Dự thảo sửa đổi Thông tư 48 về Hướng dẫn chế độ khai báo, thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm

Nhằm cập nhật tình hình bệnh dịch kịp thời, chính xác, Bộ Y tế đang tiến hành sửa đổi bổ sung Thông tư 48 về hướng dẫn chế độ khai báo, thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm

DỰ THẢO THÔNG TƯ
Hướng dẫn chế độ khai báo, thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm

Căn cứ Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm số 03/2007/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 21 tháng 11 năm 2007;
Căn cứ Nghị định số 63/2012/NĐ-CP ngày 31 tháng 8 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế;
Bộ Y tế hướng dẫn chế độ khai báo, thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm như sau:
Chương I
KHAI BÁO DỊCH BỆNH TRUYỀN NHIỄM
Điều 1. Trách nhiệm khai báo dịch bệnh truyền nhiễm
1. Người dân sinh sống trong khu vực được công bố dịch, người mắc bệnh dịch hoặc nghi ngờ mắc bệnh dịch, người phát hiện trường hợp mắc bệnh dịch hoặc nghi ngờ mắc bệnh dịch phải thực hiện việc khai báo dịch cho y tế thôn, bản, trạm y tế xã hoặc cơ quan y tế gần nhất trong vòng 24 giờ kể từ khi phát hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 47 của Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm.
2. Ngay sau khi tiếp nhận thông tin về bệnh dịch từ người dân tại khu vực có dịch, hoặc tự phát hiện các trường hợp mắc bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh dịch các cơ sở y tế phải thực hiện việc phản hồi cho cơ quan y tế dự phòng để điều tra, xác minh tính xác thực của thông tin. Trường hợp xác định thông tin đó là chính xác phải thực hiện việc báo cáo cho Ủy ban nhân dân nơi xảy ra dịch và báo cáo, phản hồi thông tin theo các quy định của Thông tư này.
Chương II
THÔNG TIN, BÁO CÁO BỆNH TRUYỀN NHIỄM
Điều 2. Nguyên tắc thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm
1. Tất cả các cơ sở khám, chữa bệnh của nhà nước, của tư nhân, của các Bộ, ngành; các đơn vị y tế dự phòng đều có trách nhiệm thực hiện thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm theo quy định của Thông tư này.
2. Thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm phải đảm bảo tính đầy đủ, trung thực và kịp thời.
Điều 3. Các trường hợp cần báo cáo
1. Khi phát hiện bệnh nhân mắc bệnh truyền nhiễm: Tất cả các trường hợp đến khám, điều trị nội trú, ngoại trú, được chẩn đoán lâm sàng hoặc xác định của phòng xét nghiệm thuộc danh mục bệnh quy định tại Điều 7 của Thông tư này.
2. Khi phát hiện ổ dịch bệnh truyền nhiễm.
3. Cập nhật hàng ngày tình hình ổ dịch đang hoạt động.
4. Khi ổ dịch bệnh truyền nhiễm chấm dứt hoạt động.
5. Khi triển khai các hoạt động phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm.
6. Khi có yêu cầu báo cáo để phục vụ công tác giám sát, kiểm tra, chỉ đạo phòng chống bệnh truyền nhiễm của cấp trên.
Điều 4. Loại hình và thời gian thực hiện báo cáo
1. Báo cáo nhanh: Gồm báo cáo trường hợp bệnh mắc bệnh truyền nhiễm, báo cáo phát hiện ổ dịch, báo cáo cập nhật tình hình ổ dịch và báo cáo kết thúc vụ dịch. Thời gian hoàn thành đối với từng loại hình báo cáo như sau:
a) Báo cáo trường hợp bệnh: Được yêu cầu thực hiện sớm nhất có thể khi phát hiện trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm, đảm bảo không muộn hơn 24 giờ đối với bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhóm A và 72 giờ đối với một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhóm B.
