSA.Trong khi các phòng  nha không có chứng chỉ chuyên môn gì về x quang cũng được chụp x quang răng!          Chúng tôi đề nghị Bộ y tế nên cho chúng tôi được đứng tên chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuât của một phòng x quang qui ước thông thường(không có CT,MRI,DSA.v.v…)          Bộ y tế nên xem xét sửa đổi để trả lại sự công bằng cho chúng tôi,Những cử nhân kỹ thuật hình ảnh ĐẠI HỌC!          Chúng tôi kính mong những lời đề nghị của chúng tôi được Bộ trưởng ,Cục trưởng lắng nghe và thấu hiểu.
              
              

  • Kính thưa lãnh đạo BYT
    Hiện nay Bs chẩn đoán hình ảnh chỉ tập trung ở các bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh. Các bệnh viện tuyến huyện và bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh hầu như không có, chủ yếu là kỹ thuật viên và cử nhân kỹ thuật hình ảnh. Các bệnh viện nào may mắn có cử nhân kỹ thuật hình ảnh thì chụp và đọc phim đều do cử nhân kỹ thuật hình ảnh phụ trách.
    Vì vậy đề nghị điều 34 phần nhân lực bổ sung thêm cử nhân kỹ thuật hình ảnh ( tốt nghiệp đại học) có thời gian trực tiếp khám chữa bệnh về X quang ít nhất là 54 tháng chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật phòng X quang. Để các bệnh viện tuyến huyện và bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh đủ điều kiện xin cấp phép
    Trân trọng kính chào!

  • Kính gởi Bộ y TếKính gởi Cục khám chữa bệnh.- Tốt nghiệp trình độ Đại học như nhau , trong khi đó hệ XN , NHS lại được đứng tên chịu trách nhiệm kỹ thuật tại phòng khám chuyên khoa của mình , còn hệ kỹ thuật hình ảnh lại không được đứng tên tại phòng chụp X quang . Rất mong quí cấp trên xem xét lại cho hệ kỹ thuật hình ảnh được đứng tên chịu trách nhiệm kỹ thuật tại phòng chụp X quang. Xin chân thành biết ơn .

  • kính thưa bộ trưởng bộ y tếcục quản lý khám chữa bệnhchúng tôi là cử nhân xquang tốt nghiệp đại học hiện đang công tác khoa CDHA bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi xin kiến nghịcử nhận xquang tốt nghiệp đại học được mô tả hình ảnh không kết luận chẩn đoán , chúng tôi xin MÔ PHỎNG CHỤP X QUANG chỉ mô tả hình ảnh không kết luận chẩn đoán.Chúng tôi nhất trí với ý kiến của các bạn, các ngành như chúng tôi thì được đứng tên mở phòng xnghiem ,hộ sinh,  điều dưỡng , phục hồi c năng…Chúng tôi thành thật cảm ơn quý cấp quang tâm đến hệ x quang

  • Kính thưa:-Bộ trưởng bộ Y Tế.                -Cục quản lý khám chữa bệnh.Chúng tôi là cử nhân Hình ảnh y học, tốt nghiệp Đại Học, đang công tác tại khoa chẩn đoán hình ảnh bệnh viện ĐK Quảng Ngãi.Chúng tôi xin kiến nghị.Nhất trí ý kiến các bạn đồng nghiệpCho chúng tôi đứng tên PHÒNG CHỤP X QUANG chỉ mô tả hình ảnh không kết luận chẩn đoán theo thông tư số 41 sửa đổi.Chúng tôi mong quí cấp quan tâm hệ hình ảnh học, công bằng như các hệ khác,chúng tôi chân thành cảm ơn

  • Kính thưa bộ trưởng y tếcục quản lý khám chữa bệnhChúng tôi là cử nhân x quang tốt nghiệp đại học đang công tác khoa CDHA BVĐK Q NGÃIChúng tôi nhất trí ý kiến với các đồng nghiệpChúng tôi xin quý cấp quan tâm đến hệ kỹ thuật hình ảnh học chúng tôi, cho chúng tôi được đứng tên phòng chụp XQUANG, công bằng với các hệ khácChúng tôi chân thành cảm ơn

  • Kính thưa quý vị quan chức BYTTheo nội dung của tt41 qua các lần sửa đổi.Là một người công tác trong ngành 32 năm và đã được cấp giấy phép chịu trách nhiệm về hoạt động chụp xquang thường quy đã được 24 năm.Bản thân chỉ xin phép quý vị nên xem xét lại cho phù hợp với tình hình xã hội hiện nay Bác sỹ chẩn đoán hình ảnh đã đào tạo đủ chưa cho các tuyến Huyện, vùng sâu vùng xa mà quy định quá khắt khe đối với Cử nhân Xquang.Hơn nữa họ đã công tác bao nhiêu năm trong môi trường độc hại đền đáp lại họ được gì điều này là một sự không không bằng về mặt chuyên môn, kinh tế, xã hội và tính nhân văn của một thông tư có tầm ảnh hưởng lớn do BYT soạn thảo.Theo bản thân tôi nghĩ có thể tạo điều kiện cho các Cử nhân Xquang được phép đứng tên phòng chụp ở các Tỉnh và Huyện còn Thành phố lớn ( Hà Nội, TPHCM, ĐÀ NẴNG) hiện nay họ không cạnh tranh nổi với BS Chẩn đoán hình ảnh đâu nên Qúy vị nên cho họ lối thoát.  Do đó, tôi xin phép đề nghị quí vị quan chức BYT nên xem xét sửa đổi Điều 34 phần 3 mục a như sau :
    a) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám chẩn đoán hình ảnh phải là bác sỹ có chứng chỉ hành nghề và có thời gian trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh về chẩn đoán hình ảnh ít nhất là 54 tháng;
    Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám chẩn đoán hình ảnh XQuang là bác sỹ hoặc cử nhân đại học có chứng chỉ hành nghề và có thời gian trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh về Xquang ít nhất là 54 tháng;
    Cử nhân X.Quang (tốt nghiệp đại học) được đọc và mô tả hình ảnh chẩn đoán nhưng không được kết luận chẩn đoán.
    Nếu được như vậy thì những người cử nhân x quang mới có hứng thú, đam mê với công việc và tận tụy hy sinh cho nghề nghiệp của mình, tạo ra môi trường làm ăn, sinh sống công bằng giửa các ngành nghề với nhau. Đồng thời như thế cũng giúp cho hoạt động y tế phát triển hơn cả về lượng lẫn về chất. Tôi xin chân thành cám ơn sự lắng nghe của Qúy vị. Trân trọng cám ơn…