b) Báo cáo phát hiện ổ dịch: Được thực hiện ngay sau khi phát hiện ổ dịch, đảm bảo không muộn hơn 24 giờ kể từ khi phát hiện ổ dịch.
c) Báo cáo cập nhật tình hình ổ dịch: Được thực hiện hàng ngày sau khi phát hiện ổ dịch hoạt động cho đến khi ổ dịch chấm dứt hoạt động, báo cáo cập nhật tình hình ổ dịch do Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh tổ chỉ đạo thực hiện, đảm bảo hoàn thành vào hệ thống báo cáo trực tuyến của Bộ Y tế trước 09h00 hàng ngày. Số liệu báo cáo được tính từ 00h00 đến 24h00 của ngày hôm trước.
d) Báo cáo kết thúc ổ dịch: Được thực hiện sau khi ổ dịch chấm dứt hoạt động theo quy định trong hướng dẫn giám sát của Bộ Y tế, đảm bảo không muộn hơn 24 giờ kể từ khi ổ dịch chấm dứt hoạt động.
2. Báo cáo đột xuất: Là báo cáo bệnh truyền nhiễm khi có yêu cầu của cơ quan cấp trên để đáp ứng công việc đột xuất. Nội dung và thời gian báo cáo được thực hiện theo yêu cầu của từng công việc cụ thể.
3. Báo cáo định kỳ: Gồm có báo cáo tuần, báo cáo tháng và báo cáo năm. Thời gian hoàn thành đối với từng loại hình báo cáo như sau:
a) Báo cáo tuần: Tuyến xã hoàn thành trước 09h00 ngày thứ Ba, tuyến huyện hoàn thành trước 11h00 ngày thứ Tư, tuyến tỉnh hoàn thành trước 14h00 ngày thứ Tư, tuyến Viện hoàn thành trước 16h00 ngày thứ Tư của tuần sau.
b) Báo cáo tháng: Tuyến xã hoàn thành trước 16h00 ngày 09, tuyến huyện hoàn thành trước 16h00 ngày 10, tuyến tỉnh hoàn thành trước 16h00 ngày 11, tuyển Viện xác hoàn thành 16h00 ngày 12 của tháng sau. Trong trường hợp ngày báo cáo rơi vào ngày lễ, ngày nghỉ thì thời điểm báo cáo lùi vào ngày đi làm kế tiếp.
c) Báo cáo năm: Tuyến xã hoàn thành trước 16h00 ngày 09, tuyến huyện hoàn thành trước 16h00 ngày 10, tuyến tỉnh hoàn trước 16h00 ngày 11, tuyển Viện hoàn thành trước 16h00 ngày 12 của tháng 1 năm sau. Trong trường hợp ngày báo cáo rơi vào ngày lễ, ngày nghỉ thì thời điểm báo cáo lùi vào ngày đi làm kế tiếp.
Điều 5. Hình thức báo cáo
1. Hình thức trực tuyến: Áp dụng cho báo cáo trường hợp bệnh, báo cáo ổ dịch, báo cáo kết thúc vụ dịch, báo cáo tuần, báo cáo tháng thực hiện báo cáo trực tiếp vào hệ thống báo cáo trực tuyến của Bộ Y tế. Trong trường hợp bất khả kháng không thể thực hiện báo cáo trực tiếp vào hệ thống báo cáo trực tuyến thì các đơn vị có thể thực hiện báo cáo bằng văn bản hoặc các hình thức khác như fax, thư điện tử, điện tín, điện thoại…
2. Hình thức bằng văn bản: Áp dụng cho báo cáo đột xuất và báo cáo năm.
Điều 6. Nội dung và biểu mẫu báo cáo
1. Báo cáo trường hợp bệnh: Nội dung báo cáo là thông tin về từng trường hợp bệnh nhân mắc bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhóm A hoặc một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhóm B đã được chẩn đoán lâm sàng hoặc xác định của phòng xét nghiệm. Nội dung báo cáo chi tiết được quy định tại Biểu mẫu 1 ban hành kèm theo Thông tư này.
2. Báo cáo phát hiện ổ dịch: Nội dung báo cáo phát hiện ổ dịch được quy định tại Biểu mẫu 2 ban hành kèm theo Thông tư này.
3. Báo cáo cập nhật tình hình ổ dịch: Nội dung báo cáo phát hiện ổ dịch được quy định tại Biểu mẫu 3 ban hành kèm theo Thông tư này.
4. Báo cáo kết thúc vụ dịch: Nội dung báo cáo kết thúc vụ dịch được quy định tại Biểu mẫu 4 ban hành kèm theo Thông tư này.
5. Báo cáo đột xuất: Nội dung báo cáo đột xuất thực hiện theo yêu cầu của cơ quan cấp trên theo từng công việc cụ thể.
6. Báo cáo tuần: Nội dung là các hoạt động phòng chống dịch được thực hiện trong tuần. Nội dung chi tiết báo cáo tuần được quy định tại Biểu mẫu 5 ban hành kèm theo Thông tư này. Số liệu báo cáo tuần được tính trong 7 ngày, từ 00h00 ngày thứ Hai đến 24h00 ngày Chủ nhật của tuần báo cáo.
7. Báo cáo tháng: Nội dung báo cáo bao gồm tổng số mắc, tử vong một số bệnh truyền nhiễm nhóm B gồm cả các trường hợp có chẩn đoán lầm sàng và các trường hợp được xác định của phòng xét nghiệm. Nội dung chi tiết báo cáo tháng quy định tại Biểu mẫu 6 ban hành kèm theo Thông tư này. Số liệu báo cáo tháng được tính từ 00h00 ngày đầu tiên đến 24h00 ngày cuối cùng của tháng báo cáo.
8. Báo cáo năm: Nội dung báo cáo năm bao gồm tình hình bệnh truyền nhiễm và các hoạt động phòng chống dịch trong năm. Nội dung chi tiết báo cáo năm được quy định tại Biểu mẫu 7 và Biểu mẫu 8 ban hành kèm theo Thông tư này. Số liệu báo cáo năm được tính từ 00h00 ngày đầu tiên đến 24h00 ngày cuối cùng của năm báo cáo.
Điều 7. Danh mục bệnh cần báo cáo
1. Danh mục bệnh truyền nhiễm cần báo cáo gồm những bệnh cần báo cáo thông tin chi tiết cho từng trường hợp bệnh nhân và những bệnh chỉ báo cáo tổng số mắc và tử vong, được phân làm 3 loại như sau:
a) Những bệnh cần báo cáo trong vòng 24 giờ: Gồm các truyền nhiễm nguy hiểm nhóm A và một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhóm B (danh mục chi tiết tại Phụ lục 1). Ngay sau khi phát hiện, các cơ sở y tế cần báo cáo thông tin chi tiết từng trường hợp bệnh nhân vào hệ thống báo cáo của Bộ Y tế, đảm bảo không muộn hơn 24 giờ.
b) Những bệnh cần báo cáo trong vòng 72 giờ: Gồm một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhóm B (danh mục chi tiết tại Phụ lục 1). Khi phát hiện các trường hợp bệnh nhân thuộc danh mục này, trong vòng 72 giờ, các cơ sở y tế phải hoàn thành báo cáo thông tin chi tiết từng trường hợp bệnh nhân vào hệ thống báo cáo của Bộ Y tế.
c) Những bệnh báo cáo tổng số mắc, chết theo tháng: Gồm các bệnh truyền nhiễm còn lại trong nhóm B (danh mục chi tiết tại Phụ lục 1).
2. Trong những thời điểm cụ thể, để phù hợp tình hình dịch bệnh, danh mục này có thể thay đổi theo thông báo của Bộ Y tế.