    • Kính thưa lãnh đạo BYT
      Hiện nay Bs chẩn đoán hình ảnh chỉ tập trung ở các bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh. Các bệnh viện tuyến huyện và bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh hầu như không có, chủ yếu là kỹ thuật viên và cử nhân kỹ thuật hình ảnh. Các bệnh viện nào may mắn có cử nhân kỹ thuật hình ảnh thì chụp và đọc phim đều do cử nhân kỹ thuật hình ảnh phụ trách.
      Vì vậy đề nghị điều 34 phần nhân lực bổ sung thêm cử nhân kỹ thuật hình ảnh ( tốt nghiệp đại học) có thời gian trực tiếp khám chữa bệnh về X quang ít nhất là 54 tháng chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật phòng X quang. Để các bệnh viện tuyến huyện và bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh đủ điều kiện xin cấp phép
      Trân trọng kính chào!

    • Kính thưa lãnh đạo BYT : Hiện nay các Bs Chẩn đoán hình ảnh chủ yếu ở tuyến trung ương và tuyến tỉnh, các bệnh viện huyện và bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh hầu như không có, phòng XQ chủ yếu là kỹ thuật viên và cử nhân kỹ thuật hình ảnh. Các bệnh viện may mắm có cử nhân thì tất cả từ chụp và đọc phim XQ đều do cử nhân kỹ thuật hình ảnh phụ trách.
       Vì vậy trong điều 34 phần nhân sự đề nghị thêm cử nhân XQ tốt nghiệp đại học có thời gian trực tiếp khám chữa bệnh về X quang ít nhất là 54 tháng chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật phòng X quang. Để cho các bệnh viện huyện và các bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh đủ điều kiện xin phép hoạt động
      Trân trọng kính chào!

  • Tại các bệnh viện vùng sâu vùng xa thiếu BS chẩn đoán hình ảnh, rất đồng ý cho Cử Nhân X quang mô tả tổn thương.. Nhưng sẽ rất hợp lý hơn, thấu tình đạt lý hơn khi cho anh em Cử Nhân X quang ( trên 54 tháng kinh nghiệm )  được chịu trách nhiệm nhân sự về chuyên môn, được mở phòng chụp  x quang ( không có CT, MRI ) …Hãy cho anh em con đường sống…Rất cám ơn quý vị.Khi thiếu BS, lại thuê BS đứng phòng chụp X quang thì chi phí tăng, không có cách nào khác là tăng giá chụp film…chỉ tội cho bệnh nhân.
    Trong phụ lục 5 , phạm vi hoạt động chuyên môn của CỬ NHÂN ĐẠI HỌC XÉT NGHIỆM thì có rõ ràng…còn CỬ NHÂN ĐẠI HỌC X QUANG thì sao không thấy ? rất buồn tủi….Hãy tạo điều kiện cho anh em đam mê học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn……
    Một lần nữa rất cám ơn quý vị đã lắng nghe! ( Xin tạo điều kiện tốt nhất cho anh em trong ngành sống, đam mê, cống hiến và lo cho gia đình )

  • Kính gửi quí vị quan chức BYT.

    Theo nội dung của tt41/byt qua các lần sửa đổi và ban hành. Là một người công tác trong ngành y tế đã lâu. Tôi xin trình bài ý kiến về một sự bất công và bất hợp lý của tt41 như sau :

    Trong khi ở tất cả các ngành khác ( sãn, xét nghiệm ..v..v.. ) khi thành lập phòng khám thì ở phần nhân sự qui định là : người chịu trách nhiệm là bác sĩ hoặc cử nhân đại học có quá trình trực tiếp khám chữa bệnh 54 tháng trở lên. Vậy tại sao tại điều 34 phần 3 mục a lại không cho phép cử nhân x quang đại học được chịu trách nhiệm đứng tên xin phép hoạt động cho phòng chụp x quang. Ở đây tôi chỉ đề cập đến riêng việc xin phép hoạt động cho phòng x quang thôi, không bao gồm cả cụm chẩn đoán hình ảnh ( CT, MRI, …)

    Xét về mặt chuyên môn, kinh tế, xã hội… thì điều nầy là một sự không công bằng và cũng không thấu tình, đạt lý của một thông tư có tầm ảnh hưởng lớn của BYT.

    – Thứ nhất là nó chặn đứng sự đầu tư phát triển của cái gọi là xã hội hóa y tế. Vì một bộ phận không nhỏ các cử nhân chẩn đoán hình ảnh không thể mở phòng x quang để tự mình hoạt động kinh doanh. một số lượng không nhỏ các phòng khám sẽ thiếu ngừoi chịu trách nhiệm đứng tên phòng x quang, từ đó gây khó khăn cho việc đầu tư phát triển y tế tư nhân.