Điều 8. Cập nhật thông tin báo cáo
1. Ngay sau khi bệnh nhân có thay đổi chẩn đoán hoặc có chẩn đoán xác định phòng xét nghiệm hoặc khi bệnh nhân ra viện hay tử vong các đơn vị thực hiện báo cáo cần thực hiện ngay việc cập nhật thông tin của trường hợp bệnh nhân đó, đảm bảo không muộn hơn 24 giờ.
2. Các trường hợp có xét nghiệm âm tính sẽ được loại ra khỏi danh sách báo cáo hoặc điều chỉnh lại chẩn đoán cho phù hợp với kết quả xét nghiệm.
3. Hàng năm Viện Vệ sinh dịch tễ/Pasteur/Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng chỉ đạo các Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh rà soát chốt số liệu báo cáo theo thông tin cập nhật đến cuối năm của các đơn vị.
Điều 9. Trách nhiệm và quy trình báo cáo của cơ sở khám, chữa bệnh
1. Loại báo cáo có trách nhiệm thực hiện: Báo cáo trường hợp bệnh và báo cáo tháng.
2. Quy trình báo cáo:
a) Các cơ sở khám, chữa bệnh của nhà nước, của tư nhân, của các Bộ, ngành khi phát hiện trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm có trách nhiệm báo cáo trực tiếp vào hệ thống báo cáo trực tuyến của Bộ Y tế, đảm bảo thời gian quy định tại Điều 4, nội dung quy định tại Điều 6 và danh mục quy định tại Điều 7 của Thông tư này.
b) Trong trường hợp bất khả kháng không thể thực hiện báo cáo trực tuyến thì các đơn vị thực hiện báo cáo bằng văn bản hoặc các hình thức khác, đảm bảo thời gian quy định tại Điều 4, nội dung quy định tại Điều 6 và danh mục quy định tại Điều 7 của Thông tư này cho cơ quan y tế dự phòng, cụ thể như sau:
– Bệnh viện huyện, phòng khám đa khoa, chuyên khoa tư nhân báo cáo cho Trung tâm Y tế huyện/quận/thị xã/thành phố (sau đây gọi chung là Trung tâm Y tế huyện).
– Bệnh viện tuyến tỉnh, bệnh viện hoặc trung tâm y tế thuộc các Bộ, ngành, bệnh viện tư nhân báo cáo cho Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh/thành phố (sau đây gọi chung là Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh), riêng bệnh sốt rét, bệnh do ký sinh trùng, côn trùng báo cáo cho Trung tâm Phòng chống sốt rét tỉnh/thành phố đối với các tỉnh/thành phố đã thành lập Trung tâm này (sau đây gọi chung là Trung tâm Phòng chống sốt rét tỉnh).
– Bệnh viện trung ương báo cáo cho Viện Vệ sinh dịch tễ/Pasteur hoặc Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng phụ trách khu vực (đối với bệnh sốt rét, bệnh do ký sinh trùng, côn trùng).
Điều 10. Trách nhiệm và quy trình báo cáo của các đơn vị y tế cơ quan
1. Loại báo cáo có trách nhiệm thực hiện: Báo cáo trường hợp bệnh và báo cáo tháng.
2. Quy trình báo cáo: Đơn vị y tế tại các công, nông trường, xí nghiệp, nhà máy, cơ quan, doanh nghiệp, trường học khi phát hiện trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm cần thực hiện báo cáo bằng văn bản cho Trạm Y tế sở tại. Các báo cáo phải đảm bảo thời gian quy định tại Điều 4, nội dung quy định tại Điều 6 và danh mục quy định tại Điều 7 của Thông tư này.