    – Thứ hai là nó kiềm hảm sự hy sinh cũng như sự đam mê học hỏi và phát triển của những giới cử nhân x quang.

    – Thứ ba là việc mở một phòng x quang riêng biệt hay ở trong một phòng khám đa khoa thì nói chung là một công việc không gây nguy hiểm đến tính mạng của bệnh nhân hơn so với các nghành khác ( Xét nghiệm, Hộ sinh ……).

    Do đó, tôi xin phép đề nghị quí vị quan chức BYT nên xem xét sửa đổi Điều 34 phần 3 mục a như sau :

    a) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám chẩn đoán hình ảnh phải là bác sỹ có chứng chỉ hành nghề và có thời gian trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh về chẩn đoán hình ảnh ít nhất là 54 tháng;
    Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám chẩn đoán hình ảnh XQuang là bác sỹ hoặc cử nhân đại học có chứng chỉ hành nghề và có thời gian trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh về Xquang ít nhất là 54 tháng;
    Cử nhân X.Quang (tốt nghiệp đại học) được đọc và mô tả hình ảnh chẩn đoán nhưng không được kết luận chẩn đoán.

    Nếu được như vậy thì những người cử nhân x quang mới có hứng thú, đam mê với công việc và tận tụy hy sinh cho nghề nghiệp của mình, tạo ra môi trường làm ăn, sinh sống công bằng giửa các ngành nghề với nhau. Đồng thời như thế cũng giúp cho hoạt động y tế phát triển hơn cả về lượng lẫn về chất.

    Chân thành cảm ơn sự lắng nghe của quí vị.

  • THƯ KIẾN NGHỊ

    Kính gửi:
    – Văn phòng chính phủ.
    – Bộ trưởng – Bộ y tế
    – Ông Cục trưởng cục quản lý khám chữa bệnh – Bộ y tế.!!

    Tôi tên : ĐẶNG VĂN BỀN;
    – Sinh năm 1965.
    – Trình độ chuyên môn: Cử nhân Xquang (tốt nghiệp đại học năm 2004).
    – Hiện đang công tác tại khoa Chẩn đoán hình ảnh, Trung tâm y tế thị xã Long mỹ. Hậu giang.
    Qua tham khảo thông tư 41/2015 sửa đổi, dự thảo nghị định hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.Tôi xin kiến nghị một số ý kiến như sau:
    Ngành Y tế nước ta hiện nay còn thiếu rất nhiều Bác sĩ chuyên về chẩn đoán hình ảnh,nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao..! Ở tuyến huyện thậm chí còn không có Cử nhân chuyên về hình ảnh y học. Bệnh viện tuyến huyện chủ yếu chỉ chụp Xquang thường quy (Xquang quy ước) , thường do các Cử nhân Xquang đảm nhiệm. Ở Điều 34;khoản 3; mục a trong nghị định có ghi:
    Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng chẩn đoán hình ảnh phải là Bác sĩ (phạm vi hoạt động chuyên môn gồm chẩn đoán XQ, chụp cắt lớp, cộng hưởng từ, siêu âm, nội soi). Điều này là hợp lý.

    Còn: Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng khám chẩn đoán hình ảnh XQUANG (XQUANG QUY ƯỚC)
    LÀ BÁC SĨ. Điều này là bất cập và thừa so với điều trên. Vì một CỬ NHÂN XQUANG (tốt nghiệp đại học) cũng có đủ khả năng chịu trách nhiệm về chuyên môn kỹ thuật của một phòng XQUANG QUY ƯỚC, vì chủ yếu là thực hiện các kỹ thuật chụp theo yêu cầu của các phòng khám ngoài giờ trong vùng.
    Do đó, xin kiến nghị với Cục Quản lý khám chữa bệnh; Bộ trưởng Bộ y tế cùng Văn phòng chính phủ sửa đổi điều này như sau:
    Cử nhân Xquang (tốt nghiệp đại học) chỉ làm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng chẩn đoán hình ảnh Xquang quy ước. Không làm cắt lớp, cộng hưởng từ, siêu âm, nội soi.
    Điều này cũng không nằm ngoài nội dung của Thông tư 43/2013 về phân tuyến kỹ thuật mà Bộ Y tế đã ban hành.
    Rất mong Cục quản lý khám chữa bệnh; Bộ trưởng Bộ y tế cùng Văn phòng chính phủ xem xét thấu đáo, để sửa đổi Nghị định theo tinh thần trên, để đảm bảo tính công bằng, dân chủ trong lãnh vực hành nghề y tế giữa công lập và tư nhân.

    Trân trọng kính chào !

  • Thưa quý ngài ! Phòng khám chuyên khoa chẩn đoán hình ảnh là phòng khám bao gồm: Phòng chụp X Quang thông thường, phòng chụp CT scanner, phòng chụp MRI, phòng Siêu âm … Các phòng này hoàn toàn riêng biệt và vận hành thiết bị máy móc, phương pháp làm các kỹ thuật cũng khác nhau. Cử nhân X Quang tốt nghiệp đại học chỉ xin được phép đứng tên hành nghề phòng chụp X Quang thông thường mà thôi.Cần nói thêm rằng : Cử nhân Xét Nghiệm, Cử nhân Hộ Sinh … đều được cho phép đứng tên hành nghề các phòng Xét Nghiệm, nhà Hộ Sinh…thì tại sao Cử nhân X Quang không được đứng tên hành nghề phòng chụp X Quang thông thường ? Thưa quý ngài học đại học chuyên ngành kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh mà không được đứng phép một phòng chụp X Quang thông thường thì … quả thật là vô lý quá ?!? Mong quý ngài đừng để chúng tôi bức xúc thêm nữa. Qúy ngài hãy làm một việc gì đó hữu ích đúng với chương trình đào tạo chúng tôi để tạo điều kiện chúng tôi an tâm công tác với ngành nghề độc hại và là nhân tố kích thích để ngành Chẩn đoán hình ảnh nước nhà ngày càng phát triển và vươn xa hơn nữa. Thành thật cám ơn quý ngài !

    • Võ văn Lợi
      Thư Kiến Nghị
      Kính gởi: văn Phòng Chính Phủ
      Bổ Trưởng Bộ Y Tế
      cục Trửong Cục quản lý KCB
      Tôi tên: Võ Văn Lợi công tác khoa CĐHA,Bệnh Viện ĐKTV
      Bản thân tôi rất đồng tình với ý kiến của bạn Phạm Văn Mẫn, Nguyễn văn Liêm và Đặng Văn Bền xin có vài ý kiến bổ sung sau:
      Về việc BS định hướng CĐHA không có kiến thức sâu về kỷ thuạt XQuang về an toàn bức xạ về cả kinh nghịêm XQuang mà lại được phép đứng tên cho phòng XQuangngoài giờ

      là điều bất hợp lý và không công bằng vì muốn tạo ra được tấm phim Xquang hoàn chỉnh và có độ chính xác cao thì người kỷ thuật Xquang phải biết chụp chính xác và biết môb tả được hình ảnh
      Kính đề nghị: nên sửa đổi hợp lý cử nhân CĐHA chuyên sâu về Xquang được phép đứng tên phòng XQuang ngoài giờ ( Có chức năng chụp XQuang qui ước) và đươc mô tả hinh ảnh

  • Kính thưa:-Bộ trưởng bộ Y Tế.
    -Cục quản lý khám chữa bệnh.
    Chúng tôi là cử nhân Hình ảnh y học, tốt nghiệp Đại Học, đang công tác tại khoa chẩn đoán hình ảnh bệnh viện ĐK Quảng Ngãi.
    Chúng tôi xin kiến nghị.
    Nhất trí ý kiến các bạn đồng nghiệp
    Cho chúng tôi đứng tên PHÒNG CHỤP X QUANG chỉ mô tả hình ảnh không kết luận chẩn đoán theo thông tư số 41 sửa đổi.
    Chúng tôi mong quí cấp quan tâm hệ hình ảnh học, công bằng như các hệ khác,chúng tôi chân thành cảm ơn

  • Kính thưa:-Bộ trưởng bộ Y Tế.
    -Cục quản lý khám chữa bệnh.
    Chúng tôi là cử nhân Hình ảnh y học, tốt nghiệp Đại Học, đang công tác tại khoa chẩn đoán hình ảnh bệnh viện ĐK Quảng Ngãi.
    Chúng tôi xin kiến nghị.
    Nhất trí ý kiến các bạn đồng nghiệp
    Cho chúng tôi đứng tên PHÒNG CHỤP X QUANG chỉ mô tả hình ảnh không kết luận chẩn đoán theo thông tư số 41 sửa đổi.
    Chúng tôi mong quí cấp quan tâm hệ hình ảnh học, công bằng như các hệ khác,chúng tôi chân thành cảm ơn.

  • Qua đọc điều 34 dự thảo Nghị định của Chính phủ Hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.Tôi xin có một số ý kiến sau mong cục và bộ y tế xem xét: Dự thảo qui định cử nhân xquang ( đại học ) không được đứng tên phòng khám chẩn đoán hình ảnh, không được kết luận chẩn đoán, chỉ được mô tả hình ảnh. Xét thấy tình hình thực tế trừ các thành phố lớn, tuyến trung ương, tuyến tỉnh còn ở các tuyến huyện của các vùng đồng bằng, đặc biệt vùng sâu vùng xa cử nhân xquang cũng không có huấn chi là bác sỹ chẩn đoán hình ảnh.Lâu nay ở các tuyến này các cử nhân và kỹ thuật viên đảm nhiệm tất cả các công việc xquang trong các bệnh viện công, vừa làm kỹ thuật vừa có hướng chẩn đoán cho bác sỹ lâm sàng để xem xét và chẩn đoán bệnh và điều trị cho bệnh nhân.Đối với y tế tư nhân các cử nhân đại học xquang được đứng tên mở phòng chụp xquang thông thường ( không làm kỹ thuật đặc biệt có dùng thuốc đối quang ). Từ khi có qui định mới ra đời gây rất nhiều khó khăn lúng túng cho các bệnh viện tuyến huyện vì chỉ mô tả hình ảnh mà hình ảnh xquang thì chồng chéo nhiều hình ảnh và hình ảnh giả tạo khác nữa mà bác sỹ lâm sàng mấy ai nắm được vật lý xquang và nguyên lý tạo ảnh xquang để chẩn đoán bệnh.Còn với y tế tư nhân các phòng xquang tư nhân mà mấy anh em cử nhân đại học mở ra trước đây để giúp các phòng khám tư nhân có cơ sở góp phần chẩn đoán và có thêm thu nhập cho bản thân phải đóng cửa hết máy móc trang thiết bị đành phải bỏ không hặc bán phế liệu cả. một số ít thì phải thuê bằng của bác sỹ để đứng tên.Nên tôi xin góp ý cho dự thảo là nên cho Cử nhân xquang hệ đại học được đứng tên phòng chụp xquang thông thường không có CT, MRI, không chụp kỹ thuật đặc biệt có dùng thuốc đối quang, và được mô tả hình ảnh xquang và sơ bộ định hướng cho chẩn đoán để từ đó bác sỹ lâm sàng có cơ sở cho làm thêm các xét nghiệm khác hoặc dựa vào khai thác lâm sàng mà kết luận chẩn đoán cho chính xác.Rất mong quí cấp quan tâm xem xét cho.