Điều 11. Trách nhiệm và quy trình báo cáo của Trạm Y tế và đơn vị y tế dự phòng
1. Trạm Y tế xã/phường/thị trấn (sau đây gọi là Trạm Y tế):
a) Loại báo cáo có trách nhiệm thực hiện: Báo cáo trường hợp bệnh, báo cáo tuần và báo cáo tháng.
b) Quy trình báo cáo: Khi phát hiện các trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm hoặc khi nhận được báo cáo bệnh truyền nhiễm của các đơn vị, cá nhân trên địa bàn, Trạm Y tế có trách nhiệm điều tra, xác minh, sau đó tổng hợp, báo cáo trực tiếp vào hệ thống báo cáo trực tuyến của Bộ Y tế. Trong trường hợp bất khả kháng không thể thực hiện báo cáo trực tuyến, Trạm Y tế thực hiện báo cáo bằng các hình thức khác cho Trung tâm Y tế huyện. Các báo cáo phải đảm bảo thời gian quy định tại Điều 4, nội dung quy định tại Điều 6 và danh mục quy định tại Điều 7 và của Thông tư này.
2. Trung tâm Y tế huyện:
a) Loại báo cáo có trách nhiệm thực hiện: Báo cáo trường hợp bệnh, báo cáo phát hiện ổ dịch, báo cáo kết thúc vụ dịch, báo cáo tuần, báo cáo tháng và báo cáo năm.
b) Quy trình báo cáo: Trung tâm Y tế huyện thực hiện các nội dung báo cáo của đơn vị trực tiếp vào hệ thống báo cáo trực tuyến của Bộ Y tế, đồng thời có trách nhiệm nhập báo cáo của Trạm Y tế hoặc các cơ sở khám, chữa bệnh trên địa bàn huyện vào hệ thống báo cáo trực tuyến khi các đơn vị này không thể thực hiện báo cáo trực tuyến mà phải báo cáo bằng các hình thức khác cho Trung tâm Y tế huyện. Trong trường hợp bất khả kháng không thể thực hiện báo cáo trực tuyến, Trung tâm Y tế huyện thực hiện báo cáo bằng các hình thức khác cho Trung tâm Y tế dự phòng, Trung tâm phòng chống sốt rét tỉnh. Các báo cáo phải đảm bảo thời gian quy định tại Điều 4, nội dung quy định tại Điều 6 và danh mục quy định tại Điều 7 và của Thông tư này.

3. Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế:
Khi phát hiện trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm tại của khẩu, Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế có trách nhiệm báo cáo thông tin về từng trường hợp bệnh nhân trực tiếp vào hệ thống báo cáo trực tuyến của Bộ Y tế. Trong trường hợp bất khả kháng không thể thực hiện báo cáo trực tuyến, Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế thực hiện báo cáo bằng các hình thức khác cho Trung tâm Y tế dự phòng, Trung tâm Phòng chống sốt rét tỉnh. Các báo cáo phải đảm bảo thời gian quy định tại Điều 4, nội dung quy định tại Điều 6 và danh mục quy định tại Điều 7 và của Thông tư này.
4. Trung tâm Y tế dự phòng, Trung tâm phòng chống sốt rét tỉnh:
a) Loại báo cáo phải thực hiện: Báo cáo trường hợp bệnh, báo cáo phát hiện ổ dịch, báo cáo kết thúc vụ dịch, báo cáo tuần, báo cáo tháng và báo cáo năm.
b) Quy trình báo cáo: Trung tâm Y tế dự phòng, Trung tâm phòng chống sốt rét tỉnh thực hiện các nội dung báo cáo của đơn vị trực tiếp vào hệ thống báo cáo trực tuyến của Bộ Y tế, đồng thời có trách nhiệm nhập báo cáo của Trung tâm Y tế huyện, Trung tâm kiểm dịch y tế quốc tế hoặc các cơ sở khám, chữa bệnh trên địa bàn tỉnh vào hệ thống báo cáo trực tuyến khi các đơn vị này không thể thực hiện báo cáo trực tuyến mà phải báo cáo bằng các hình thức khác cho Trung tâm Y tế dự phòng, Trung tâm Phòng chống sốt rét tỉnh. Các báo cáo phải đảm bảo thời gian quy định tại Điều 4, nội dung quy định tại Điều 6 và danh mục quy định tại Điều 7 và của Thông tư này.