  • Kính gửi: – Ban soạn thảo Nghị định.Rất buồn cho chúng tôi là những Cử nhân CĐHA, cũng tốt nghiệp PTTH hệ chính quy (không BTVH) đã chọn cho mình một nghành nghề tự cho là cao đẹp để phục vụ nhân dân, nhưng chỉ được học đến Cử nhân ĐH (Bộ Y tế và Nhà nước không mở cho chúng tôi con đường để phấn đấu theo tinh thần câu nói của LÊNIN “Học, học nữa, học mãi”).Sau 36 năm miệt mài làm việc trong đó 24 năm vừa làm chuyên môn vừa làm quản lý khoa, nay đến ngày về hưu phải từ bỏ kinh nghiệm chuyên môn ngần ấy năm tích lũy, không được tham gia công việc y tế tư nhân làm việc và tạo thêm thu nhập cho bản thân ngoài đồng lương hưu.Tôi thiết nghĩ, Bộ y tế và chính phủ nên cho chúng tôi được mở phòng chụp X quang như Cử nhân các ngành khác như Xét nghiệm, nhà hộ sinh, phòng răng… vì X quang tạo hình chẩn đoán không can thiệp thì không nguy hiểm cho tính mạng bệnh nhân như các ngành nêu trên, với tinh thần thông tư 41 và dự thảo nghị định này, Cử nhân ĐH mô tả hình ảnh không kết luận chẩn đoán. Kết luận chẩn đoán là của BS lâm sàng dựa trên mô tả X quang và các xét nghiệm khác kể cả các kỹ thuật cao cộng với kết quả khám lâm sàng đúng với tinh thần chúng tôi hiểu và làm, một vài phim X quang không thể kết luận được bệnh.Kính mong được sự quan tâm của Bộ và Chính phủ khi ra nghị định với những ý kiến trên diễn đàn này. Xim cám ơn.

  • Y sĩ y học cổ truyền hệ trung cấp thì được đứng tên cơ sở, tại sao cử nhân vật lý trị liệu hệ cao đẳng kinh nghiệm làm việc trên 30 năm mà vẫn không có qui định được đứng tên cho cơ sở phục hồi chức năng là sao??? Riêng cơ sở phục hồi chức năng chỉ đề cấp đến cử nhân đại học, BS và kỷ thuật viên, còn cử nhân cao đẳng tại sao không có quyền hạn gì và không được đề cấp đến. Họ bị bỏ rơi ngoài XH sao???

  • Kính gửi: -Ban soạn thảo nghị định.- Cùng các bạn Cử nhân CĐHA.Buồn, nhưng cũng còn 1 chút vui và hảnh diện. Xin kể cùng Ban soạn thảo và các Cử nhân. Sự đời nghĩ cũng nực cười, không biết ở các tỉnh bạn có không chứ ở nơi mình thì đã và đang xãy ra, sự việc là chúng ta không được đọc kết quả X quang, không được ký tên ( BHYT xuất toán), nhưng lại được hướng dẫn ( dạy ??? ) các BS ở các huyện về học đọc phim để tuân thủ luật pháp cụ thể là thông tư 41-2011 và 41-2015. Thôi thì, cũng còn một chút vui vui an ủi với đời, xin kể.

  • Kính gửi: – Ngài Thủ tướng Chinh phủ.                – Bà Bộ trưởng Bộ Y tế.                – Ban soạn thảo nghị định.                – Cùng toàn thể các Giao sư. Bác sĩ và các đồng nghiệp chuyên nghành CĐHA.
    Tôi tên là Nguyễn Văn Chu, Cử nhân CĐHA, công tác tại khoa CĐHA Bệnh viện ĐK tỉnh Quảng Ngãi, chức vụ hiện tại: Phó trưởng khoa, Phụ trách khoa.Tôi xin trình bày cùng quý cấp như sau: – Năm 1980, tôi tốt nghiệp KTV trung cấp X quang về công tác tạ BV tỉnh Quảng Ngãi, trong khoa có 4 KTV sơ cấp cùng 1 KTV trung cấp về cùng khóa với tôi, tổng cọng có 6 KTV đẫ phải đảm nhận tất cả các công việc từ chụp phim, đọc phim của đơn vị, nhưng công việc nặng nhọc và trách nhiệm nặng nề nhất là soi chiếu X quang (vì lúc đó phim rất hiếm) chúng tôi 2 KTV trung cấp vẫn hoàn thành.- Năm 1992, tôi tốt nghiệp Cử nhân Đại học, BGĐ bệnh viện cử tôi Phụ trách khoa và chúng tôi cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn của khoa.- Trong thời gian học trung cấp và đại học, tôi đều có học học phần bệnh học và chẩn đoán X quang.- Trong thời gian công tác 36 năm qua, trong chuyên môn thế nào cũng có sai sót nhưng chưa bao giờ xãy ra nghiêm trọng ảnh hưởng đến điều trị và tính mạng bệnh nhân.- Theo tôi thiết nghĩ, điều 34 của  nghị định nên cho Cử nhân đại học được mở phòng chụp X quang (không mở phòng CĐHA: có CT Scan, MRI, Siêu âm. Không dùng thuốc cản quang tỉnh mạch, không dùng X quang can thiệp) vì:      + Dùng X quang chẩn đoán không can thiệp thì không nguy hiểm đến tính mạng BN như các phòng khám Xét nghiệm, nhà hộ sinh…     + Cử nhân X Quang, theo thông tư 41-2015 và dự thảo nghị định này quy định CN Đại học được đọc và mô tả hình ảnh, không kết luận chẩn đoán là đúng tinh thần chúng tôi xin được mở phòng chụp X quang. Vì muốn kết luận bệnh cần phải có đầy đủ các yếu tố: Khám Lâm sàng, các xét nghiệm thường quy và chuyên sâu, các kỹ thuật cao……riêng phim x quang thì không thể kết luận chẩn đoán bệnh được.     + Việc được mở phòng chụp X quang sẽ giúp chúng tôi cải thiện đời sống trong điều kiện lương thưởng hiện tại quá thấp, không đảm bảo chi tiêu cho gia đình và cho con cái ăn học. Tạo động lực cho KTV trung cấp và học sinh phổ thông có lý do học nghề này. Riêng bản thân tôi, đã gần đến ngày nghỉ hưu (01.7.2016) có điều kiện tham gia công việc xã hội hóa ngành Y tế phục vụ người  bệnh, tạo thu nhập thêm cho cuộc sống với lương hưu chưa được 4 triệu đồng. Kính mong được sự quan tâm của Quý cấp và ban soạn thảo Nghị định.Xin cảm ơn.

    • Kính gửi Cục quản lý khám chữa bệnh Bộ Y tế
      Tôi xin góp ý dự thảo thông tư này như sau:
      Tại điều 34 tôi hoàn toàn đồng ý với điều kiện cấp phép phòng khám chẩn đoán hình ảnh, tuy nhiên trong điều kiện hiện tại các cơ sở y tế đang rất thiếu bác sỹ chẩn đoán hình ảnh và tại các cơ sở này cũng chỉ có phòng khám x quang để phục vụ công tác chẩn đoán chứ chưa có các phương tiện chẩn đoán kỹ thuật cao như CTscanner, MRI. Thực tế hiện nay, tại các cơ sở này đội ngũ cử nhân tốt nghiệp đại học đang đảm đương công tác đọc phim mô tả hình ảnh và kết hợp với bác sỹ chỉ định để chẩn đoán.
      Vậy tại muc 3, điểm a, điều 34 nên bổ sung như sau:
      Đối với các cơ sở y tế không có bác sỹ chẩn đoán hình ảnh thì cử nhân tốt nghiệp đại học có thời gian làm việc chuyên môn 54 tháng trở lên được chịu trách nhiêm chuyên môn kỹ thuât phòng khám chẩn đoán hình ảnh chỉ có bộ phận x quang.

    • Kính gửi Cục quản lý khám chữa bệnh Bộ Y tếTôi xin góp ý dự thảo thông tư này như sau:Tại điều 34  tôi hoàn toàn đồng ý với điều kiện cấp phép phòng khám chẩn đoán hình ảnh, tuy nhiên trong điều kiện hiện tại các cơ sở y tế đang rất thiếu bác sỹ chẩn đoán hình ảnh và tại các cơ sở này cũng chỉ có phòng khám x quang để phục vụ công tác chẩn đoán chứ  chưa có các phương tiện chẩn đoán kỹ thuật cao như CTscanner, MRI. Thực tế hiện nay, tại các cơ sở này đội ngũ cử nhân tốt nghiệp đại học đang đảm đương công tác đọc phim mô tả hình ảnh và kết hợp với bác sỹ chỉ định để chẩn đoán.Vậy tại muc 3, điểm a, điều 34 nên bổ sung như sau:Đối với các cơ sở y tế không có bác sỹ chẩn đoán hình ảnh thì cử nhân tốt nghiệp đại học có thời gian làm việc chuyên môn 54 tháng trở lên được chịu trách nhiêm chuyên môn kỹ thuât phòng khám chẩn đoán hình ảnh chỉ có bộ phận x quang.

  • Kính thưa các bác lãnh đạo BYT, em xin nêu các ý kiến gửi các bác như sau.1, Vì sao cử nhân XQuang không được đứng tên phòng mạch và đọc kết quả chẩn đoán hình ảnh, trong khi được học hơn 6năm chuyên ngành. Còn cử nhân chính quy hiện đi làm còn rất ít, đa số là thế hệ trung cấp học lên.2, Tại sao các cử nhân của các hệ khác được đứng tên Phòng mạch tư và đọc kết quả chẩn đoán.3, Ở tại các bệnh viện tuyến huyện KTV trung cấp còn thiếu đừng nói đến cử nhân, vậy để giải quyết quá tải bệnh viên ở tuyến tỉnh và trung ương thì quy định Bác sĩ chẩn đoán đọc kết quả có hợp lý chưa.4, Đề nghị các bác ra quyết định hay nghị định thì ra rõ ràng để làm đúng đừng ra lấp lửng tội cho anh em cán bộ ngành y tế. Cảm ơn quý lãnh đạo !

  • Kính gửi:- Bộ y tế
    – Cục khám chữa bệnh.
    Tôi nhất trí với ý kiến của các bạn đồng nghiệp.
    Tôi kính mong quý cấp quan tâm giúp đỡ cho hệ kỹ thuật hình ảnh, được đứng tên PHÒNG CHỤP X-QUANG.
    Tôi xin chân thành cảm ơn quý cấp.