5. Viện Vệ sinh dịch tễ/Pasteur/Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng:
a) Loại báo cáo có trách nhiệm thực hiện: Báo cáo trường hợp bệnh, báo cáo phát hiện ổ dịch, báo cáo kết thúc vụ dịch, báo cáo tuần, báo cáo tháng và báo cáo năm.
b) Quy trình báo cáo: Các Viện Viện Vệ sinh dịch tễ/Pasteur/Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng thực hiện các nội dung báo cáo của đơn vị mình trực tiếp vào hệ thống báo cáo trực tuyến của Bộ Y tế, đồng thời có trách nhiệm nhập báo cáo của các cơ sở khám, chữa bệnh tuyến trung ương trên địa bàn vào hệ thống báo cáo trực tuyến khi các đơn vị này không thể thực hiện báo cáo trực tuyến mà phải báo cáo bằng các hình thức khác cho các Viện Vệ sinh dịch tễ/Pasteur/Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng. Các báo cáo phải đảm bảo thời gian quy định tại Điều 4, nội dung quy định tại Điều 6 và danh mục quy định tại Điều 7 và của Thông tư này.

Chương III
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 12. Cục Y tế dự phòng
1. Xây dựng kế hoạch, chỉ đạo toàn bộ các hoạt động về giám sát, khai báo, thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm trên toàn quốc; là cơ quan duy nhất được Bộ trưởng Bộ Y tế ủy quyền thông báo quốc tế về bệnh truyền nhiễm. Nội dung thông báo quốc tế bệnh truyền nhiễm theo Điều lệ Y tế quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
2. Trực tiếp chỉ đạo, tổ chức cho các đơn vị thuộc hệ y tế dự phòng, đơn vị y tế cơ quan thực hiện việc thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm.
3. Phối hợp với Cục Quản lý Khám, chữa bệnh hướng dẫn các cơ sở khám, chữa bệnh của nhà nước, tư nhân và của các Bộ, ngành thực hiện công tác khai báo, thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm.
4. Tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm trên phạm vi cả nước.
5. Thu thập, tổng hợp, phân tích số liệu, báo cáo giám sát, hoạt động phòng chống các bệnh truyền nhiễm trên toàn quốc.
6. Phối hợp chia sẻ thông tin về bệnh dịch với các Bộ, ban, ngành, các cơ quan truyền thông đại chúng và quốc tế.
Điều 13. Cục Quản lý khám, chữa bệnh
1. Làm đầu mối và phối hợp với Cục Y tế dự phòng để chỉ đạo việc thực hiện hoạt động về giám sát và khai báo, thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm tại tất cả các cơ sở khám, chữa bệnh của nhà nước, của tư nhân và của các Bộ, ngành trên toàn quốc.
2. Tổ chức kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện Thông tư này tại tất cả các cơ sở khám, chữa bệnh của nhà nước, của tư nhân và của các Bộ, ngành trên toàn quốc.
3. Thu thập, tổng hợp, phân tích số liệu, báo cáo giám sát, tình hình thu dung, điều trị, phòng lây nhiễm chéo các bệnh truyền nhiễm tại các cơ sở khám chữa bệnh trên phạm vi cả nước.
Điều 14. Vụ Kế hoạch tài chính
1. Đảm bảo kinh phí để các đơn vị thuộc Bộ Y tế triển khai và duy trì thực hiện công tác khai báo, thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm.
Điều 15. Các Viện thuộc hệ y tế dự phòng của Bộ Y tế
1. Thu thập, phân tích, đánh giá, lưu trữ số liệu giám sát các bệnh truyền nhiễm; thực hiện việc khai báo, thông tin, báo cáo và các hoạt động phòng, chống bệnh truyền nhiễm của các đơn vị thuộc khu vực phụ trách.
2. Chỉ đạo chuyên môn, kỹ thuật, tổ chức kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện thông tin, báo cáo tại các đơn vị ở các tuyến thuộc khu vực phụ trách.
3. Phối hợp và chia sẻ thông tin giám sát bệnh truyền nhiễm giữa các Viện thuộc hệ y tế dự phòng.
Điều 16. Sở Y tế, các đơn vị y tế thuộc Sở Y tế
1. Sở Y tế có trách nhiệm chỉ đạo các đơn vị y tế trên địa bàn quản lý thực hiện chế độ thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm theo đúng quy định. Bố trí kinh phí để các đơn vị trực thuộc triển khai và duy trì thực hiện công tác khai báo, thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm.
2. Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh là đầu mối giúp Sở Y tế giám sát, kiểm tra và triển khai thực hiện chế độ khai báo, thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm trên địa bàn tỉnh.
3. Trung tâm Y tế huyện là đầu mối giúp Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh giám sát, kiểm tra và triển khai thực hiện chế độ khai báo, thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm trên địa bàn huyện.
4. Trạm Y tế xã là đầu mối giúp Trung tâm Y tế huyện giám sát, kiểm tra và triển khai thực hiện chế độ thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm trên địa bàn xã.
Điều 17. Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1. Thực hiện chế độ khai báo, thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm theo đúng quy định của Thông tư này.
2. Phối hợp chặt chẽ với các đơn vị y tế dự phòng trong việc điều tra và báo cáo kết quả điều tra trường hợp bệnh; lấy mẫu bệnh phẩm; chia sẻ mẫu bệnh phẩm hoặc chủng tác nhân gây bệnh để chẩn đoán xác định; cung cấp thông tin, hồ sơ có liên quan đến người bệnh (chẩn đoán, điều trị, kết quả xét nghiệm, các yếu tố dịch tễ) và các biện pháp xử lý, phòng chống lây nhiễm đã triển khai tại cơ sở.
3. Bố trí cán bộ, trang thiết bị, kinh phí để thực hiện nhiệm vụ theo dõi, giám sát và khai báo, thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm. Chi trả phụ cấp cho cán bộ có tiếp xúc với bệnh truyền nhiễm theo quy định.
Chương IV
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 18. Hiệu lực thi hành
Thông tư này có hiệu lực từ ngày 15 tháng 01 năm 2015. Thông tư số 48/2010/TT-BYT ngày 31/12/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn chế độ khai báo, thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm hết hiệu lực kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành.
Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, đề nghị phản ánh kịp thời về Bộ Y tế (Cục Y tế dự phòng) để nghiên cứu giải quyết./.

Nơi nhận:
– Văn phòng Chính phủ (Vụ KGVX, Công báo, Cổng TTĐT);
– Bộ Tư pháp (Cục KTVBQPPL);
– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
– UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW;
– Bộ trưởng (để b/c);
– Các Thứ trưởng (để phối hợp chỉ đạo);
– Các Cục, Vụ, VPB, Thanh tra Bộ, Tổng cục thuộc Bộ Y tế;
– Các đơn vị trực thuộc Bộ Y tế;
– Y tế các Bộ, Ngành;
– Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc TW;
– TTYTDP, TTPCSR,TTKDYTQT các tỉnh, tp trực thuộc TW;
– Cổng TTĐT Bộ Y tế;
– Lưu: VT, DP (03b), PC.

CÙNG DANH MỤC

0 comments

Quản lý hành nghề y

PHIẾU KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CÁC CƠ SỞ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH TƯ NHÂN

Phiếu khảo sát thực trạng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân phục vụ quá trình xây dựng dự thảo Thông tư hướng dẫn xếp hạng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân. Ban hành kèm theo công văn số 273/KCB-HN ngày 10 tháng 3 năm 2017 v/v góp ý kiến dự thảo Thông tư hướng dẫn xếp hạng cơ sở KBCB tư nhân