  • Kính gửi:- Bộ y tế              – Cục khám chữa bệnh.Chúng tôi la cư nhân hình ảnh y học, tốt nghiệp Đại học. Đang công tác tại Bệnh viện Đa Khoa Quảng Ngãi.Chúng tôi được phép mô tả hình ảnh, theo thông tư số 41 sữa đối.Chúng tôi xin chân thành cảm ơn.

  • Nguyễn Văn Đông
    Thư Kiến Nghị
    Kính gởi: văn Phòng Chính Phủ
    Bổ Trưởng Bộ Y Tế
    Cục Trửong Cục quản lý KCB
    Tôi tên: Nguyễn Văn Đông công tác tại khoa CĐHA bệnh viện Bạc Liêu.
    Tôi xin có một số nguyện vọng, ý kiến như sau:
    a. Trong NĐ thi hành Luật khám chữa bệnh Muc a, khoản 3, điều 33 nói về nhân sự thì “ người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật phải là bác sĩ chuyên khoa CĐHA và bác sĩ Xquang” còn cử nhân Xquang tốt nghiệp đại học thì không được.
    Trên thực tế dù cho bác sĩ CĐHA, Bác sĩ Xquang có mô tả khối U trên phim hay chẩn đoán K phổi, hay cử nhân Xquang có mô tả khối u, thì làm Xquang cũng như siêu âm, xét nghiệm, điện tim, điện não… cùng góp dữ liệu cho bác sĩ lâm sàn chẩn đoán và điều trị bệnh nhân.
    Trong mục d, khoản 3, điều 33 nói “ Nếu không có bác sĩ CĐHA hay bác sĩ Xquang thì Bác sĩ chỉ định kỹ thuật ( chính là bác sĩ lâm sàn) đọc kết quả”. Thực ra bác sĩ lâm sàn chỉ biết về hình ảnh học trên phương diện trực quang thôi ( hình ảnh bệnh lý điển hình) làm sao tường tận bằng cử nhân Xquang được ( nếu không tin thì quí ngài cứ xuống cơ sở bệnh viện tỉnh hay cơ sở nào bệnh viện huyện nào đó để hỏi).
    b. Anh em cử nhân Xquang ( Tốt nghiệp đại học) không nhiều so với những chuyên môn đại học ngành y, khoản 3 đến 6 người mỗi tỉnh. Trước khi Luật khám chữa bệnh có thì chúng tôi đã được hành nghề và đã trang bị máy móc phòng chụp Xquang, đầu tư vốn quá nhiều, Khi có Luật khám chữa bệnh 2010 anh em chúng tôi không được cấp phép hành nghề từ đó đến nay chúng tôi dở khóc dở cười vì đầu tư quá nhiều nhưng đồng lương thì hạn hẹp và máy móc đã mua sắm chưa thu hồi vốn. chúng tôi mong xin quí Bộ, Ngành xem xét lại và có thể bổ sung thêm Luật cho chúng tôi được hành nghề. Để giảm bớt phần khó khăn trong cuộc sống.
    c. Nếu lập luận trình độ cử nhân đại học của chúng tôi chưa đủ để đứng tên hành nghề thì xin Luật bổ sung cho phép chúng tôi mở phòng chụp Xquang qui ước ngoài giờ với bác sĩ lâm sang.
    Đồng nghiệp tôi có tỉnh có nơi đã thuê được bác sĩ Xquang đứng tên để tồn tại. vô tình gây nên chuyện thuê mướn bằng cấp mà luật thì không cho.
    Riêng còn cử nhân xét nghiệm thì được cấp phép hành nghề họ cùng học cùng trường cùng tốt nghiệp ra trường như chúng tôi mà kẻ được người không.
    Tôi cũng như bao đồng nghiệp khắp nơi trong nước mong muốn được quí lãnh đạo ngành, nhà nước xem xét cho chúng tôi. Để cho chúng tôi an tâm công tác, được cống hiến cho xã hội.

    • Ở bệnh viện đa khoa tỉnh Gia lai,khoa chẩn đoán hình ảnh hiện có: 07 Bs (trong đó có 03 Bs CK1 chẩn đoán hình ảnh,01 Ths CĐHA ) và 04 Cử nhân kỹ thuật hình ảnh.Tôi tốt nghiệp trung cấp y tế TW2 Đà nẵng năm 1985,năm 1996 đến 2000:tốt nghiệp cao đẳng X quang,từ năm 2001-2003: tốt nghiệp cử nhân đại học kỷ thuật hình ảnh tại trường ĐH Y Dược TP HCM.Từ 1985 đến 2003 tôi làm và đọc phim x quang(kể cả bệnh phòng,giám định pháp y,giám định y khoa,bảo vệ sức khỏe tĩnh…)Từ 2003 đến nay tôi chuyển sang vừa làm vừa đọc phim CT.Scanner và cả phim x quang.Trong số các Bs trên chỉ có duy nhất 01 Bs CK1(trước đây là Ýsỉ xquang ) tham gia đọc phim cùng 04 anh em cử nhân đại học mà thôi.Trong quá trình công tác anh em cử nhân chúng tôi luôn hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn,và luôn được đội ngũ lâm sàng tin tưởng,và cũng được cấp bệnh viện ,cấp sở y tế khen thưởng hằng năm(trong lĩnh vực chuyên môn)Ngoài ra hằng năm anh em cử nhân chúng tôi vẫn thường tham gia các lớp đào tạo sau đại học liên tục do trường ĐHY Dược Huế tổ chức(có cấp giấy chứng nhận).Từ lẽ trên tôi thiết nghĩ theo thông tư hướng dẫn bổ sung nghị định 41 bộ YTế đã phê duyệt cho chúng tôi đọc mô tả kết quả xquang thì cũng chấp thuận cho đội ngũ cử nhân chúng tôi được đúng tên phòng chụp x quang đơn thuần là hợp tình hợp lý nhất.Kính mong quý cấp có thẩm quyền nhất là văn phòng quốc hội,bộ Y tế,cục khám chữa bênh tạo điều kiện cho chúng tôi có con đường mưu sinh,để có mưu cầu hạnh phúc!
      Tôi xin chân thành cảm ơn!

  • Ở bệnh viện đa khoa tỉnh Gia lai,khoa chẩn đoán hình ảnh hiện có: 07 Bs (trong đó có 03 Bs CK1 chẩn đoán hình ảnh,01 Ths CĐHA ) và 04 Cử nhân kỹ thuật hình ảnh.Tôi tốt nghiệp trung cấp y tế TW2 Đà nẵng năm 1985,năm 1996 đến 2000:tốt nghiệp cao đẳng X quang,từ năm 2001-2003: tốt nghiệp cử nhân đại học kỷ thuật hình ảnh tại trường ĐH Y Dược TP HCM.Từ 1985 đến 2003 tôi làm và đọc phim x quang(kể cả bệnh phòng,giám định pháp y,giám định y khoa,bảo vệ sức khỏe tĩnh…)Từ 2003 đến nay tôi chuyển sang vừa làm vừa đọc phim CT.Scanner và cả phim x quang.Trong số các Bs trên chỉ có duy nhất 01 Bs CK1(trước đây là Ýsỉ xquang ) tham gia đọc phim cùng 04 anh em cử nhân đại học mà thôi.Trong quá trình công tác anh em cử nhân chúng tôi luôn hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn,và luôn được đội ngũ lâm sàng tin tưởng,và cũng được cấp bệnh viện ,cấp sở y tế khen thưởng hằng năm(trong lĩnh vực chuyên môn)Ngoài ra hằng năm anh em cử nhân chúng tôi vẫn thường tham gia các lớp đào tạo sau đại học liên tục do trường ĐHY Dược Huế tổ chức(có cấp giấy chứng nhận).Từ lẽ trên tôi thiết nghĩ theo thông tư hướng dẫn bổ sung nghị định 41 bộ YTế đã phê duyệt cho chúng tôi đọc mô tả kết quả xquang thì cũng chấp thuận cho đội ngũ cử nhân chúng tôi được đúng tên phòng chụp x quang đơn thuần là hợp tình hợp lý nhất.Kính mong quý cấp có thẩm quyền nhất là văn phòng quốc hội,bộ Y tế,cục khám chữa bênh tạo điều kiện cho chúng tôi có con đường mưu sinh,để có mưu cầu hạnh phúc!
    Tôi xin chân thành cảm ơn!

  • Kính gửi quý Bộ Y TẾ.Theo dự thảo sửa đổi Nghị định cấp chứng chỉ hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám chữa bệnh .Xinh qúy cục khám chữa bệnh cho tôi xin chân thành góp vài ý kiến nhỏ.Ở điều 34 mục 3a.người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của phòng CĐHA.phải là Bs.Tôi xin góp ý kiến là về mặt tin thần phục vụ chúng tôi là đội ngũ làm lâu đời trong nghành XQ..Chúng tôi là người trực tiếp thực hiện kỹ thuật và cống hiến biết bao là sức khỏe cho công cuộc phát triển ngành y tế nước nhà..Là người chịu trực tiếp về độc hại ..Bức xạ Tia x..Nhưng chúng tôi vẫn cố gắn ngày đêm mệt mai đèn sách cố công phấn đấu vì nghề….Nay sao QÚY BỘ Y TẾ  không tạo điều kiện cho chúng tôi được một con đường để phát triển nghề ,.nghành .Mà trái lại….Chúng tôi rất rất buồn về cuộc đời nghề của chúng tôi..Cuối lời tôi xin chúc sức khoẻ QÚY BỘ Y TẾ.Và xin BYT xem xét lai ý kiến của tôi cùng qúy chú bác trong nghành chúng tôi 1con đường phát triển.XIN CHÂN THÀNH CÁM ƠN.

  • Kính gửi Bộ trưởng Bộ y tế Cục khám chữa bệnh. Tôi tốt nghiệp  kỹ sư Công nghệ sinh học năm 2008. Làm xét nghiệm được 06 năm, có tập huấn 03 tháng tại bệnh viên Chợ Rẩy 03 tháng. Nhưng tôi vẫn không được cấp chứng chỉ hành nghề xét nghiệm học theo thông tư 41/2015 của Bộ Y Tế. Theo luật giáo dục năm 2005 ở điều 43, khoản 2, “..Bằng tốt nghiệp đại học của ngành kỹ thuật được gọi là bằng kỹ sư…”. Vậy chúng tôi yêu cầu  Bộ trưởng Bộ y tế và Cục khám chữa bệnh cho chúng tôi được cấp chứng chỉ hành nghề. Trân trọng cảm ơn!

Quản lý hành nghề y

PHIẾU KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CÁC CƠ SỞ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH TƯ NHÂN

Phiếu khảo sát thực trạng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân phục vụ quá trình xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn xếp hạng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân. Ban hành kèm theo công văn số 273/KCB-HN ngày 10 tháng 3 năm 2017 v/v góp ý kiến dự thảo Thông tư hướng dẫn xếp hạng cơ sở KBCB tư nhân